Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC GIANG

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/KDTM-ST

Ngày: 09-8-2024

V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Môn, bà Hoàng Thị Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Dung - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Vân Anh - Kiểm sát viên

Trong ngày 09 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án kinh doanh, thương mại thụ lý số 07/2024/TLST-KDTM ngày 05 tháng 4 năm 2024 về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2024/QĐXX-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 12/2024/QĐST-KDTM ngày 16 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2024/QĐST-KDTM ngày 31 tháng 7 năm 2024, giữa:

* Nguyên đơn: Ngân hàng N1

Địa chỉ: Số B đường L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V - Chức vụ: Tổng Giám đốc

Người đại diện theo uỷ quyền khởi kiện: Ông Nguyễn Hoàng G – Giám đốc Ngân hàng N1 - Chi nhánh B II

Địa chỉ trụ sở Chi nhánh B: Số D, đường N, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

Người đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng:

  1. Ông Giáp Quang K - Cán bộ pháp chế, Ngân hàng N1 - Chi nhánh B (Có mặt)
  2. Bà Đỗ Minh H - Cán bộ pháp chế, Ngân hàng N1 - Chi nhánh B (Có mặt)

(Giấy uỷ quyền ngày 31/01/2024)

* Bị đơn: Công ty TNHH T1

Địa chỉ trụ sở: Số F, đường X, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

Người đại diện theo pháp luật: Ông Tô Sỹ H1 - Chức vụ: Giám đốc (Vắng mặt, không có lý do)

Địa chỉ thường trú: Thị trấn N, huyện T, tỉnh Bắc Giang

Nơi cư trú: Số F, đường X, phường X, thành phố B, tỉnh Bắc Giang

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Phạm Văn T, sinh năm 1966
  2. Bà Ngô Thị N, sinh năm 1972

Ông T, bà N cư trú tại: Số nhà D, đường T, tổ dân phố T, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt)

  1. Ủy ban nhân dân tỉnh B

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ánh D - Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B

Người đại diện theo uỷ quyền tham gia tố tụng: Ông Vũ Văn H2 - Phó trưởng Phòng Quản lý đất đai - Sở Tài nguyên và Mội trường tỉnh Bắc Giang (Vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt)

(Quyết định uỷ quyền số 1000/QĐ-UBND ngày 20/6/2024)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ghi ngày 31 tháng 01 năm 2024, bản tự khai ghi ngày 10 tháng 4 năm 2024 và tại phiên toà, nguyên đơn là Ngân hàng N1 (do ông Giáp Quang K đại diện) trình bày:

Ngày 28/02/2012, Công ty TNHH T1 (sau đây viết tắt là Công ty T1) ký kết Hợp đồng tín dụng số 1205005/HĐTD (sau đây viết tắt là Hợp đồng tín dụng) với Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn thành phố N1 (sau đây viết tắt là Ngân hàng). Ngày 24/4/2012 hai bên ký kết phụ lục hợp đồng số 01-TH-2012/PLHĐ, ngày 29/12/2012 hai bên ký kết phụ lục hợp đồng số 02-TH-2013/PLHĐ, ngày 11/02/2013 hai bên ký kết phụ lục hợp đồng số 1205005/PLHĐ, ngày 13/3/2013 hai bên ký kết phụ lục hợp đồng số 03-TH-2013/PLHĐ và ngày 24/4/2013 hai bên ký kết phụ lục hợp đồng số 04-TH-2013/PLHĐ. Theo Hợp đồng tín dụng, các phụ lục hợp đồng tín dụng thì các bên thỏa thuận như sau:

- Số tiền Công ty T1 vay hạn mức tín dụng được cấp lần sau cùng là 9.100.000.000 đồng (Bằng chữ: Chín tỷ, một trăm triệu đồng chẵn)

- Thời hạn cho vay: 12 tháng kể từ ngày ký Hợp đồng tín dụng

- Thời hạn cho vay cụ thể của mỗi lần giải ngân do hai bên thoả thuận, được ghi trên từng giấy nhận nợ nhưng tối đa không quá 04 tháng.

- Lãi suất cho vay: Thực hiện lãi suất cho vay theo hình thức thả nổi. Cụ thể: Lãi suất thả nổi = lãi suất huy động tiết kiệm 12 tháng + tỷ lệ nhất định (gọi là lãi suất biên). Lãi suất tiền vay được điều chỉnh 03 tháng một lần vào ngày 15 của tháng đầu quý nếu lãi suất tiền gửi 12 tháng hoặc lãi suất biên thay đổi theo quy định của Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh N1 (kể cả các khoản vay đến ngày 15 tháng đầu quý có thời gian chưa đủ 03 tháng) theo quy định của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh N1. Lãi suất tại thời điểm ký Hợp đồng tín dụng là 17.5%/năm.

- Lãi suất quá hạn: Khi đến kỳ trả nợ hoặc kết thúc thời hạn cho vay không có khả năng trả nợ gốc, lãi đúng hạn và không được điều chỉnh kỳ hạn trả nợ gốc hoặc không được gia hạn nợ gốc, lãi thì sẽ chuyển toàn bộ số dư nợ thực tế sang nợ quá hạn và bên vay phải chịu lãi suất nợ quá hạn bằng 150% (lãi suất cho vay trong hạn theo Hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ từng thời kỳ hoặc lãi suất cho vay theo các kỳ điều chỉnh) trên số tiền gốc quá hạn trả nợ.

- Trả nợ gốc: Thanh toán toàn bộ khoản vay theo các giấy nhận nợ

- Trả nợ lãi: Ngày trả lãi theo kỳ trả gốc

- Mục đích vay vốn: Kinh doanh vật liệu xây dựng

Sau khi ký kết Hợp đồng tín dụng, các phụ lục hợp đồng tín dụng, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty T1 theo đúng các giấy nhận nhận nợ đã ký kết, cụ thể: Giấy nhận nợ ngày 04/7/2012, 05/02/2013, 14/3/2013, 18/4/2013, 25/4/2013, 10/5/2013, 18/9/2013, 19/9/2013. Hạn mức tín dụng được cấp lần sau cùng là 9.100.000.000 đồng (Bằng chữ: Chín tỷ, một trăm triệu đồng chẵn). Trong các giấy nhận nợ, các bên đều thống nhất thời hạn cho vay là 04 tháng, mục đích sử dụng tiền vay: Thanh toán tiền mua hàng.

Đến nay tài sản thế chấp để đảm bảo cho khoản vay của Công ty T1 gồm có:

- Hợp đồng thế chấp toàn bộ tài sản gắn liền trên đất số 1305004/HĐTC ký kết ngày 13/3/2013 giữa bên nhận thế chấp là Ngân hàng, bên thế chấp là Công ty T1. Tài sản thế chấp là: Nhà làm việc 03 tầng (diện tích: 375m²), nhà ở công nhân 02 tầng (diện tích 96m²), nhà xưởng bao che khung sắt mái tôn (diện tích 780m²) tại địa chỉ: Cụm C, thành phố B của Công ty T1 (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 178060 do Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp ngày 01/9/2011)

- Hợp đồng thế chấp bằng tài sản của bên thứ ba số 2011004 ký kết ngày 13/01/20211 giữa Bên nhận thế chấp là Ngân hàng, bên thế chấp là ông Phạm Văn T, bà Ngô Thị N và bên vay vốn là Công ty T1. Tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất ở diện tích 67,5m² tại địa chỉ: Khu dân cư T và khách sạn C, phường L, thành phố B đứng tên bà Ngô Thị N và ông Phạm Văn T (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 747132 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 18/8/2009).

Sau khi Ngân hàng giải ngân, công ty T1 đã trả được cho Ngân hàng số tiền gốc 5.939.710.000 đồng. Khoản vay của Công ty T1 đã quá thời hạn trả nợ từ ngày 11/01/2014. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc Công ty T1 trả nợ nhưng đến nay Công ty T1 vẫn không trả được nợ cho Ngân hàng. Do vậy Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Toà án giải quyết:

- Buộc Công ty T1 phải hoàn trả cho Ngân hàng tổng cộng cả gốc và lãi chưa trả đến ngày 09/8/2024 là 5.704.079.886 (Năm tỷ, bảy trăm linh bốn triệu, không trăm bẩy mươi chín nghìn, tám trăm tám mươi sáu đồng), trong đó:

+ Số tiền nợ gốc chưa trả là 3.249.290.000₫ (Ba tỷ, hai trăm bốn mươi chín triệu, hai trăm chín mươi nghìn đồng)

+ Số tiền lãi vay tạm tính đến ngày 09/8/2024 là 2.454.789.886 (Hai tỷ, bốn trăm năm mươi tư triệu, bẩy trăm tám mươi chín nghìn, tám trăm tám mươi sáu đồng)

+ Đồng thời Công ty T1 phải trả lãi, phí chậm trả phát sinh kể từ sau ngày 09/8/2024 đến khi trả hết nợ Ngân hàng.

- Trường hợp Công ty T1 không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên, Ngân hàng đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý phát mại tài sản thế chấp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

* Tại bản tự khai ghi ngày 10 tháng 5 năm 2024 và quá trình hoà giải vụ án, bị đơn là công ty TNHH T1 (do ông Tô Sỹ H1 đại diện theo pháp luật) trình bày:

Ông không có ý kiến gì về tổng số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 15/01/2024 là 5.613.278.477 đồng mà Ngân hàng yêu cầu Công ty T1 phải trả. Ông nhất trí về khoản tiền nợ gốc, nợ lãi đã trả, khoản tiền nợ gốc, nợ lãi còn nợ như Ngân hàng trình bày. Về việc ký kết, thực hiện Hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp như Ngân hàng trình bày là đúng nên Công ty T1 không có ý kiến, tranh chấp gì. Do điều kiện Công ty T1 làm ăn mất khả năng trả nợ nên không thể trả nợ được cho Ngân hàng theo yêu cầu. Công ty T1 đề nghị Ngân hàng hỗ trợ, tạo điều kiện được trả dần số tiền gốc 3.249.290.000 đồng và miễn toàn bộ các khoản tiền lãi, phí. Công ty T1 xin trả gốc trong thời hạn từ năm 2025 đến năm 2031, số tiền được chia đều cho từng tháng, từng năm. Nguyện vọng của Công ty T1 mong muốn được thoả thuận như vậy. Trường hợp Công ty T1 không trả được nợ thì đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định, Công ty cũng đồng ý để Ngân hàng xử lý tài sản thế chấp theo quy định.

* Tại bản tự khai, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phạm Văn T và bà Ngô Thị N trình bày:

Ông, bà và ông Tô Sỹ H1 có mối quan hệ quen biết đã lâu. Khoảng năm 2010 ông H1 có nhờ vợ chồng ông bà thế chấp thửa đất của ông bà để bảo lãnh cho khoản vay của Công ty T1 (do ông Tô Sỹ H1 - Giám đốc là người đại diện theo pháp luật). Do tin tưởng ông H1 nên vợ chồng ông bà đã nhất trí và ngày 13/01/2011 đã ký kết Hợp đồng thế chấp bằng tài sản của bên thứ 3 số 2011004 với bên nhận thế chấp là Ngân hàng, bên vay vốn là Công ty T1, Hợp đồng thế chấp được ký kết tự nguyện và được công chứng theo đúng quy định pháp luật. Thửa đất ông bà thế chấp cho Ngân hàng là thửa số: Lô số 50-L2, tờ bản đồ số: Theo quy hoạch phân lô khu TTTM và khách sạn cao cấp, loại đất: Đất ở tại đô thị, địa chỉ thửa đất: Khu dân cư trung tâm thương mại và khách sạn C, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang, diện tích đất: 67,5m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H03175/QĐ số 1431/QĐ-UBND, do Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Giang cấp ngày 18/8/2009 cho ông, bà; tài sản gắn liền với đất: Không có. Đến nay thửa đất thế chấp vẫn giữ nguyên hiện trạng như thời điểm thế chấp, không có thay đổi gì. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết: Buộc Công ty T1 phải hoàn trả cho Ngân hàng tổng cộng cả gốc và lãi chưa trả đến ngày 15/01/2024 là 5.613.278.477 đồng, trong đó: Số tiền nợ gốc là: 3.249.290.000 đồng, số tiền lãi vay là: 2.363.988.477 đồng; đồng thời Công ty T1 phải trả lãi, phí chậm trả phát sinh kể từ ngày 15/01/2024 đến khi trả hết nợ Ngân hàng. Trường hợp Công ty T1 không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, đề nghị được xử lý phát mại tài sản đã thế chấp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Cụ thể tài sản thế chấp như sau:

  • Toàn bộ tài sản gắn liền trên đất gồm: Nhà làm việc 03 tầng (diện tích: 375 m² ), nhà ở công nhân 02 tầng (diện tích 96m²), nhà xưởng bao che khung sắt mái tôn (diện tích 780m²) tại địa chỉ: Cụm C, thành phố B, tỉnh Bắc Giang của Công ty T1 (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 178060 do Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp ngày 01/9/2011) theo Hợp đồng thế chấp số 1305004/HĐTC ngày 13/3/2013;
  • Quyền sử dụng đất ở có diện tích 67,5 m² tại địa chỉ: Khu dân cư T và khách sạn C, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang đứng tên vợ chồng ông, bà - Ngô Thị N, Phạm Văn T (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 747132 do Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Giang cấp ngày 18/8/2009) theo Hợp đồng thế chấp số 2011004/HĐTC ngày 13/01/2011.

Ông, bà đề nghị Công ty T1 phải có trách nhiệm trả tiền cho Ngân hàng để vợ chồng ông bà rút được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang thế chấp tại Ngân hàng. Đồng thời đề nghị Ngân hàng giảm các khoản tiền lãi, phí và tạo điều kiện về thời gian cho Công ty T1 trả dần khoản nợ. Trường hợp Công ty T1 không trả được nợ theo yêu cầu của Ngân hàng, ông, bà đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân tỉnh B, do ông Vũ Văn H2 đại diện theo uỷ quyền trình bày:

Diện tích đất cấp cho Công ty T1 có nguồn gốc là của Hợp tác xã C1, được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 02/7/2002, số seri U869931, số vào sổ cấp giấy chứng nhận 00096 QSDĐ/2/QĐ-CT. Sau đó, Hợp tác xã C1 đổi tên thành Công ty cổ phần C2, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B chỉnh lý trên trang 4 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 15/9/2004; được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B ký Hợp đồng thuê đất số 1358 HĐTĐ ngày 15/9/2004; loại đất được thuê: Xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh dây điện, ống nhựa; diện tích đất được thuê: 1.026,26m²; thời hạn thuê đất: 26 năm (đến tháng 5/2030); hình thức trả tiền thuê đất: Trả tiền thuê đất hàng năm. Ngày 16/01/2010, Công ty cổ phần C2 có văn bản số 18/CV-Cty về việc trả lại đất cho Nhà nước; lý do: Chuyển nhượng tài sản trên đất cho Công ty T1. Ngày 27/7/2010, Công ty cổ phần C2 có Hợp đồng mua bán tài sản gắn liền với đất với Công ty T1; Hợp đồng được Văn phòng C3 chứng thực cùng ngày. Ngày 29/7/2011, Công ty T1 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B ký Hợp đồng thuê đất số 677/HĐTĐ; diện tích đất được thuê: 1.034,3m²; loại đất được thuê: Để thực hiện dự án đầu tư quản lý hoạt động kinh doanh sản xuất dây điện, cáp điện (Đất khu công nghiệp); diện tích đất được thuê: 1.034,3m²; thời hạn thuê đất: Đến ngày 13/4/2031; hình thức trả tiền thuê đất: Trả tiền thuê đất hàng năm. Trên cơ sở hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của Công ty T1, được cơ quan chuyên môn thẩm định theo quy định; ngày 01/9/2011, Công ty T1 được Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại Quyết định số 312/QĐ-UBND. Như vậy, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty T1 tại Cụm C được thực hiện đảm bảo theo quy định của pháp luật đất đai, từ sau khi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và cho Công ty T1 thuê đến nay, không có cơ quan, tổ chức nào có ý kiến gì đối với nội dung này.

Việc Ủy ban nhân dân tỉnh B ban hành Quyết định số 312/QĐ-UBND ngày 01/8/2011 về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất cho Công ty T1 là đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 111 Luật Đất đai năm 2003; Điều 84 Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai và Điều 21 Nghị định số 88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009 của Chính phủ về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. Nội dung Ngân hàng khởi kiện Công ty T1 là tranh chấp dân sự, cụ thể là Tranh chấp hợp đồng tín dụng, không khởi kiện việc thực hiện các trình tự, thủ tục liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Công ty T1. Do đó, đề nghị Toà án xem xét, giải quyết tranh chấp theo quy định pháp luật.

* Toà án đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp, các tài sản thế chấp hiện không có tranh chấp với ai và còn giữ nguyên hiện trạng so với thời điểm thế chấp.

* Tòa án đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và mở phiên hòa giải nhưng các đương sự không thoả thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

* Tại phiên toà

- Đại diện nguyên đơn trình bày: Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Toà án tuyên buộc Công ty T1 phải trả Ngân hàng tổng số tiền đến ngày 09/8/2024 là 5.704.079.886 đồng, trong đó: Nợ gốc là 3.249.290.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 341.256.254 đồng, nợ lãi quá hạn là 2.113.533.632 đồng. Đồng thời buộc Công ty T1 tiếp tục phải trả lãi phát sinh kể từ ngày 10/8/2024 cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng theo mức lãi suất thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng đã ký kết. Trường hợp Công ty T1 không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý phát mại tài sản đã thế chấp để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

+ Ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký trong quá trình giải quyết vụ án và của Hội đồng xét xử, Thư ký tại phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự.

+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 90, Điều 91, Điều 95, Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 342, Điều 343, Điều 344, Điều 347, Điều 348, Điều 349, Điều 350, Điều 351, Điều 355, Điều 336, Điều 338 của Bộ luật Dân sự năm 2005; Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc Công ty T1 trả Ngân hàng đến ngày xét xử sơ thẩm 09/8/2024 đối với Hợp đồng tín dụng số 1205005/HĐTD ký kết ngày 28/02/2012, tổng số tiền là 5.704.079.886 đồng (trong đó tiền gốc 3.249.290.000 đồng; tiền lãi 2.454.789.886 đồng) và tiếp tục phải trả lãi suất theo mức lãi suất thoả thuận trong Hợp đồng tín dụng từ ngày 10/8/2024 đến khi thực hiện xong toàn bộ nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, Công ty T1 không trả đầy đủ số tiền còn nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng được quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản đã thế chấp gồm:

1.1. Toàn bộ tài sản gắn liền trên đất gồm: Nhà làm việc 03 tầng (diện tích 375m²), nhà ở công nhân 02 tầng (diện tích 96m²), nhà xưởng bao che khung sắt mái tôn (diện tích 780m²) tại địa chỉ: Cụm C, thành phố B của Công ty T1, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 178060 do Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp ngày 01/9/2011, theo Hợp đồng thế chấp số 1305004/HĐTC ngày 13/3/2013.

1.2. Quyền sử dụng đất ở có diện tích 67,5m² tại địa chỉ: Khu dân cư T và khách sạn C, phường L, thành phố B đứng tên bà Ngô Thị N và ông Phạm Văn T, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP747132 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 18/8/2009, theo Hợp đồng thế chấp số 2011004/HĐTC ngày 13/01/2011.

2. Về chi phí tố tụng: Công ty T1 phải chịu 12.000.000 đồng chi phí xem xét thẩm định tại chỗ tài sản và thanh toán trả Ngân hàng.

3. Về án phí: Công ty T1 phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Hoàn trả Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

5. Kiến nghị khắc phục: Không có

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Nguyên đơn là Ngân hàng khởi kiện yêu cầu bị đơn là Công ty T1 phải trả tiền gốc, lãi vay theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng và Công ty T1 do Công ty T1 vi phạm nghĩa vụ trả tiền gốc, tiền lãi theo thoả thuận, cam kết trong hợp đồng tín dụng. Công ty T1 vay tiền nhằm mục đích để kinh doanh vật liệu xây dựng. Nguyên đơn, bị đơn đều có đăng ký kinh doanh và việc ký kết hợp đồng tín dụng đều vì mục đích lợi nhuận. Do vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 30 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 98 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xác định đây là tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại, cụ thể quan hệ pháp luật tranh chấp là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn có trụ sở tại thành phố B, tỉnh Bắc Giang nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.

[1.3] Về thời hiệu khởi kiện: Do các đương sự không yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[1.4] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Ủy ban nhân dân tỉnh B (do ông Vũ Văn H2 là người đại diện theo uỷ quyền), ông Phạm Văn T và bà Ngô Thị N vắng mặt - có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn (do ông Tô Sỹ H1 là người đại diện theo pháp luật) đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai không có lý do, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự quyết định xét xử vắng mặt các đương sự trên.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về yêu cầu trả nợ gốc, nợ lãi của nguyên đơn:

Hội đồng xét xử thấy: Ngày 28/02/2012 Ngân hàng với Công ty T1 ký Hợp đồng tín dụng số 1205005/HĐTD. Quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng các bên tiếp tục ký kết các phụ lục hợp đồng, cụ thể: Ngày 24/4/2012 ký kết phụ lục hợp đồng số 01-TH-2012/PLHĐ; ngày 29/12/2012 ký kết phụ lục hợp đồng số 02-TH-2012/PLHĐ; ngày 11/02/2013 ký kết phụ lục hợp đồng số 1205005/PLHĐ; ngày 13/3/2013 ký kết phụ lục hợp đồng số 03-TH-2013/PLHĐ; ngày 24/4/2013 ký kết phụ lục hợp đồng số 04-TH-2013/PLHĐ. Các bên ký kết Hợp đồng tín dụng và các phụ lục hợp đồng tín dụng trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, tuân thủ các quy định của pháp luật về nội dung và hình thức nên được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Các bên tham gia giao dịch có mọi quyền và nghĩa vụ phát sinh từ Hợp đồng tín dụng đã ký kết.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ được cam kết tại Điều 6 của Hợp đồng tín dụng, vi phạm thời hạn trả nợ trong giấy nhận nợ kể từ ngày 11/01/2014. Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc nhưng bị đơn vẫn không trả được nợ cho Ngân hàng. Tính đến ngày 09/8/2024 bị đơn còn nợ Ngân hàng tổng số tiền là 5.704.079.886 đồng (Năm tỷ, bảy trăm linh bốn triệu, không trăm bẩy mươi chín nghìn, tám trăm tám mươi sáu đồng), trong đó: Nợ gốc là 3.249.290.000 đồng (Ba tỷ, hai trăm bốn mươi chín triệu, hai trăm chín mươi nghìn đồng); nợ lãi trong hạn là 341.256.254 đồng (Ba trăm bốn mươi mốt triệu, hai trăm năm mươi sáu nghìn, hai trăm năm mươi tư đồng), nợ lãi quá hạn là 2.113.533.632 đồng (Hai tỷ, một trăm mười ba triệu, năm trăm ba mươi ba nghìn, sáu trăm ba mươi hai đồng). Do Công ty T1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên căn cứ Điều 7 của Hợp đồng tín dụng - toàn bộ khoản nợ đã chuyển quá hạn kể từ ngày 11/01/2014. Quá trình Toà án giải quyết vụ án, bị đơn xác định về số tiền nợ gốc, nợ lãi của Công ty T1 đối với Ngân hàng như Ngân hàng khởi kiện là đúng và không có ý kiến gì. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Công ty T1 trả số tiền gốc, tiền lãi nêu trên là phù hợp với thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng tín dụng và có căn cứ theo khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên cần chấp nhận.

[2.2] Về yêu cầu đề nghị xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp đã ký kết của nguyên đơn:

Ngày 13/3/2013 Công ty T1 ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản gắn liền với đất số 1305004/HĐTC. Các bên thống nhất dùng tài sản là toàn bộ tài sản gắn liền trên đất gồm: Nhà làm việc 03 tầng (tổng diện tích 375m²), nhà ở công nhân 02 tầng (tổng diện tích 96m²), nhà xưởng bao che khung sắt mái tôn kiêm kho (tổng diện tích 780m²) tại địa chỉ: Cụm C, thành phố B của Công ty T1, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BG 178060 do Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp ngày 01/9/2011 để thế chấp cho khoản vay của Công ty T1 theo Hợp đồng tín dụng 1205005/HĐTD, ngày 28/02/2012.

Ngày 13/01/2011, ông T, bà N, Công ty T1 và Ngân hàng đã ký kết Hợp đồng thế chấp bằng tài sản của bên thứ ba số 2011004, các bên thống nhất dùng tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất ở có diện tích 67,5m² tại địa chỉ: Khu dân cư T và khách sạn C, phường L, thành phố B đứng tên bà Ngô Thị N và ông Phạm Văn T theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP747132 do Ủy ban nhân dân thành phố B cấp ngày 18/8/2009 để thế chấp cho khoản vay của Công ty T1 theo Hợp đồng tín dụng 1205005/HĐTD, ngày 28/02/2012.

Hội đồng xét xử thấy: Các bên đương sự đều xác định các Hợp đồng thế chấp được lập trên cơ sở tự nguyện, tuân thủ đúng quy định pháp luật, đến nay các đương sự không có tranh chấp gì. Nguyên đơn đề nghị phát mại tài sản thế chấp trong trường hợp bị đơn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Quá trình Toà án giải quyết vụ án, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông T và bà N là người có tài sản thế chấp đều trình bày trường hợp Công ty T1 không trả được nợ cho Ngân hàng thì đề nghị Toà án giải quyết vụ án theo quy định pháp luật và đồng ý để Ngân hàng được quyền đề nghị cơ quan có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp. Xét thấy, yêu cầu của Ngân hàng là phù hợp với thỏa thuận của các bên được quy định tại Hợp đồng thế chấp, Hợp đồng tín dụng và các phục lục hợp đồng tín dụng đã ký kết, phù hợp với quy định tại khoản 7 Điều 351 Bộ luật Dân sự năm 2005 nên cần chấp nhận.

[3]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên bị đơn là Công ty T1 phải chịu toàn bộ án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, số tiền là 112.000.000 đồng + 0,1% x 1.704.079.886đồng = 113.704.079 đồng (Một trăm mười ba triệu, bẩy trăm linh bốn nghìn, không trăm bẩy mươi chín đồng). Nguyên đơn không phải chịu án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm nên được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí đã nộp 56.806.639 đồng (Năm mươi sáu triệu, tám trăm linh sáu nghìn, sáu trăm ba mươi chín đồng).

[4] Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự buộc bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản là 12.000.000 đồng. Do nguyên đơn đã nộp tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ nên số tiền 12.000.000 đồng này bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn theo khoản 1 Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự .

[5] Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

[6]. Xét đề nghị của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang đối với việc giải quyết vụ án là có căn cứ nên cần chấp nhận

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 158, khoản 2 Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 272 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào Điều 90, khoản 2 Điều 91, khoản 2 Điều 95, điểm a khoản 3 Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ vào Điều 342, Điều 343, Điều 344, Điều 347, Điều 348, Điều 349, Điều 350, Điều 351, Điều 355, Điều 336, Điều 338 của Bộ luật Dân sự năm 2005;

Căn cứ vào điểm b khoản 1 và khoản 3 Điều 24, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

  1. Buộc Công ty TNHH T1 phải trả Ngân hàng N1 tổng số tiền tính đến ngày 09/8/2024 là 5.704.079.886 đồng (Năm tỷ, bẩy trăm linh bốn triệu, không trăm bẩy mươi chín nghìn, tám trăm tám mươi sáu đồng), trong đó: Nợ gốc là 3.249.290.000 đồng (Ba tỷ, hai trăm bốn mươi chín triệu, hai trăm chín mươi nghìn đồng), nợ lãi trong hạn là 341.256.254 đồng (Ba trăm bốn mươi mốt triệu, hai trăm năm mươi sáu nghìn, hai trăm năm mươi tư đồng), nợ lãi quá hạn là 2.113.533.632 đồng (Hai tỷ, một trăm mười ba triệu, năm trăm ba mươi ba nghìn, sáu trăm ba mươi hai đồng) theo Hợp đồng tín dụng số 1205005/HĐTD ngày 28/02/2012.
  2. Trường hợp Công ty TNHH T1 không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền nợ cho Ngân hàng N1 thì Ngân hàng N1 có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mại, xử lý các tài sản thế chấp sau để thu hồi nợ.
    1. Nhà làm việc 03 tầng (tổng diện tích 375m²), nhà ở công nhân 02 tầng (tổng diện tích 96m²), nhà xưởng kiêm kho bao che khung sắt mái tôn (tổng diện tích 780m²) tại địa chỉ: Cụm C, thành phố B, tỉnh Bắc Giang của Công ty TNHH T1 (đây là các tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BG 178060; số vào sổ cấp giấy chứng nhận: T00057/10 số 312/QĐ-UBND do Ủy ban nhân dân tỉnh B cấp ngày 01/9/2011 cho Công ty TNHH T1; địa chỉ thửa đất: Cụm C, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; nguồn gốc sử dụng đất: Nhà nước cho thuê đất trả tiền hàng năm; mục đích sử dụng đất: Đất khu công nghiệp; thời hạn sử dụng: Đến ngày 13/4/2031; nhà ở và các công trình xây dựng khác chưa được chứng nhận quyền sở hữu)
    2. Quyền sử dụng đất tại thửa đất số: Lô số 50-L2; tờ bản đồ số: Theo quy hoạch phân lô khu TTTM và khách sạn C, phường L, thành phố B, tỉnh Bắc Giang; địa chỉ thửa đất: Khu dân cư trung tâm thương mại và khách sạn C, phường L, thành phố B; diện tích: 67,5m²; hình thức sử dụng: Sử dụng riêng 67,5m²; mục đích sử dụng: Đất ở tại đô thị; thời hạn sử dụng: Lâu dài; nguồn gốc sử dụng đất: Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất; được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP747132, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H03174/QĐ số 1431/QĐ-UBND Q15-T56 do Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Bắc Giang cấp ngày 18/8/2009 cho ông Phạm Văn T và bà Ngô Thị N.
  3. Về án phí:
    1. Công ty TNHH T1 phải chịu 113.704.079 đồng (Một trăm mười ba triệu, bẩy trăm linh bốn nghìn, không trăm bẩy mươi chín đồng) tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
    2. Hoàn trả Ngân hàng N1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp 56.806.639 đồng (Năm mươi sáu triệu, tám trăm linh sáu nghìn, sáu trăm ba mươi chín đồng) theo Biên lai thu số 0001680 ngày 02/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang.
  4. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản:
    1. Công ty TNHH T1 phải chịu 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản.
    2. Ngân hàng N1 được hoàn trả 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) tạm ứng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản khi Công ty TNHH T1 nộp lại.
  5. Về nghĩa vụ thi hành án:
    1. Về nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh thoán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
    2. Về hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  6. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - VKSND thành phố Bắc Giang;
  • - VKSND tỉnh Bắc giang;
  • - Chi cục THADS thành phố Bắc Giang;
  • - Đương sự;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/KDTM-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 04/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/08/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger