Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/HS-PT

Ngày 10-01-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hà

Các Thẩm phán: Ông Vũ Quang Trung

Bà Nguyễn Minh Thu

Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Tuấn Anh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 155/2023/TLPT- HS ngày 03 tháng 11 năm 2023 đối với các bị cáo Lê Thị Quỳnh H, Trần Thị H1, Trần Thị A do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 163/2023/HS- ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Bị cáo kháng cáo:

1. Lê Thị Quỳnh H, sinh ngày 03 tháng 7 năm 1992 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số A B Tổ dân phố số I, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Quang P và bà Lưu Thị H2; có chồng là Hoàng Thanh T (đã ly hôn) và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 89/2018/HS-ST ngày 17/10/2018 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Gá bạc”, thời gian thử thách 24 tháng (đã được xoá án tích); bị tạm giữ ngày 14/12/2022, đến ngày 23/12/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

2. Trần Thị H1, sinh ngày 02 tháng 02 năm 1972 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số D N, phường G, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Trọng T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị B; có chồng là Phạm Tiến C (đã ly hôn) và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 14/12/2022, đến ngày 23/12/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

3. Trần Thị A, sinh ngày 20 tháng 7 năm 1988 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Số C Tổ dân phố I, phường C, quận H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình T2 (đã chết) và bà Nguyễn Thị V (đã chết); có chồng là Nguyễn Ngọc N (đã ly hôn) và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 14/12/2022, đến ngày 23/12/2022 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 25 phút ngày 14/12/2022, tại trước cửa nhà số A L, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng, Công an quận N bắt quả tang Trần Thị H1 có hành vi chuyển bảng số lô đề cho Lê Thị Quỳnh H thông qua tài khoản Zalo.

Vật chứng, đồ vật tài liệu thu giữ, tạm giữ: 01 điện thoại Iphone XS Max màu đen, 01 bảng tổng hợp số đề ngày 02/12/2022 và số tiền 10.650.000 đồng.

Căn cứ lời khai của Trần Thị H1 và tài liệu điều tra, Cơ quan điều tra đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Lê Thị Quỳnh H, thu giữ 01 điện thoại Iphone 11 Pro Max màu đen và 01 điện thoại Iphone 14 Pro Max màu tím. Tại cơ quan điều tra, H khai nhận đã nhận bảng đề của H1 và chuyển bảng cho Trần Thị A.

Căn cứ lời khai của Lê Thị Quỳnh H và tài liệu điều tra, Cơ quan điều tra đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Trần Thị A, không thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở, đồ vật, tài sản của Lê Thị Quỳnh H và Trần Thị A, cơ quan điều tra không thu giữ đồ vật tài liệu gì liên quan đến hành vi phạm tội.

Tại cơ quan điều tra, H1, H, A khai nhận đã ghi số bao đề, chuyển nhận bảng qua Z để hưởng tiền hoa hồng, cụ thể là:

Lần thứ nhất: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 02/12/2022, Trần Thị H1 ngồi bán các số đề, bao cho khách qua đường tại trước cửa nhà số A L, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng với tổng số tiền là 37.306.000 đồng gồm 13.916.000 đồng tiền khách đánh đề và 23.390.000 đồng tiền khách đánh bao. Sau đó, H1 sử dụng tài khoản zalo “Tỷ Tỷ” để gửi toàn bộ các số đề, bao bán được cho zalo “Băng Tâm” của Lê Thị Quỳnh H. H1 được H trả thưởng và tiền phần trăm như sau: Đối với các số đề trúng thưởng được trả gấp 90 lần và hưởng tiền hoa hồng là 7% tổng số tiền khách đánh đề, số bao trúng thưởng được trả gấp 3,5 lần và hưởng hoa hồng 5% số tiền khách đánh bao, số bao xiên 2 được trả thưởng gấp 14 lần và được hưởng hoa hồng 22%, số 3 càng trúng thưởng được trả gấp 400 lần và hưởng tiền hoa hồng là 40%. Với tỷ lệ như trên, số tiền hoa hồng H1 được hưởng là 2.143.500 đồng. Sau đó H lại sử dụng zalo “Băng Tâm” để chuyển tất cả các số bao, đề đã nhận của H1 cho zalo “LucKy” của Trần Thị A. H được A trả thưởng như tỷ lệ trên và hưởng tiền hoa hồng theo tỷ lệ: 8,3% tổng số tiền khách đánh đề, 5% tổng số tiền khách đánh bao, 23% tổng số tiền khách đánh bao xiên 2, 42% tổng số tiền khách đánh 3 càng. H nhận tiền hoa hồng từ A là 2.325.000 đồng, trừ đi số tiền hoa hồng Hoa trả cho H1 thì H được hưởng 181.500 đồng. Sau đó A lại sử dụng zalo “LucKy” để chuyển tất cả các số bao đề đã nhận của H cho zalo “Hồng Nguyễn” của một người phụ nữ tên H3 (hiện chưa xác định được căn cước lai lịch). Tỷ lệ trả thưởng không thay đổi còn tiền hoa hồng A được hưởng là 8,4% số tiền khách đánh đề, 5,5% số tiền khách đánh bao, 24% số tiền khách đánh bao xiên 2 và 43% số tiền khách đánh 3 càng. Số tiền hoa hồng A nhận của H3 là 2.455.000 đồng, trừ đi số tiền hoa hồng A trả cho H thì A được hưởng lợi số tiền 130.000 đồng. Bảng số đề ngày 02/12/2022 không có số nào trúng thưởng nhưng có một số khách ghi đề nợ tiền nên H1, H, A đã thanh toán với nhau số tiền ghi đề là 32.163.000 đồng. H1 nợ lại 5.143.000 đồng. Sau khi nhận bảng đề, A đã tự bù số tiền khách còn nợ, bù trừ tiền hoa hồng và thanh toán đủ 37.306.000 đồng tiền bảng đề ngày 02/12/2022 cho H3. Còn tiền hoa hồng, A, H, H1 chưa thanh toán với nhau. Sau khi bị cơ quan điều tra bắt giữ, H1 đã giao nộp lại số tiền 5.143.000 đồng là tiền các khách mua nợ đã thanh toán trong bảng đề này.

Lần thứ hai: Khoảng 17 giờ ngày 14/12/2022, bằng cách thức như trên Trần Thị H1 vừa bán các số đề, bao, bao xiên 2, ba càng cho khách vừa nhắn tin zalo chuyển số đã bán được cho Lê Thị Quỳnh H với tổng số tiền là 18.450.000 đồng gồm 2.600.000 đồng tiền đề, 15.3000.000 đồng tiền bao, 200.000 đồng tiền bao xiên 2 và 350.000 đồng tiền 3 càng và được hưởng số tiền hoa hồng tương ứng là 1.131.000 đồng. Do A không nhận bảng của H nên H chuyển các số bao, đề đã nhận của H1 cho zalo “HL” của Q (chưa xác định được căn cước lai lịch). H được Q trả thưởng như tỷ lệ trên và hưởng tiền hoa hồng là 8% tổng số tiền khách đánh đề, 5,5% số tiền khách đánh bao, 24% số tiền khách đánh bao xiên 2 và 43% tổng số tiền khách đánh 3 càng. Số tiền hoa hồng Hoa nhận của Q là 1.247.000 đồng, trừ đi số tiền hoa hồng Hoa trả cho H1 thì H được hưởng lợi 116.000 đồng. Đến 18 giờ 25 phút cùng ngày, khi H1 đang ngồi xem lại các số bao, đề thì bị Công an quận N bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Bảng số đề này có các số bao và số đề trúng thưởng với số tiền là 26.750.000 đồng, tổng số tiền đánh bao đề và trúng thưởng của bảng đề này là 45.200.000 đồng nhưng do H1, H bị cơ quan công an bắt giữ nên chưa thanh toán tiền đánh bao đề, tiền trúng thưởng cũng như tiền hoa hồng.

Cơ quan điều tra đã kiểm tra dữ liệu, trưng cầu giám định điện thoại của các bị can, thu giữ các giữ liệu về việc chuyển bảng đề. Tuy nhiên, không có các dữ liệu để xác định nhân thân lai lịch của các đối tượng “HL”, “Hồng Nguyễn”. Tiến hành thu giữ thư tín, điện tín, xác minh căn cước lai lịch của các đối tượng sử dụng Zalo “HL”, “Hồng Nguyễn” tại Công ty Cổ phần V1 cũng không có thông tin lưu trữ.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 163/2023/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã quyết định:

  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Thị Quỳnh H 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, trừ cho bị cáo các ngày tạm giữ trước (từ ngày 14/12/2022 đến ngày 23/12/2022). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị H1 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, trừ cho bị cáo các ngày tạm giữ trước (từ ngày 14/12/2022 đến ngày 23/12/2022). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.
  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị A 12 (Mười hai) tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”, trừ cho bị cáo các ngày tạm giữ trước (từ ngày 14/12/2022 đến ngày 23/12/2022). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi thi hành án.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo theo quy định của pháp luật.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 06 tháng 10 năm 2023, bị cáo Lê Thị Quỳnh H và bị cáo Trần Thị H1 kháng cáo xin giảm hình phạt và xin được hưởng hình phạt tiền.

Ngày 04 tháng 10 năm 2023 bị cáo Trần Thị A kháng cáo xin giảm hình phạt và xin được hưởng hình phạt tiền.

Quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên:

Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo A đã nộp 200.000 đồng án phí sơ thẩm và 130.000 đồng tiền thu lời bất chính. Ngoài ra, bị cáo có bà ngoại được tặng bằng khen kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Do đó, cần xem xét cho bị cáo A được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Mặc dù, bị cáo H nhân thân có 01 tiền án về tội Gá bạc nhưng đã được xóa án tích. Bị cáo H1, A nhân thân chưa có tiền án tiền sự. Mặt khác, cả ba bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, là lao động chính, hiện đang nuôi con nhỏ. Bị cáo H1 còn đang nuôi con bị bệnh hiểm nghèo. Tại phiên tòa phúc thẩm các bị cáo đã nộp lại biên lai thể hiện có đủ khả năng áp dụng hình phạt tiền. Do đó, cần tạo điều kiện cho các bị cáo được cải tạo ngoài xã hội, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, để các bị cáo trở thành người có ích và tiếp tục lao động để nuôi dưỡng, chăm sóc gia đình.

Từ các lẽ trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, bản án sơ thẩm; áp dụng Điều 35 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt và đề nghị tuyên phạt tiền: Bị cáo Lê Thị Quỳnh H từ 60.000.000 đồng đến 70.000.000 đồng; Trần Thị H1 và Trần Thị A mỗi bị cáo từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.

Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Đơn kháng cáo của các bị cáo Lê Thị Quỳnh H, Trần Thị H1, Trần Thị A gửi Tòa án trong thời hạn luật định nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm thụ lý giải quyết.

- Về tội danh và khung hình phạt:

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thống nhất và phù hợp với lời khai của các bị cáo khác tại Cơ quan Điều tra và phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Đủ cơ sở kết luận: Tại trước cửa nhà số A L, Cầu Đ, Ngô Q1, Hải Phòng, Trần Thị H1 đã có hành vi bán số đề, bao, bao xiên 2, ba càng cho khách, sau đó sử dụng ứng dụng Zalo trên điện thoại chuyển số đề, bao, bao xiên 2, ba càng cho Lê Thị Quỳnh H để hưởng tiền hoa hồng, cụ thể, ngày 02/12/2022 chuyển 37.306.000 đồng, hưởng lợi 2.143.500 đồng; lần thứ hai ngày 14/12/2022 chuyển 18.450.000 đồng, hưởng lợi 1.131.000 đồng nhưng chưa kịp thanh toán thắng thua, tiền hoa hồng thì bị bắt quả tang trước giờ mở thưởng. Lê Thị Quỳnh H 02 lần nhận bảng các số đề, bao, xiên, 3 càng của Trần Thị H1 sau đó ngày 02/12/2022 chuyển toàn bộ bảng đề với số tiền đánh đề là 37.306.000 đồng cho Trần Thị A, hưởng lợi 181.500 đồng sau đó ngày 14/12/2022 chuyển toàn bộ bảng đề với số tiền đánh đề là 18.450.000 đồng và số tiền trúng thưởng là 26.750.000 đồng cho đối tượng tên Q có zalo “HL”, hưởng lợi 116.000 đồng. Tổng số tiền chuyển nhận bảng H phải chịu trách nhiệm trong ngày 14/12/2022 là 45.200.000 đồng. Trần Thị A 01 lần vào ngày 02/12/2022 nhận bảng các số đề, bao, xiên, 3 càng từ Lê Thị Quỳnh H sau đó chuyển toàn bộ bảng đề với số tiền đánh đề là 37.306.000 đồng cho đối tượng tên H3 có zalo “Hồng Nguyễn” để hưởng lợi 130.000 đồng.

Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm kết luận các bị cáo Lê Thị Quỳnh H, Trần Thị H1, Trần Thị A phạm tội “Tổ chức đánh bạc” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo H1, A không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo H phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Tại giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo H1 tự nguyện giao nộp số tiền 5.143.000 đồng tiền liên quan đến hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

- Xét kháng cáo của các bị cáo:

[6] Bản án sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất vụ án, hành vi phạm tội, cũng như xem xét đầy đủ về nhân thân, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và áp dụng mức hình phạt đối với các bị cáo.

Tại giai đoạn phúc thẩm các bị cáo Trần Thị A và Trần Thị H1 xuất trình tài liệu thể hiện gia đình các bị cáo có người có công với cách mạng đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự chưa được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét.

Mặc dù, bị cáo H nhân thân có 01 tiền án về tội Gá bạc nhưng đã được xóa án tích. Các bị cáo H1, A nhân thân chưa có tiền án tiền sự. Tuy nhiên cũng cần xem xét các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, là lao động chính, hiện đang nuôi con nhỏ. Bị cáo H1 còn đang nuôi con bị bệnh hiểm nghèo; việc cho bị cáo hưởng hình phạt tiền trong trường hợp này không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, cần chấp nhận kháng cáo của các bị cáo và ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa, sửa bản án sơ thẩm theo hướng thay đổi hình phạt tù sang hình phạt tiền đã đủ tác dụng, răn đe, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[7] Do hình phạt chính của các bị cáo là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng:

Đối với số tiền 130.000 đồng thu lợi bất chính và 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm bị cáo Trần Thị A tự nguyện nộp cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Cần tiếp tục tạm giữ số tiền 70.000.000 đồng của bị cáo Lê Thị Quỳnh H; 50.000.000 đồng của bị cáo Trần Thị H1; 50.000.000 đồng của bị cáo Trần Thị A để đảm bảo việc thi hành án.

[9] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[10] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xét.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm đ khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm, chuyển từ hình phạt tù sang phạt tiền đối với các bị cáo Lê Thị Quỳnh H, Trần Thị A và Trần Thị H1;
    • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 35 của Bộ luật Hình sự, xử: Phạt tiền bị cáo Lê Thị Quỳnh H 70.000.000 đồng về tội “Tổ chức đánh bạc”.
    • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử: Phạt tiền bị cáo Trần Thị A 50.000.000 đồng về tội “Tổ chức đánh bạc”.
    • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử: Phạt tiền bị cáo Trần Thị H1 50.000.000 đồng về tội “Tổ chức đánh bạc”.

    Hủy bỏ biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Lê Thị Quỳnh H, Trần Thị H1 và Trần Thị A.

  2. Về xử lý vật chứng:

    Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 130.000 đồng tiền thu lợi bất chính và 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm của bị cáo Trần Thị A đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002623 ngày 27/9/2023 và biên lai thu tiền số 0002758 ngày 14/12/2023 tại chi tục thi hành án dân sự quận N, Hải Phòng.

    Tiếp tục tạm giữ 50.000.000 đồng bị cáo Trần Thị H1 đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002857 ngày 10/01/2024; 70.000.000 đồng bị cáo Lê Thị Quỳnh H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002858 ngày 10/01/2024; 50.000.000 đồng bị cáo Trần Thị A đã nộp theo biên lai thu tiền số 0002860 ngày 10/01/2024 tại chi tục thi hành án dân sự quận N, Hải Phòng.

  3. Các quyết định khác của Bản án số 163/2023/HS-ST ngày 27 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. Về án phí: Các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND TPΗΡ;
  • - Cơ quan THAHS quận Ngô Quyền;
  • - Công an quận Ngô Quyền;
  • - VKSND quận Ngô Quyền;
  • - TAND quận Ngô Quyền;
  • - Vụ Giám đốc kiểm tra 1 TANDTC;
  • - PV27 Công an TPHP;
  • - Sở Tư pháp TPHP;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS, НСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Mạnh Hà

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/HS-PT ngày 10/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự phúc thẩm (tổ chức đánh bạc)

  • Số bản án: 04/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tổ chức đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 10/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị Quỳnh H, Trần Thị H, Trần Thị A kháng cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger