Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/HNGĐ-PT

Ngày: 10-01-2024

Về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Tuấn.

Các Thẩm phán:

Bà Đoàn Thị Trang.

Bà Ngô Thị Kim Khánh.

- Thư ký phiên tòa:

Bà Hồ Thị Thu Thảo - Thư ký Tòa án

nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:

Bà Trần Thị Kim Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 84/2023/TLPT-HNGĐ ngày 18 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 2824/2023/HNGĐ-ST ngày 04 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 5381/2023/QĐ-PT ngày 16 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 16355/2023/QĐ-PT ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Lê Hữu Đ, sinh năm 1961; trú tại: Số A đường V, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Phong P và bà Nguyễn Thị M - Cùng là Luật sư Công ty L1 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; địa chỉ: Số C đường H, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Cùng có mặt.

- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Mỹ T, sinh năm 1979; trú tại: T Chung cư V đường N, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Văn L – Luật sư Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H; địa chỉ: Tầng C, Số F đường H, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.

- Người làm chứng:

  • + Bà Vũ Quỳnh Thục N, sinh năm 1991; trú tại: Số D đường L, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
  • + Bà Phạm Trương Trúc G, sinh năm 1987; trú tại: Chung cư H, số I đường L, phường P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
  • + Ông Lê Huỳnh P1, sinh năm 1988; trú tại: Số B đường N, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
  • + Ông Lê Trung H, sinh năm 1960; trú tại: Số B Đường D, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.

- Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Lê Hữu Đ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1] Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

[1.1] Về quan hệ hôn nhân:

Ông Lê Hữu Đbà Nguyễn Thị Mỹ T tự nguyện kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 16/2016 do Ủy ban nhân dân Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 23 tháng 3 năm 2016.

Theo nguyên đơn ông Lê Hữu Đ thì thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng sau đó thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng về quan điểm sống, lối sống nên không thể chia sẻ, chăm sóc lẫn nhau dẫn đến không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân. Ông và bà T không còn chung sống từ tháng 9 năm 2022. Nhận thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông ly hôn bà T để ổn định cuộc sống.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ T thống nhất với lời trình bày của ông Lê Hữu Đ về thời điểm đăng ký kết hôn, quá trình chung sống và mâu thuẫn giữa vợ chồng. Bà đồng ý với yêu cầu ly hôn của ông Đ.

[1.2] Về con chung: Giữa ông Đ và bà T có 01 con chung là trẻ Lê Hữu Minh K, sinh ngày 18 tháng 9 năm 2019.

Nguyên đơn ông Lê Hữu Đ yêu cầu được quyền nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bà T cấp dưỡng cho con; trường hợp bà T tự nguyện cấp dưỡng cho con thì ông không từ chối vì nghĩa vụ nuôi dưỡng con là nghĩa vụ chung. Ông Đ cho rằng ông có đủ điều kiện về thu nhập, sức khỏe, chỗ ở, có kiến thức về y khoa, có tư cách đạo đức và tư tưởng tốt nên là người phù hợp để nuôi con hơn bà T. Bà T không đảm bảo các điều kiện về vật chất, không có nơi cư trú rõ ràng cũng như đạo đức, lối sống và tư tưởng của bà T không tốt. Ông sẽ cho trẻ K đi học tại trường học ở quận B hoặc ở thành phố T hoặc một trường học bất kỳ trong Thành phố Hồ Chí Minh. Việc cho con học trường nào ông sẽ thông báo tên trường, địa chỉ cụ thể cho bà T và Tòa án sau. Một tháng thì bà T sẽ được đến thăm con từ một đến hai lần.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng cho con. Bà T cho rằng ông Đ không có chỗ ở ổn định, không đủ sức khỏe để nuôi con chung. Nếu được nuôi con chung, bà và trẻ K sẽ ở tại căn hộ T Chung cư V, Số A N, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Đ sẽ đến thăm con vào ngày nghỉ cuối tuần, bà sẽ cho con học tại trường quốc tế có địa chỉ tại đường Số A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

[1.3] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự cùng trình bày không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung.

[2] Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 2824/2023/HNGĐ-ST ngày 04 tháng 8 năm 2023, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Hữu Đ và bà Nguyễn Thị Mỹ T thuận tình ly hôn.

Về con chung: Giao con chung là Lê Hữu Minh K, sinh ngày 18 tháng 9 năm 2019 cho bà Nguyễn Thị Mỹ T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Ghi nhận việc bà T không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông Lê Hữu Đ và bà Nguyễn Thị Mỹ T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con chung sau khi ly hôn, nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

[3] Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 10 tháng 8 năm 2023, nguyên đơn ông Lê Hữu Đ có đơn kháng cáo yêu cầu giải quyết lại vụ án theo hướng giao con chung cho ông được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

[4] Tại phiên tòa phúc thẩm:

[4.1] Nguyên đơn ông Lê Hữu Đ xác định giữ nguyên kháng cáo, yêu cầu sửa Bản án sơ thẩm. Nguyên đơn cùng người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Trong khoảng thời gian trẻ K do bà T nuôi dưỡng không có chỗ ở ổn định, thường xuyên thay đổi nơi cư trú, môi trường sống, không được đảm bảo việc học tập, không được chăm sóc tốt về sức khỏe. Bà T không có công việc tạo thu nhập ổn định, không có nhiều thời gian trực tiếp chăm sóc cho trẻ K. Khi nuôi con, bà T không tạo môi trường an toàn cho con, không tạo điều kiện thuận lợi cho ông Đ thăm nom, chăm sóc con. Qua mạng xã hội có thể nhận thấy bà T có những suy nghĩ không tích cực, không phù hợp với môi trường và xã hội hiện nay, bà T cũng không đủ sức khỏe đảm bảo nuôi dưỡng con tốt, phát triển toàn diện về thể chất cũng như tinh thần. Ngược lại, trong khoảng thời gian do ông Đ chăm sóc, trẻ K được giáo dục, vui chơi phù hợp với lứa tuổi, phát triển tốt về thể chất, ổn định về tinh thần. Ông Đ có đủ khả năng tạo ra môi trường sống đầy đủ mọi mặt cho con do ông Đ có thu nhập cao ổn định hàng tháng, có chỗ ở là nhà thuộc sở hữu của ông Đ, có đủ sức khỏe và nhiều kiến thức về y khoa, tâm lý học. Việc ông Đ nuôi dưỡng, chăm sóc con tốt hơn có thể chứng minh qua việc so sánh hai khoảng thời gian con do cha và do mẹ nuôi, hơn nữa, việc giao con chung cho bà T sẽ làm xáo trộn cuộc sống ổn định, bình thường của con chung hiện tại, có thể tác động không tốt đến tâm lý của trẻ. Mặc dù con chung dưới 07 tuổi nhưng việc con chung luôn có ý kiến muốn ở với cha mong Hội đồng xét xử xem xét cân nhắc. Tòa án cấp sơ thẩm nhận định con chung còn nhỏ tuổi cần thiết giao cho mẹ chăm sóc là không thỏa đáng, nhận định mang tính chủ quan, chưa xem xét, đánh giá một cách khách quan tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, trong khi pháp luật chỉ quy định con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi. Do đó, để đảm bảo quyền lợi mọi mặt, đảm bảo duy trì cuộc sống ổn định, bình thường của con chung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm, giao con chung cho ông Đ trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Đ sẵn sàng tạo mọi điều kiện thuận lợi để bà T thực hiện quyền và nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con trên cơ sở đảm bảo thời gian học tập, vui chơi, giải trí và nghỉ ngơi của con.

[4.2] Bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ T không đồng ý với toàn bộ yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn. Bị đơn cùng người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Con chung còn rất nhỏ tuổi, cần tình thương và sự chăm sóc của người mẹ. Ông Đ không có chỗ ở ổn định, không có đủ sức khỏe để có thể chăm sóc, giáo dục con chung còn nhỏ tuổi. Khi ở với ông Đ, con chung không được đi học, không được gặp mẹ nên không thể phát triển một cách toàn diện như lời ông Đ trình bày. Hơn nữa, ông Đ đã lớn tuổi, khoảng cách thế hệ sẽ gây khó khăn trong việc chăm sóc, giáo dục con hiện tại và đến khi con trưởng thành. Ông Đ từng có hành vi không chuẩn mực dẫn đến trường học của trẻ K phải gửi email phản ánh thì không thể có phương pháp giáo dục con phù hợp. Việc ông Đ không cho con đi học, không được tiếp xúc với bạn bè sẽ tác động không tốt đến trẻ, trẻ em được chơi với trẻ em tốt hơn chỉ chơi với cha mẹ đã được nhiều chuyên gia tâm lý nghiên cứu và khẳng định. Ông Đ cam kết đảm bảo cho bà T được thăm nom, chăm sóc con chung nhưng thực tế ông Đ từng ký bản cam kết nhưng không thực hiện đúng, sau đó, mỗi tuần chỉ cho bà T được gặp con rất ít và lấy lí do giành thời gian còn lại để con học, nghỉ ngơi và vui chơi là không thỏa đáng. Ngược lại, bà T có chỗ ở, có thu nhập ổn định, sẵn sàng giành tất cả thời gian cho con, cho con đi học, vui chơi với bạn bè, tôn trọng sở thích của con và đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho ông Đ thăm gặp con, thực hiện nghĩa vụ của người làm cha. Ông Đ cho rằng bản thân có điều kiện và khả năng nuôi con tốt hơn là hoàn toàn không có căn cứ. Hơn nữa, ngoài trẻ K, ông Đ còn có hai người con riêng với người vợ trước, trong khi trẻ K là người con duy nhất của bà. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của ông Đ, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

[4.3] Tại phiên tòa, những người làm chứng do ông Lê Hữu Đ yêu cầu triệu tập đến phiên tòa cùng trình bày: Theo những người làm chứng được biết giữa ông Đ và bà T thì ông Đ là người chăm sóc con, đưa đón con đi học, lo lắng cho con khi con bị thương vào bệnh viện.

[4.4] Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân thủ pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm có nêu: Thẩm phán, các thành viên Hội đồng xét xử, các đương sự trong vụ án đã thực hiện đầy đủ quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Đề xuất đường lối giải quyết vụ án, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến: Tòa án cấp sơ thẩm nhận định con chung còn nhỏ tuổi nên cần sự chăm sóc trực tiếp của người mẹ và giao con chung cho bà T là phù hợp, do đó, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra công khai tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

I. Về thủ tục tố tụng:

Đơn kháng cáo của nguyên đơn làm trong thời hạn luật định, phù hợp với các quy định tại các điều 272, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự là hợp lệ nên được chấp nhận xem xét theo trình tự phúc thẩm.

II. Về nội dung:

Xem xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và phần trình bày của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Hữu Đ và bà Nguyễn Thị Mỹ T tự nguyện kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 16/2016 do Ủy ban nhân dân Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 23 tháng 3 năm 2016 được xác định là hôn nhân hợp pháp. Ông Đ và bà T đã thuận tình ly hôn nên Tòa án cấp sơ thẩm công nhận là có cơ sở.

[2] Về con chung: Ông Đ và bà T có 01 con chung là trẻ Lê Hữu Minh K, sinh ngày 18 tháng 9 năm 2019. Cả ông Đ và bà T đều yêu cầu được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung vì cho rằng bản thân có chỗ ở ổn định, khả năng về kinh tế, có đủ điều khiện khác về thời gian, sức khỏe để chăm sóc con tốt hơn người kia; cam kết đảm bảo quyền của người không trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật vì quyền lợi tốt nhất của cong chung. Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Cả nguyên đơn và bị đơn đều có điều kiện về chỗ ở, thu nhập và các điều kiện vật chất khác đảm bảo việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, cụ thể: Ông Đ nhận lương hưu và lương từ Bệnh viện Q; tiền cho thuê nhà hàng tháng. Bà T có thu nhập từ tiền cho thuê nhà, tiền kinh doanh quán cafe tại Huế.

[2.2] Về quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, thực hiện quyền và nghĩa vụ của cha mẹ đối với con chung và đối với người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung: Trong vụ án này, qua lời trình bày của các bên đương sự thì từ thời điểm phát sinh tranh chấp đến nay, người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung chia thành 02 giai đoạn:

- Giai đoạn 01: Từ ngày 26 tháng 9 năm 2022 đến ngày 26 tháng 4 năm 2023, bà T là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Ngày 22 tháng 9 năm 2022 bà T và ông Đ sống ly thân; đến ngày 26 tháng 9 năm 2022, bà T đưa con chung đến ở cùng tại Chung cư M để chăm sóc, nuôi dưỡng. Trong khoảng thời gian này, các bên có thỏa thuận việc mỗi người nuôi con 03 ngày theo Giấy thỏa thuận ngày 04 tháng 10 năm 2022 (BL 246) và Giấy cam kết (BL 262). Các bên luân phiên đưa đón trẻ K đi học và đưa về nhà chăm sóc, ông Đ được thăm gặp con chung tại Chung cư M và nói chuyện với con qua zalo. Từ ngày 25 tháng 11 năm 2022 đến ngày 02 tháng 02 năm 2023, bà T đưa trẻ K về quê ngoại tại Huế, có thông báo cho ông Đ.

Đến ngày 23 tháng 3 năm 2023, ông Đ không liên lạc được với trẻ K; ngày 26 tháng 4 năm 2023 ông Đ biết việc bà T đổi trường học của con nên tìm đến gặp trẻ K dẫn đến việc giằng co qua lại và cùng về Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T giải quyết.

- Giai đoạn 02: Từ ngày 26 tháng 4 năm 2023 đến nay ông Đ là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Ngày 26 tháng 4 năm 2023, tại Ủy ban nhân dân phường T, ông Đ và bà T thỏa thuận mỗi người chăm sóc con chung 01 tuần, ông Đ là người nuôi dưỡng con chung trước (biên bản làm việc BL 423). Tuy nhiên, ông Đ đã không thực hiện việc giao con chung cho bà T sau 01 tuần như thỏa thuận cho đến nay. Ông Đ cho rằng con chung có nguyện vọng được ở với cha, bà T có hành vi bạo hành con, bà T đã vi phạm thỏa thuận ngày 04 tháng 10 năm 2022.

Trong khoảng thời gian này, bà T nhiều lần liên hệ với ông Đ để đến thăm gặp con: Ngày 01 tháng 6 năm 2023, bà T trình báo Ủy ban nhân dân Phường B, quận B nhờ vận động ông Đ tạo điều kiện cho bà gặp con, Biên bản làm việc cùng ngày (BL 393) ghi nhận ông Đ và trẻ K không thực tế cư trú tại địa chỉ Số A đường V.

Biên bản làm việc ngày 07 tháng 6 năm 2023 tại Ủy ban nhân dân phường A, thành phố T (BL 397) ghi nhận: Bà T phản ánh tình trạng con chung ở với cha không được đảm bảo các quyền lợi cơ bản của trẻ em, bị bạo hành; kết quả xác minh ngày 02 tháng 6 năm 2023 của Ủy ban nhân dân phường A: Trẻ Khôi sinh hoạt bình thường cùng ông Đ tại Căn hộ I chung cư C, phường A.

Biên bản làm việc ngày 16 tháng 6 năm 2023 tại Ủy ban nhân dân Phường B, quận B (BL396) ghi nhận: Ông Đ trình bày không cho con đi học nhưng có mời giáo viên dạy tại nhà; ông Đ đề xuất và bà T đồng ý thời gian bà T gặp con từ 10 giờ đến 12 giờ mỗi thứ 2 hàng tuần tại địa chỉ Số A đường V, Phường B, quận B.

Ngày 11 tháng 7 năm 2023, bà T không được gặp con nên có đơn trình báo đến Ủy ban nhân dân Phường B, quận B (BL 411).

Biên bản làm việc ngày 13 tháng 7 năm 2023 tại Ủy ban nhân dân Phường B, quận B (BL 423): Bà T phản ánh việc không được gặp con, ông Đ vẫn giữ nguyên ý kiến về việc bà T được gặp con từ 10 giờ đến 12 giờ mỗi thứ 2 hàng tuần tại địa chỉ Số A đường V.

[2.3] Tại Biên bản làm việc ngày 14 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, ông Đ thống nhất với trình bày của bà T về việc ngoài trẻ K, ông Đ có hai người con riêng và trẻ K là người con duy nhất của bà T.

[2.4] Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Mặc dù bản án của Tòa án giải quyết tranh chấp về nuôi con chưa có hiệu lực pháp luật, nhưng thực tế trẻ K đã có các khoảng thời gian do ông Đ hoặc bà T trực tiếp nuôi dưỡng. Qua đó, khi thực hiện nghĩa vụ của người trực tiếp nuôi con đối với người không không trực tiếp nuôi con thì ông Đ là người ít có thiện chí hơn khi không thực hiện thỏa thuận mỗi người chăm sóc con 07 ngày lập tại Ủy ban nhân dân phường T. Trong thời gian nuôi con, ông Đ chỉ tạo điều kiện cho bà T thăm con 01 lần mỗi tuần trong thời gian 02 tiếng vào ngày thứ 2 tại nhà Số A đường V là đã hạn chế quyền của người không trực tiếp nuôi con. Ông Đ cũng không có chứng cứ để chứng minh việc bà T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Việc ông Đ cho rằng con chung có nguyện vọng được ở với cha và từ chối giao con cho bà T theo thỏa thuận của các bên là không có cơ sở vì theo quy định của pháp luật, nguyện vọng của con chung trên 07 tuổi mới là nguồn tham khảo trong việc giải quyết tranh chấp về nuôi con, là độ tuổi mà trẻ em có được khả năng nhận thức và đánh giá sự việc ở mức độ nhất định.

Tòa án cấp sơ thẩm nhận định con chung còn nhỏ tuổi cần sự chăm sóc trực tiếp từ người mẹ, bà T cũng có đủ khả năng về thu nhập, chỗ ở để đảm bảo các nhu cầu thiết yếu của con chung, đảm bảo con chung phát triển tốt cả về thể chất lẫn tinh thần. Do đó, việc giao con chung cho bà T nuôi là phù hợp với hoàn cảnh hiện tại.

Nguyên đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh việc giao con chung cho bà T nuôi là không đảm bảo quyền lợi của con.

[3] Với những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Hữu Đ, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo không được chấp nhận nên nguyên đơn là người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật nhưng nguyên đơn là người cao tuổi, có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định tại Điểm 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 1 Điều 148, Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Áp dụng Luật Thi hành án dân sự;

Tuyên xử:

I. Chấp nhận đơn kháng cáo hợp lệ của bị đơn ông Lê Hữu Đ do làm trong thời hạn hợp luật định.

II. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên quyết định của Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 2824/2023/HNGĐ-ST ngày 04 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phần giải quyết tranh chấp về nuôi con; các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị, cụ thể như sau:

Căn cứ:

  • - Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 266 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Khoản 1 Điều 9; Điều 19; Điều 51; Điều 56; Điều 57; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
  • - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

1. Về quan hệ hôn nhân: Ông Lê Hữu Đ và bà Nguyễn Thị Mỹ T thuận tình ly hôn.

2. Về con chung: Giao con chung là Lê Hữu Minh K, sinh ngày 18 tháng 9 năm 2019 cho bà Nguyễn Thị Mỹ T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Ghi nhận việc bà T không yêu cầu ông Đ cấp dưỡng cho con.

Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên.

Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi con; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng cho con.

Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được áp dụng theo quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Ông Lê Hữu Đ và bà Nguyễn Thị Mỹ T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí: Ông Lê Hữu Đ được miễn án phí dân sự sơ thẩm. H1 lại cho bà Nguyễn Thị Mỹ T số tiền tạm ứng án phí mà đương sự đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo Biên lai thu số 0018732 ngày 27 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

III. Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông Lê Hữu Đ được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND Cấp cao tại Tp. HCM;
  • - VKSND Cấp cao tại Tp. HCM;
  • - VKSND Tp. HCM;
  • - TAND thành phố Thủ Đức, Tp. HCM;
  • - Cục THADS Tp. HCM;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức, Tp. HCM;
  • - UBND Phường 2, quận Bình Thạnh, Tp. HCM;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu. (TC: 17b)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Tuấn

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN

THẨM PHÁN

THẨM PHÁN –

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Kim Khánh

Đoàn Thị Trang

Nguyễn Văn Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/HNGĐ-PT ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 04/2024/HNGĐ-PT
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn ông Lê Hữu Đ khởi kiện bị đơn bà Nguyễn Thị Mỹ T về việc ly hôn và tranh chấp về nuôi con
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger