Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN T

THÀNH PHỐ H

Bản án số: 04/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10 - 01 - 2024

Về việc Ly hôn, con chung khi ly hôn

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DA

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, THÀNH PHỐ H

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Mến.

Các Hội thẩm nhân dân:.

Ông Hoàng Đức Cảnh

Ông Phạm Công Hạ

- T ký phiên tòa: Ông Phùng Thế Thành -T ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố H tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 323/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, con chung khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 260/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 15 tháng 12 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 01/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 04 tháng 01 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H; nơi đăng ký hộ khẩu Tòng trú: Tổ dân phố B, thị trấn M, huyện Thủy Nguyên, thành phố H; nơi ở hiện nay: Thôn 15, xã Ngũ Lão, huyện T, thành phố H (Vắng mặt, song có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: A Dương Văn A; Nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn M, huyện Thủy Nguyên, thành phố H. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Chị và A Dương Văn A kết hôn với nhau trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức cưới theo phong tục địa pH và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn M vào ngày 17/6/2013. Sau khi kết hôn vợ chồng về ăn ở tại tổ dân phố B, thị trấn M, huyện T, thành phố H từ đó cho đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn và căng thằng. Nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hoà hợp, A Dương Văn A không tu chí làm ăn ham chơi bời cuộc sống khó khăn nên vợ chồng Tờng xuyên xảy ra cãi mắng, xúc phạm lẫn nhau A Dương Văn A có hành vi đánh đập cho sau mỗi lần hai bên xung đột. Do mâu thuẫn vợ chồng căng thẳng nên chị cùng con đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại thôn 15, xã Ngũ Lão sinh sống từ năm 2018 đến nay vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi không còn quan tâm nhau. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ chị đề nghị được ly hôn A Dương Văn A.

- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Dương Nguyễn A T, sinh ngày 03/7/2013, kể từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay con chung do chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc thời gian gần đây A A về đón con đi cho con nghỉ học gây khó khăn cho cuộc sống của mẹ con chị được, được 04 ngày chị đã đón con về. Nay để giải phóng cho nhau và cũng để ổn định cuộc sống của mẹ con chị, chị H đề nghị Toà án giải quyết cho chị được nuôi con chung.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung để chị và A Dương Văn A tự thoả thuận giao nhận cho nhau không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị và A Dương Văn A không có tài sản chung nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Bị đơn là A Dương Văn A vắng mặt tại phiên tòa. Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về việc kiểm tra giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng đến ngày mở phiên tòa lần thứ hai A Dương Văn A vẫn không có văn bản ghi ý kiến gửi đến Tòa án trình bày về yêu cầu khởi kiện xin ly hôn và con chung khi ly hôn của nguyên đơn chị Nguyễn Thị H.

Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án và tham gia phiên tòa sơ thẩm hôm nay. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Thẩm phán được phân công thụ lý, giải quyết vụ án đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thẩm phán, đã thực hiện đúng và đầy đủ quy định về ra Thông báo thụ lý vụ án, bảo đảm về thời hạn chuẩn bị xét xử, việc lập hồ sơ vụ án, xác định tư cách pháp lý và mối quan hệ giữa những người tham gia tố tụng, việc giao nộp và yêu cầu đương sự giao nộp tài liệu, chứng cứ, xác minh, cấp tống đạt và tổ chức phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải đã đảm bảo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, T ký Tòa án đã đảm bảo tuân theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án, nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định, bị đơn chưa chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 28, Điều 35, điểm a, khoản 1, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Nghị quyết 326//2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Tờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Nguyễn Thị H và đề nghị Hội đồng xét xử: Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn A Dương Văn A; Về con chung: Giao con chung tên Dương Nguyễn A T, sinh ngày 03/7/2013, cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung để chị Nguyễn Thị H và A Dương Văn A tự thoả thuận giao nhận cho nhau không yêu cầu Toà án giải quyết. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H trình bày vợ chồng không có tài sản chung, A Dương Văn A vắng mặt không có quan điểm trình bày về tài sản chung, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này. Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H vắng mặt, song có đơn xin xét xử vắng mặt. Bị đơn A Dương Văn A đã được Tòa án triệu tập hợp lệ song vắng mặt không có lý do. Vì vậy căn cứ điểm a, khoản 1, Điều 39 và khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân

Xét, chị Nguyễn Thị H và A Dương Văn A kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn M, huyện Thủy Nguyên, thành phố H tại Giấy chứng nhận kết hôn số 57/2013, ngày 17 tháng 6 năm 2013 là hôn nhân hợp pháp. Tài liệu, chứng cứ thể hiện: Chị Nguyễn Thị H và A Dương Văn A kết hôn với nhau vào năm 2013 quá trình chung sống vợ chồng hoà thuận đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn và căng thẳng, nguyên nhân do tính tình vợ chồng không hoà hợp, bất đồng quan điểm trong cuộc sống làm ăn kinh tế, vợ chồng nợ nần nên dẫn đến cuộc sống chung Tòng hay xảy ra cãi mắng, xúc phạm lẫn nhau. Do mâu thuẫn nên vợ chồng đã sống ly thân nhau mỗi người một nơi, chị H đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại thôn 15, xã Ngũ Lão, huyện T, thành phố H vợ chồng không còn quan tâm nhau, để giải phóng cho nhau chị H đề nghị được ly hôn A Dương Văn A. Bị đơn A Dương Văn A vắng mặt không có quan điểm trình bày về việc chị H xin ly hôn. Xét, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị H và A Dương Văn A đã tồn tại và kéo dài mặc dù hai bên kết hôn về chung sống với nhau nhưng được một thời gian ngắn đã nảy sinh mâu thuẫn và không thể hàn gắn được. Vì vậy căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn A Dương Văn A.

[3] Về con chung

Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Dương Nguyễn A T, sinh ngày 03/7/2013, kể từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay con chung do chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Nay để giải phóng cho nhau và cũng để ổn định cuộc sống của mẹ con chị, chị H đề nghị Toà án giải quyết cho chị được nuôi con chung. Bị đơn A Dương Văn A vắng mặt không có ý kiến gửi đến Toà án trình bày quan điểm về việc nuôi dưỡng, chăm sóc con chung sau khi ly hôn. Do vậy, Hội đồng xét xử cần giao con chung cho một bên nuôi dưỡng, chăm sóc để ổn định cuộc sống, học tập cũng như tâm lý của con chung chưa thành niên. Tài liệu, chứng cứ thể hiện kể từ khi vợ chồng sống ly thân đến nay chị H nuôi dưỡng, chăm sóc con chung đảm bảo tốt mọi mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con chung chưa thành niên cần tiếp tục giao cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc con chung cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật là phù hợp với quy định tại Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung để chị và A Dương Văn A tự thoả thuận giao nhận cho nhau không yêu cầu Toà án giải quyết.

[4] Về tài sản chung

Chị Nguyễn Thị H trình bày vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn A Dương Văn A chưa có quan điểm trình bày về tài sản chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

[5] Về án phí

Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Tờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Tờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, xử:

Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị H được ly hôn A Dương Văn A.

Về con chung: Giao con chung tên Dương Nguyễn A T, sinh ngày 03/7/2013 cho chị Nguyễn Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi có khả năng lao động hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con chung được quyền thăm nom và chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.

Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung để chị Nguyễn Thị H và A Dương Văn A tự thoả thuận giao nhận cho nhau không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị H trình bày vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bị đơn A Dương Văn A chưa có quan điểm trình bày về tài sản chung, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết trong vụ án này.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nay được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008841, ngày 27 tháng 10 năm 2023, tại Chi cục thi hành án dân sự huyện T, thành phố H. Chị Nguyễn Thị H đã nộp đủ.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nguyễn Thị Lương

Doãn Văn Sáng

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Thị Mến

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND TP H;
  • - VKSND huyện T;
  • - Chi cục THADS huyện T;
  • - UBND TT M, h. Thủy Nguyên;
  • - Lưu: VT; Hồ sơ vụ án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/HNGĐ-ST ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, THÀNH PHỐ H về ly hôn, con chung khi ly hôn

  • Số bản án: 04/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, con chung khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T, THÀNH PHỐ H
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho chị Nguyễn Thị Hương được ly hôn anh Dương Văn Anh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger