Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ TRÀ VINH

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/HS-ST

Ngày: 09 – 01 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Trang.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Kiên Ngọc Trương .

Bà Thạch Thị Mỹ Kim.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lương Thị Hồng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Quang Hậu - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Trà Vinh, tỉnh Trà Vinh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 64/2023/HSST, ngày 28 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2023/QĐXXST- HS ngày 22 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Hữu L, sinh năm 2000; nơi cư trú: ấp X, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1978 và bà Tô Thị Hằng N, sinh năm 1980. Vợ tên Phạm Hồng N1, sinh năm 2000; Con tên Nguyễn Ngọc Thảo M, sinh năm 2016; Anh chị em ruột có 02 người gồm em Nguyễn Hữu P, sinh năm 2005 và em Nguyễn Ngọc Mỹ D, sinh năm 2019, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; Tiền án: 01 tiền án về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có; tiền sự: Không. Bị tạm giữ ngày 11/10/2023 sau đó chuyển sang tạm giam cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Cao Anh T, sinh năm 1976, vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.

Nơi cư trú: Ấp L, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh;

- Người làm chứng: Anh Cao Anh K, sinh ngày 18/10/2005.

Nơi cư trú: Ấp L, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Hữu L, sinh ngày 23/9/2000, nơi thường trú: ấp X, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh bắt đầu sử dụng ma túy loại ma túy tổng hợp từ đầu năm 2023. Vào giữa tháng 9/2023, bị cáo gặp người tên T1 khoảng 25 tuổi (bị cáo không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) tại khu vực đường A nối dài thuộc phường A, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Bị cáo biết T1 có bán ma túy nên hỏi mua 02 viên thuốc lắc và Ketamine để sử dụng. Thư bán cho bị cáo 02 viên thuốc lắc (ma túy tổng hợp) màu xanh và 01 bịch Ketamine (K1) với giá tiền là 1.000.000 đồng. Sau khi mua ma túy trên, bị cáo đem về cất giấu tại nhà của bị cáo, địa chỉ: ấp X, xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Lúc này, bị cáo có lấy ra một ít Ketamine để sử dụng một mình tại nhà trên.

Khoảng 18 giờ ngày 11/10/2023, bị cáo điện thoại cho Cao Anh K, sinh ngày 18/10/2005, nơi đăng ký thường trú: ấp L, xã Đ, huyện D, tỉnh Trà Vinh; nơi ở: số C, khóm F, phường D, thành phố T, tỉnh Trà Vinh để rủ K đi chơi và uống nước. Lúc này, bị cáo lấy bịch bên trong chứa 02 viên thuốc lắc màu xanh (ma túy tổng hợp) và 01 bịch bên trong chứa Ketamine rồi giấu vào túi đeo quai chéo bằng da để mang theo. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày 11/10/2023, Cao A K điều khiển xe mô tô biển số 84AM-007.37 đến nhà để chở bị cáo đi chơi và có mang theo túi đeo quai chéo bên trong có cất giấu ma túy.

Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, Cao A K điều khiển xe mô tô chở bị cáo về nhà của bị cáo, đi trên đường V, hướng từ phường A, thành phố T, tỉnh Trà Vinh đến xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh thì tổ tuần tra Công an thành phố T, tỉnh Trà Vinh phối hợp cùng Công an phường G, thành phố T phát hiện nên bị cáo đã ném bịch Ketamine (ma túy tổng hợp) xuống đường Võ Văn K2. Lúc này, Tổ tuần tra kiểm tra, bắt quả tang bị cáo đang cất giấu 01 bịch nylon trong suốt có viền màu đỏ dạng vuốt khóa miệng, bên trong chứa 02 viên thuốc lắc màu xanh (ma túy tổng hợp).

Qua đó, bị cáo thừa nhận do thấy lực lượng Công an đi tuần tra, sợ bị phát hiện đang cất giấu ma túy nên bị cáo đã ném 01 bịch Ketamine (ma túy tổng hợp) xuống đường. Sau đó, bị cáo dẫn tổ tuần tra đến nơi mà bị cáo vừa ném bịch Ketamin (ma túy tổng hợp), Tổ tuần tra tiến hành tạm giữ, niêm phong vật chứng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Trà Vinh tiến hành trưng cầu giám định chất ma túy tại Phòng K3 Công an tỉnh T. Tại kết luận giám định số: 747/KL-KTHS ngày 16/10/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh T kết luận giám định như sau:

Gói 1: tinh thể rắn chứa trong 01 (một) bịch nylon được niêm phong ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy; loại: Ketamine; khối lượng: 0,3739 gam;

Gói 2: 02 (hai) viên nén chứa trong 01 bịch nylon được niêm phong ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy; loại MDMA, Methamphetamine; tổng khối lượng: 0,9619 gam."

Vật chứng tạm giữ gồm:

  • 01 (một) bịch nylon trong suốt có viền màu đỏ, dạng vuốt khóa miệng, bên trong có chứa tinh thể rắn nghi là ma túy.
  • 01 (một) bịch nylon trong suốt có viền màu đỏ, dạng vuốt khóa miệng, bên trong có chứa 02 viên nén màu xanh không rõ hình dạng nghi là ma túy.
  • 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus màu hồng, số máy: MKU92Z P/A, số seri: C39QMN9GGRX5, kèm theo sim số: 0945367200 đã qua sử dụng.
  • 01 (một) túi đeo quai chéo bằng da, màu đen đã qua sử dụng.
  • 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu CUB màu xanh đen, có bửng màu trắng, số khung: RL9CCBAUMMAG01597, số máy: VAG1P39FMB3A001597, biển kiểm soát: 84AM-007.37, đã qua sử dụng.

Xử lý vật chứng: Qua điều tra, xe mô tô biển số 84AM – 007.37 là tài sản của ông Cao Văn T2 (là cha Cao Anh K), ông T2 không biết Cao Anh K chở bị cáo L cất giấu ma túy, Cơ quan điều tra Công an thành phố T đã trả xe mô tô nhãn hiệu CUB màu xanh đen, có bửng màu trắng, số khung: RL9CCBAUMMAG01597, số máy: VAG1P39FMB3A001597, biển kiểm soát: 84AM-007.37 cho ông Cao Văn T2 theo quy định pháp luật.

Đối với Cao Anh K: Trong ngày 11/10/2023, anh K điều khiển xe mô tô biển số 84Am – 007.37 chở bị cáo Nguyễn Hữu L, anh K không biết bị cáo cất giấu ma túy trong người nên không đủ căn cứ để xử lý.

Đối với người phụ nữ tên T1 khoảng 25 tuổi đã bán ma túy cho bị cáo. Quá trình điều tra, bị cáo không xác định được họ tên, địa chỉ của T1. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Trà Vinh chưa xác định được, khi nào xác định được sẽ xác minh làm rõ, đề nghị xử lý sau.

Tại bản cáo trạng số: 62/CT-VKS-HS ngày 27/11/2023 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh đã truy tố Nguyễn Hữu L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Đ i khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như bản cáo trạng đã nêu. Sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết, chứng cứ của vụ án và nhân thân của bị cáo. Vị đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: Điểm i khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu L từ 02 đến 03 năm tù. Đồng thời đề nghị xử lý tang vật chứng và buộc bị cáo nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, từ khi bị tạm giam bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, bị cáo có lỗi và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm về đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử nhận thấy các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cao Văn T2 vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, người làm chứng anh Cao Anh K vắng mặt. Xét các chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện lời khai của ông Cao Văn T2 và anh Cao Anh K đã rõ ràng. Căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Cao Văn T2 và anh Cao Anh K. Vị đại diện Viện kiểm sát và những người tham gia tố tụng không bổ sung tài liệu, đồ vật và không đề nghị triệu tập thêm người tham gia tố tụng. Xác định tư cách người tham gia tố tụng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Nguyễn Hữu L đã khai nhận: Vào giữa tháng 9/2023 bị cáo mua 02 viên thuốc lắc (ma túy tổng hợp) và 01 bịch Ketamine (K) với giá 1.000.000 đồng của một người phụ nữ tên T1 (không rõ họ tên, địa chỉ) tại đường A nối dài thuộc phường A, thành phố T, tỉnh Trà Vinh. Sau khi mua được ma túy bị cáo đem về nhà cất giấu. Đến khoảng 18 giờ ngày 11/10/2023 bị cáo điện thoại cho Cao A Kiệt đến chở bị cáo đi uống nước, khi đi bị cáo có đem theo số ma túy nói trên. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày Cao Anh K điều khiển xe mô tô 84AM-007.37 chở bị cáo ra về trên đường V, hướng từ phường A, thành phố T về xã N, huyện C, tỉnh Trà Vinh thì bị Công an thành phố T kiểm tra bắt quả tang cùng tang vật.

Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với tang vật chứng đã thu giữ, phù hợp với kết luận giám định số: 747/KL-KTHS ngày 16/10/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh T, phù hợp với lời khai của người làm chứng. Xét thấy bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh truy tố bị cáo Nguyễn Hữu L về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật, không oan, không sai. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Hữu L đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 điều 249 Bộ luật hình sự, như Viện kiểm sát nhân dân thành phố Trà Vinh đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, ma túy là chất gây nghiện rất độc hại, nó không chỉ làm ảnh hưởng đến sức khỏe, khả năng tham gia lao động, học tập, đến sự phát triển bình thường về trí tuệ của người sử dụng, mà nó còn làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác rất nguy hiểm. Bị cáo có nhân thân xấu, vào năm 2022 đã bị Tòa án xét xử về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, khi chấp hành xong hình phạt tù ra ngoài xã hội bị cáo không chịu cố gắng lao động để tạo lập cho bản thân một nghề nghiệp chân chính. Ngược lại, do nghiện ma túy bị cáo tiếp tục thực hiện tội phạm. Hành vi của bị cáo không chỉ là tái phạm mà còn thể hiện bị cáo rất xem thường pháp luật, khước từ sự giáo dục, giúp đỡ của nhà nước, tạo ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự địa phương, xâm phạm nghiêm trọng đến pháp luật hình sự. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, khoản 1, Điều 52 Bộ luật hình sự. Do đó, cần xử lý nghiêm đối với bị cáo để nhằm răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Tuy nhiên, khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo. Nên xem đây là tình tiết giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về xử lý vật chứng: Căn cứ: Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. 01 túi niêm phong số: 747/M1 ghi ngày 16/10/2023; 01 túi niêm phong số: 747/M2 ghi ngày 16/10/2023 của Phòng K3 Công an tỉnh T; 01 túi đeo quai chéo bằng da màu đen, đã qua sử dụng. Các vật chứng này không có giá trị, không sử dụng được nên cần tịch thu và tiêu hủy. Hoàn trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu hồng, số máy: MKU92Z P/A, số seri: C39QMN9GGRX5, kèm theo sim số: 0945367200 đã qua sử dụng.

[7] Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cao Văn T2 đã nhận lại được tài sản nên không có yêu cầu, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ: Điểm i khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu L 02 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/10/2023.

Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Cao Văn T2 không có yêu cầu gì, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) túi niêm phong số: 747/M1, 01 (một) túi niêm phong số: 747/M2, cùng có ghi ngày 16/10/2023 với hình dấu màu đỏ có nội dung PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ - CÔNG AN TỈNH TRÀ VINH và chữ ký ghi tên Nguyễn Văn M1, Lê Dương T3; 01 (một) túi đeo quai chéo bằng da, màu đen đã qua sử dụng. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Hữu L 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus màu hồng, số máy: MKU92Z P/A, số seri: C39QMN9GGRX5, kèm theo sim số: 0945367200 đã qua sử dụng.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ: Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Nguyễn Hữu L phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án sơ thẩm xét xử công khai, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND TP. Trà Vinh;
  • - THADS TP. Trà Vinh;
  • - Công an TP. Trà Vinh;
  • - Cơ quan điều tra CATP. Trà Vinh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Trà Vinh;
  • - Bị cáo;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, HS (...)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Lê Thị Thu Trang

6

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thu Trang

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/HS-ST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH, TỈNH TRÀ VINH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 04/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TRÀ VINH, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger