TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 04/2024/DS-PT Ngày: 09-01 - 2024 V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Văn Tâm
Các Thẩm phán: Bà Đào Thị Huệ
Ông Cao Minh Vỹ
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Lê Thanh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu: Ông Thái Quốc Bảo - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 09 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 227/2023/TLPT-DS ngày 27 tháng 10 năm 2023 về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 58/2023/DS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 243/2023/QĐ-PT ngày 13/12/2023, quyết định hoãn phiên tòa số 252/2023/QĐ-PT ngày 22/12/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hồng Đại P, sinh năm 1980; Địa chỉ: Tổ G, ấp T, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt).
- Bị đơn: Ông Phan Văn T, sinh năm 1956; Hộ khẩu thường trú: Tổ E, ấp N, xã X, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Chỗ ở: Ấp T, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Phan Thị Hồng H, sinh năm 1984; Hộ khẩu thường trú: Ấp N, xã X, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Chỗ ở: Khu phố P, thị trấn P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt).
- Bà Trần Thị L, sinh năm 1956; Địa chỉ: Tổ E, ấp N, xã X, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt).
- Bà Huỳnh Thị Mỹ H1, sinh năm 1987; Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt).
- Ủy ban nhân dân huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Địa chỉ: Quốc lộ E, thị trấn P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị Trang Đ - chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện X. (Vắng mặt).
- Người làm chứng:
- Ông Hoàng N, sinh năm 1976. Địa chỉ: Ấp N, xã X, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt).
- Ông Trần T1, sinh năm 1951; Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; (Có mặt).
- Ông Trần Ngọc Q1, sinh năm 1958. Địa chỉ: Số B ấp N, xã X, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt).
- Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1960. Địa chỉ: Ấp N, xã X, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt).
- Ông Nguyễn Ngọc T3, sinh năm 1971. Địa chỉ: Ấp T, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt).
- Người kháng cáo: Ông Hồng Đại P là nguyên đơn trong vụ án.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Hồng Đại P: Luật sư Huỳnh Nhật Q, sinh năm 1995 – Công ty L2 – chi nhánh huyện D, tỉnh Bình Dương (thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B). (Có mặt).
Người đại diện theo ủy quyền của ông Phan Văn T: Bà Phan Thị Hồng H, sinh năm 1984; Hộ khẩu thường trú: Ấp N, xã X, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Chỗ ở: Khu phố P, thị trấn P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn ông Hồng Đại P và người đại diện theo ủy quyền của ông P trình bày: Năm 2005, ông P có mua phân bón cho cha vợ ông là ông Phan Văn T với số tiền khoảng 4.000.000 đồng. Số tiền trên ông T không trả bằng tiền mặt mà gán các thửa đất số 17, 18, 19, tờ bản đồ số 39, tổng diện tích 2693m² tại ấp T, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cho ông P. Ông P mua phân bón của ông B gần nhà ở xã P, việc mua phân bón không có chứng cứ gì, không có hóa đơn. Việc gán đất bằng miệng, không làm giấy tờ, không ai làm chứng. Lúc đó ông P và ông T là thành viên trong gia đình nên việc nhờ mua phân bón chỉ trao đổi bằng miệng và gán đất cũng thỏa thuận bằng miệng không có ai làm chứng. Đến năm 2006, khi thực hiện đo đạc, đăng ký kê khai, ông P đã đăng ký và có giấy biên nhận đo đạc. Nguồn gốc đất do ông T2 khai phá sau đó cho lại ông T sử dụng.
Vợ ông T là bà Trần Thị L không sống trên thửa đất hiện nay ông đang tranh chấp với ông T và không lấn chiếm đất của ông nên ông không kiện bà L ma chỉ khởi kiện một mình ông T.
Qua đo đạc của Chi nhánh văn phòng đất đai huyện X, thửa đất tranh chấp hiện nay có tổng diện tích là 2275,4m², trong đó thửa 17 diện tích 192,8m², thửa 18 diện tích 974,1m², thửa 19 diện tích 1108.5m² thuộc tờ bản đồ số 39, xã P, đề nghị Tòa án căn cứ vào diện tích đất đã đo đạc để giải quyết vụ án, những diện tích đất còn lại chưa chỉ ranh ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nay ông P yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất cho ông P đối với các thửa đất số 17, 18, 19, tờ bản đồ số 39, tổng diện tích 2275,4m² tại ấp T, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Đồng thời yêu cầu ông Phan Văn T trả lại cho ông P các thửa đất trên.
- Quá trình tố tụng tại Tòa án, bị đơn ông Phan Văn T và người đại diện theo ủy quyền của ông T trình bày: Vào năm 1980 ông T khai phá các thửa đất số 17, 18, 19, tờ bản đồ số 39, diện tích đất 2.699m², gia đình ông T sử dụng ổn định từ năm 1980 đến nay. Vào năm 2005 do kinh tế khó khăn nên ông T đi làm ăn xa, năm 2006 có chủ trương đo đạc đất để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông T không về được, lúc đó ông T nhờ con gái là bà H ở nhà chỉ ranh đất cho cán bộ đo đạc về đo đất. Tuy nhiên bà H bận đi làm nên nhờ chồng là ông Hồng Đại P chỉ ranh đất để cho cán bộ đo đạc, khi đo đạc chỉ ranh thì ông P kê khai đăng kí xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông P. Do ông P đăng kí kê khai tên của ông P vào sổ mục kê nên khi ông T đi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bị từ chối. Năm 2005 ông T đi L làm phụ hồ do hoàn cảnh khó khăn, thời điểm đó ông T không còn làm rẫy nữa nên không có việc ông P mua phân bón cho ông.
Sau khi khai phá các thửa đất tranh chấp vào năm 1980 thì ông T trồng điều trên đất, được hai năm điều chết thì ông T trồng tràm. Ông T sử dụng liên tục từ năm 1980, đến năm 2018 ông T bị tai biến không canh tác được, để trống và vợ ông T trông coi, đến năm 2019 ông T hết tai biến thì ông T tiếp tục canh tác cho tới nay. Năm 2019 ông T có làm một chòi lá trên đất, đến năm 2021 thì ông T dỡ chòi lá và xây dựng căn nhà cấp 4. Quá trình sử dụng đất thì ông T có đóng thuế cho nhà nước đầy đủ, nhưng ông T chỉ giữ được hai biên lai thu thuế sử dụng đất vào năm 2000 và năm 2001, những năm khác đã bị đất lạc.
Trước đây ông Hồng Đại P là con rể của ông T, kết hôn với bà H là con gái ông T vào năm 2003, đến năm 2016 thì ly hôn, từ khi ông P ly hôn với bà H thì ông Phú không lui tới đất tranh chấp, khi ông T làm nhà thì ông P cũng không có ý kiến.
Qua đo đạc của Chi nhánh văn phòng đất đai huyện X, thửa đất tranh chấp hiện nay có tổng diện tích là 2275,4m², trong đó thửa 17 có diện tích là 192,8m², thửa 18 có diện tích là 974,1m², thửa 19 có diện tích là 1108.5m² thuộc tờ bản đồ số 39 xã P, đề nghị Tòa án căn cứ vào diện tích đất đã đo đạc để giải quyết vụ án, những diện tích đất còn lại chưa chỉ ranh ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nay ông T không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông P, đồng thời ông T yêu cầu phản tố: Yêu cầu Tòa án công nhận cho ông T được quyền sử dụng các thửa đất số 17, 18, 19, tờ bản đồ số 39, có diện tích 2275,4m², xã P, huyện X; Đồng thời tuyên cho ông được quyền liên hệ cơ quan co thẩm quyền làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất trên.
Riêng ông và vợ ông là bà Trần Thị L đã sống ly thân từ năm 2004 đến nay, bà L đã sinh sống ở thửa đất kế bên đất tranh chấp, không tranh chấp thửa đất này với ông T, do đó ông T đề nghị Tòa án công nhận quyền sử dụng đất cho ông T.
- Quá trình tố tụng giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
+ Bà Phan Thị Hồng H trình bày: Vào năm 1980 cha bà là ông Phan Văn T có khai phá thửa đất số 17, 18, 19, tờ bản đồ số 39, tổng diện tích 2699m², xã P, huyện X, đồng thời ông T sử dụng ổn định từ năm 1980 đến nay. Năm 2002 khi bà chưa cưới ông P thì ông T có tặng cho bà thửa đất trên, tặng cho chỉ nói miệng nhưng không làm giấy tờ gì và bà cũng chưa canh tác sử dụng ngày nào, khi đó đất xấu quá không làm gì được nên bà xin ông T thửa đất khác trả thửa đất đó lại cho ông T.
Năm 2003 thì bà kết hôn với ông P, năm 2006 bên đo đạc có về đo đất, ông T nhờ bà chỉ ranh đất để cho họ đo, nhưng lúc đó bà đi làm nên nhờ ông P chỉ ranh cho họ, lúc đó ông P kê khai lên tờ biên nhận là tên của ông P là chủ sử dụng đất nên sau này ông T xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không được. Các thửa đất trên ông T trực tiếp canh tác sử dụng từ năm 1980 đến nay, ông T trồng tràm, đến năm 2019 thì ông T có làm chòi lá trên đất, đến năm 2021 thì tháo dỡ chòi lá để xây nhà và canh tác đến nay. Năm 2006 ông P có mua phân dùm cho mẹ bà là 3.000.000 đồng, mẹ bà và ông P tự thanh toán với nhau, cha mẹ bà đã ly thân từ 2004 cho tới nay, không có việc ông T gán các thửa đất trên cho ông P. Đề nghị Tòa án công nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất số 17, 18, 19 cho ông T, riêng bà không có yêu cầu gì.
+ Bà Huỳnh Thị Mỹ H1 trình bày: Thửa đất số 17, 18, 19 tờ bản đồ số 39 là tài sản của ông P trước khi kết hôn với bà, từ khi kết hôn vợ chồng bà làm nhà riêng sinh sống ở một thửa đất khác tại xã P huyện X, vợ chồng bà không sử dụng thửa đất số 17, 18, 19 tờ bản đồ số 39 và không tạo lập tài sản gì trên đất. Nguồn gốc của thửa đất này bà có nghe ông P nói do ông T khai hoang, sau này ông T thiếu nợ tiền phân nhờ ông P đứng ra trả và ông T gán các thửa đất này cho ông P. Đây là tài sản riêng của ông P nên ông P đứng ra giải quyết tranh chấp với ông T. Bà không liên quan và cũng không có yêu cầu gì trong vụ án. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
+ Bà Trần Thị L trình bày: Bà kết hôn với ông Phan Văn T vào năm 1976, vợ chồng bà không hòa thuận nên đã ly thân vào năm 2004. Ông T sống một mình tại thửa đất số 17, 18, 19 tờ bản đồ số 39. Còn bà sinh sống ở thửa đất liền kề (thửa đất số 06 tờ bản đồ số 25) với con gái bà. Thửa đất số 17, 18, 19 tờ bản đồ số 39 do ông T khai hoang vào năm 1980, bà có biết các thửa đất trên. Thời điểm năm 1980 ông T khai hoang các thửa đất này bà đang ở Tiền Giang, đến một hai năm sau ông T mới đưa vợ con đến sinh sống ở thửa đất liền kề (thửa đất số 06 tờ bản đồ số 25). Từ khi ông T khai hoang các thửa đất số 17, 18, 19 thì bà không canh tác trên đất mà chỉ quản lý đất cho ông T khi ông T đi làm ăn xa. Do đó đây là tài sản riêng của ông T. Ông T không nhờ ông P mua phân như ông P trình bày, bà cũng không nhờ ông P mua phân. Ông T và ông P tranh chấp với nhau thì ông T và ông Phú t giải quyết, bà không liên quan và cũng không có yêu cầu gì trong vụ án. Đề nghị Tòa án công nhận quyền sử dụng đất thửa số 17, 18, 19 tờ bản đồ số 39 cho ông T, bà không có ý kiến gì.
- Người làm chứng trình bày:
+ Ông Trần Ngọc Q1 trình bày: Năm 1993 ông có mua thửa đất gần đất hiện nay ông P đang tranh chấp với ông T, sau khi mua đất ông làm chòi trên đất để canh tác. Khi ông đến thì có thấy nhà vợ chồng ông T ở sát bên thửa đất tranh chấp, đồng thời ông T đã khai hoang các thửa đất số 17, 18, 19 và sử dụng đất để trồng tràm.
Thời điểm đó ông T ở chòi tranh sát bên đất tranh chấp, sau này ông T tháo dỡ và xây dựng căn nhà hiện nay vợ và con gái của ông T đang ở, thửa đất này ông T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Còn thửa đất tranh chấp thì ông T sử dụng để trồng tràm, sử dụng được một thời gian đến năm 2005 thì ông T đi làm hồ ở xa, đến năm 2021 có xây nhà ở đến nay. Khi ông T làm nhà thì không có ai ngăn cản. Trong thời gian canh tác giáp ranh thửa đất tranh chấp ông không thấy ông P canh tác sử dụng đất, sau khi bà H kết hôn với ông P thì về nhà chồng ở, ông không thấy ông P lui tới đất tranh chấp, lý do vì sao ông P kê khai đăng kí sử dụng đất thì ông không biết. Đơn chứng nhận nguồn gốc đất ngày 30/9/2021 của ông Phan Văn T có ông ký tên làm chứng và xác nhận nội dung “Tôi biết thửa đất của anh Phan Văn T là người canh tác thửa đất nêu trên”.
+ Ông Trần T1 trình bày: Năm 1983 ông có khai hoang đất rẫy và canh tác đất giáp ranh với các thửa đất ông P tranh chấp với ông T thuộc thửa số 17, 18, 19. Khi ông đến khai hoang thì ông T đã khai hoang các thửa đất trên và sử dụng đất để trồng tràm. Thời điểm đó ông T ở chòi tranh sát bên đất tranh chấp, là thửa đất hiện nay ông T đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chòi tranh này khi ông đến khai hoang đất đã thấy, chòi tranh sau này ông T tháo dỡ và xây dựng căn nhà khác, căn nhà này hiện nay vợ và con gái của ông T đang ở. Còn thửa đất tranh chấp kế bên thì ông T sử dụng để trồng tràm, đến năm 2005 thì ông T đi làm hồ ở xa, vợ con ông T vẫn ở trên thửa đất kế bên.
Thửa đất tranh chấp thì ông T đã làm nhà ở từ năm 2021 đến nay. Trong thời gian canh tác giáp ranh thửa đất tranh chấp, ông không thấy ông P canh tác sử dụng đất, sau khi bà H kết hôn với ông P thì về nhà chồng ở, ông không thấy ông P lui tới đất tranh chấp, lý do vì sao ông P kê khai đăng kí sử dụng đất thì tôi không biết. Đơn chứng nhận nguồn gốc đất ngày 30/9/2021 của ông Phan Văn T có ông ký tên làm chứng và xác nhận nội dung “Hiện nay tôi ở đây từ năm 1983 cho đến nay, có ông Phan Văn T ở cạnh tôi từ trước đến nay, có biết miếng đất đó là ông T khai phá”.
- Ông Hoàng N trình bày: Ông là hàng xóm láng giềng với ông Phan Văn T chứ không có mối quan hệ gì. Thửa đất số 17, 18, 19 hiện nay ông P tranh chấp với ông T nguồn gốc do ông T khai phá, khai phá từ thời gian nào thì ông không biết, nhưng ông biết ông T sử dụng các thửa đất này cách đây mấy chục năm rồi. Ông thường xuyên lui tới nên biết sự việc. Năm 2005 ông T đi làm ăn xa thì vợ con của ông T ở sát bên quản lý. Trong thời gian ông T đi thì vợ con ông T trồng chuối trên đất.
Ông T có làm chòi tranh sát bên thửa đất tranh chấp cách đây lâu lắm rồi, thời gian cụ thể ông không nhớ, sau này ông T xây nhà, căn nhà hiện nay vợ con ông T đang ở. Riêng thửa đất tranh chấp thì vào năm 2021 ông T xây dựng nhà trên đất, khi ông T xây dựng nhà thì không ai ngăn cản. Trong thời gian canh tác giáp ranh thửa đất tranh chấp, ông không thấy ông P canh tác sử dụng đất, sau khi bà H kết hôn với ông P thì về nhà chồng ở, ông không thấy ông P lui tới đất tranh chấp, lý do vì sao ông P kê khai đăng kí sử dụng đất thì ông không biết.
+ Ông Nguyễn Văn T2 trình bày: Ông Phan Văn T là bạn của ông, còn ông P là con cháu trong nhà. Từ năm 1979 ông khai hoang đất và sử dụng đất sát thửa đất tranh chấp giữa ông P và ông T (thửa đất số 17, 18, 19). Nguồn gốc thửa đất số 17, 18, 19 tờ bản đồ số 39 do ông khai phá vào khoảng năm 1978 - 1979, khoảng đến năm 1986 thì cha của ông là ông Nguyễn Văn C (đã chết năm 2017) tặng cho ông T, khi tặng cho chỉ nói miệng chứ không làm giấy tờ gì, sau này ông cũng giữ lời với cha ông là đồng ý cho ông T chứ không tranh chấp gì.
Sau khi cha ông tặng cho ông T thì ông T để đó không sử dụng vì đất vùng đó bị ngập nước không canh tác gì được. Đến năm 2015 thì ông P nói với ông là cha mẹ vợ (ông T và bà L) bán lại cho ông P và nhờ ông hỗ trợ ông P làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Lúc đó ông nói với ông P cứ làm giấy tờ đi ông ký. Đến năm 2021 ông P thấy ông T cất chòi lá trên đất thì các bên xảy ra tranh chấp. Sự việc tranh chấp cụ thể như thế nào ông không rõ. Đất ông khai phá đã cho ông T từ lâu, ông không tranh chấp các thửa đất trên nữa. Việc ông P và ông T mua bán như thế nào tự giải quyết với nhau, Tòa án công nhận đất cho ai thì người đó được quyền sử dụng, ông không liên quan gì cũng không có yêu cầu gì.
+ Ông Nguyễn Ngọc T3 trình bày: Vào năm 2005 ông kinh doanh buôn bán tạp hóa liền kề với đại lý phân bón của ông Nguyễn Văn B1, địa chỉ ở ấp T, xã P. Ông P là hàng xóm với ông và ông B1, vào thời điểm này ông có thấy ông P đến nhà ông B1 để mua phân bón, ông hỏi sao anh mua nhiều vậy thì ông P nói là mua cho cha vợ là ông Phan Văn T.
Việc gán đất giữa ông T cho ông P thì ông không biết và không chứng kiến, ông chỉ nghe ông P kể lại. Nay ông P khởi kiện ông T thì ông không có ý kiến gì.
- Tại công văn số 1543/TNMT ngày 30/9/2022, Phòng Tài nguyên - Môi trường Ủy ban nhân dân huyện X xác nhận: Diện tích 2693m² thuộc các thửa đất số 17, 18, 19 tờ bản đồ số 39 (bản đồ địa chính 2010) xã P chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho cá nhân, tổ chức nào.
Theo quy hoạch sử dụng đất đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050 của huyện X được UBND tỉnh B phê duyệt tại Quyết định số 1098/QĐ-UBND ngày 01/4/2022 thì thửa đất số 17 tờ bản đồ số 39 xã P quy hoạch đất trồng cây hàng năm khác (BHK) và thửa đất số 18, 19 bản đồ số 39 xã P quy hoạch đất nuôi trồng thủy sản.
Theo số liệu hồ sơ địa chính năm 2010 thửa đất số 17, 18, 19 tờ bản đồ số 39 thông tin chủ sử dụng đất trong sổ mục kê thể hiện thông tin ông Hồng Đại P.
Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện theo Điều 100, 101 Luật đất đai năm 2013 và Điều 20 của Nghị định số 43/2013/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai.
- Tại công văn số 264/UBND-ĐC ngày 29/4/2022, Ủy ban nhân dân xã P, huyện X xác nhận: Các thửa đất số 17, 18, 19 tờ bản đồ số 39 diện tích 2693m² (bản đồ 2010) tương ứng một phần thửa số 04, 05 tờ bản đồ 25 (bản đồ 2003). Qua kiểm tra hồ sơ địa chính:
Số liệu hồ sơ địa chính năm 2000: Thửa đất 04, 05 tờ bản đồ số 25 thông tin thể hiện đất đất hoang (H) sổ mục kê không ai đăng ký.
Số liệu hồ sơ địa chính 2010: Thửa đất số 17, 18, 19 tờ bản đồ số 39 thông tin thể hiện đất trồng cây hàng năm khác (BHK) và đất nuôi trồng thủy sản ngọt (TSN), số mục kê do ông Hồng Đại P là người đăng ký.
Các thửa đất số 17, 18, 19 tờ bản đồ 39 hiện chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ai và đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất hợp pháp.
- Tại bản án dân sự sơ thẩm số 58/2023/DS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc đã quyết định như sau:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồng Đại P đối với bị đơn ông Phan Văn T, về việc tranh chấp quyền sử dụng đất, đối với thửa đất có diện tích 2275,4m², thuộc thửa đất số 17, 18, 19 (trong đó thửa đất số 17 có diện tích là 192,8m², thửa đất số 18 có diện tích là 974,1m², thửa đất số 19 có diện tích là 1108,5m²), toạ lạc tại xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, có toạ độ 1-2-3-4-5-6-7-8-9-10-11-12-13-14-15-1, theo Mảnh trích đo địa chính (phục vụ giải quyết tranh chấp QSD đất) do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lập ngày 24-06-2022.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn ông Phan Văn T đối với nguyên đơn ông Hồng Đại P.
Công nhận cho ông Phan Văn T được quyền sử dụng hợp pháp đối với thửa đất có diện tích 2275,4m², thuộc thửa đất số 17, 18, 19 (trong đó thửa đất số 17 có diện tích là 192,8m², thửa đất số 18 có diện tích là 974,1m², thửa đất số 19 có diện tích là 1108,5m²) toạ lạc tại ấp T, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, có toạ độ 1-2-3-4-5-6-7-8-9-10-11-12-13-14-15-1, theo Mảnh trích đo địa chính (phục vụ giải quyết tranh chấp QSD đất) do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lập ngày 24-06-2022.
Ông Phan Văn T được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục đăng ký và tiến hành thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí đo vẽ, xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản, án phí, nghĩa vụ do chậm thi hành án và quyền kháng cáo.
- Ngày 01/8/2023 ông Hồng Đại P kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết: Sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P, yêu cầu ông T trả lại cho ông P các thửa đất số 17, 18, 19 tờ bản đồ số 39, diện tích 2693m², xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và công nhận quyền sử dụng đối với các thửa đất trên cho ông P
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, bị đơn giữ nguyên yêu cầu phản tố. Các đương sự không thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án và không cung cấp tài liệu, chứng cứ mới.
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồng Đại P; có căn cứ chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Phan Văn T. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của ông Hồng Đại P, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Hồng Đại P:
[1.1] Về nguồn gốc đất tranh chấp:
Theo Mảnh trích đo địa chính ngày 24-06-2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đất tranh chấp diện tích 2275,4m² thuộc thửa số 17, 18, 19, tờ bản đồ số 39, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (trong đó thửa số 17 diện tích 192,8m², thửa số 18 diện tích là 974,1m², thửa số 19 diện tích 1108,5m²) có tọa độ 1-2-3-4-5-6-7-8-9-10-11-12-13-14-15-1. Trên đất hiện nay có một căn nhà cấp 4 diện tích 30m². Ông T cho rằng đất tranh chấp do ông T khai phá sử dụng từ năm 1980 đến nay; ông P cho rằng đất tranh chấp nêu trên do ông T quản lý sử dụng từ trước năm 2005, đến năm 2006 thì ông T đã gán đất lại cho ông P để trừ tiền phân bón.
Qua xác minh, ông Vũ Văn T4 là trưởng ấp N, xã X xác nhận nguồn gốc thửa đất số 17, 18, 19 do ông Phan Văn T khai phá từ rất lâu, cụ thể năm nào không nhớ. Thời điểm ông T khai phá các thửa đất này là cùng với rất nhiều diện tích đất khác giáp ranh, ông T khai phá mấy hecta nhưng đã bán đi nhiều, còn lại diện tích bao nhiêu ông T4 không rõ, sau khi khai phá thì ông T sử dụng liên tục.
Ông Bùi Đức H2 là công an xã X, huyện X xác nhận nguồn gốc các thửa đất số 17, 18, 19 trước đây do ông Phan Văn T khai phá và sử dụng, cụ thể năm nào thì ông H2 không rõ, ông Hồng Đại P có sử dụng các thửa đất trên hay không thì ông H2 không rõ. Hiện nay ông T xây nhà và đang ở trên đất tranh chấp.
Tại Phiếu lấy ý kiến của khu dân cư ngày 05/5/2023 do ông Trương Minh L1 là trưởng ấp T, xã P chủ trì, cuộc họp đã thống nhất xác định nguồn gốc các thửa đất số 17, 18, 19 do ông Phan Văn T khai phá năm 1980 và sử dụng cho đến nay.
Người làm chứng là ông Trần T1, ông Trần Ngọc Q1, ông Hoàng N là những hộ dân sử dụng đất giáp ranh đều khẳng định diện tích đất tranh chấp do ông T khai phá; Người làm chứng ông T2 cho rằng đất tranh chấp do ông T2 khai hoang vào năm 1978 - 1979, đến năm 1986 thì ông T2 tặng cho lại cha của ông T2 là ông Nguyễn Văn C (đã chết) và ông C đã tặng cho lại ông Phan Văn T, sau này ông cũng giữ lời hứa với cha ông là đồng ý cho ông T chứ không tranh chấp gì.
Qua trình bày của các đương sự, lời khai người làm chứng và qua xác minh thể hiện diện tích đất tranh chấp nêu trên có nguồn gốc là do ông Phan Văn T khai phá từ năm 1980 như trình bày của ông T.
[1.2] Về thỏa thuận cấn trừ đất giữa ông Hồng Đại P và ông Phan Văn T: Trước đây ông Hồng Đại P là con rể của ông Phan Văn T. Ông P kết hôn với con ruột ông T là bà Phan Thị Hồng H vào năm 2003, ly hôn năm 2016. Ông P cho rằng năm 2005 ông có mua phân bón cho ông T với số tiền 4.000.000 đồng, số tiền này ông T không trả bằng tiền mặt mà gán các thửa đất số 17, 18, 19 cho ông P, việc mua phân bón dùm không có chứng cứ gì, ông T nhờ mua phân bón cũng trao đổi bằng lời nói và thỏa thuận gán đất cũng bằng lời nói không có người làm chứng (bút lục 98, 125, 131, 180).
Người làm chứng ông Nguyễn Ngọc T3 cho biết có chứng kiến việc ông P lui tới tiệm ông B1 để mua phân bón, ông T3 hỏi thì ông P nói mua cho cha vợ, nhưng ông T3 không biết và không chứng kiến việc ông T gán đất cho ông P. Ông T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Phan Thị Hồng H (con ruột của ông Phan Văn T) và bà Trần Thị L (vợ ông T) không thừa nhận việc ông T gán đất cho ông P để trừ tiền phân bón. Ông P không cung cấp được chứng cứ chứng minh có giao dịch gán đất giữa ông P và ông T nên trình bày của ông P cho rằng ông T gán các thửa đất tranh chấp cho ông P vào năm 2005 là không có căn cứ chấp nhận.
[1.3] Về quá trình sử dụng đất tranh chấp:
Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 01/4/2022, biên bản định giá tài sản ngày 26/8/2022, trên đất tranh chấp hiện nay có một số cây trồng và cây rừng, toàn bộ cây trồng đều là một năm tuổi. Qua lời khai của các đương sự và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định diện tích đất tranh chấp do ông T đang quản lý sử dụng, căn nhà cấp 4 do ông T xây, một số cây trồng trên đất do ông T trồng.
Ông T cho rằng sau khi khai hoang thì ông sử dụng đất để trồng điều, được hai năm điều chết thì ông trồng tràm, đến năm 2018 thì ông bị tai biến không canh tác được vợ ông trông coi, năm 2019 ông hết tai biến thì ông tiếp tục canh tác và ông làm chòi lá trên đất, đến năm 2021 thì tháo dỡ chòi lá và xây dựng căn nhà cấp 4, quá trình sử dụng đất có đóng thuế đầy đủ nhưng nhiều biên lai thu thuế đã thất lạc, còn 01 biên lai thu thuế sử dụng đất ngày 17/6/2001 và 01 thông báo nộp thuế sử dụng đất nông nghiệp và thuế đất ngày 10/4/2002.
Ông P cho rằng ông P bắt đầu sử dụng đất từ năm 2005 để trồng tràm, tuy nhiên tràm hiện nay không còn, chỉ còn một số cây tràm tự mọc. Ông P cho rằng sau khi kết hôn với bà H thì vợ chồng ông không sinh sống trên thửa đất tranh chấp mà sống ở căn nhà khác tại tổ G, ấp T, xã P, trên đất tranh chấp hiện nay không có tài sản gì của ông P. Năm 2020 ông P kết hôn với bà H1, bà H1 xác nhận từ khi kết hôn vợ chồng làm nhà riêng sinh sống ở thửa đất khác, không sử dụng thửa đất số 17, 18, 19 tờ bản đồ số 39 và không tạo lập tài sản gì trên đất (Bút lục 87). Do vậy không có căn cứ xác định ông P sử dụng đất từ năm 2005.
Qua tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện từ năm 1994 vợ chồng ông T làm nhà sinh sống trên đất giáp ranh đất tranh chấp, nhiều thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2004 cho ông T, gồm thửa số 06 (06, 42, 43, 44, 45, 46, 54, 55, 56) tờ bản đồ số 25, xã P, nguồn gốc do ông T phục hóa từ năm 1994 và sử dụng ổn định đến nay (Bút lục từ số 44 đến 57).
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời khai người làm chứng, các biên bản xác minh, phiếu lấy ý kiến của khu dân cư, có căn cứ xác định ông Phan Văn T là người khai hoang, sử dụng ổn định đất tranh chấp đến nay.
[1.4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Theo công văn số 264/UBND-ĐC ngày 29/4/2022 của Ủy ban nhân dân xã P cung cấp “Các thửa đất số 17, 18, 19 tờ bản đồ số 39 diện tích 2693m² (bản đồ 2010) tương ứng một phần thửa số 04, 05 tờ bản đồ 25 (bản đồ 2003). Qua kiểm tra hồ sơ địa chính: Số liệu hồ sơ địa chính năm 2000: Thửa đất 04, 05 tờ bản đồ số 25 thông tin thể hiện đất đất hoang (H) sổ mục kê không ai đăng ký. Số liệu hồ sơ địa chính 2010: Thửa đất số 17, 18, 19 tờ bản đồ số 39 thông tin thể hiện đất trồng cây hàng năm khác (BHK) và đất nuôi trồng thủy sản ngọt (TSN), sổ mục kê do ông Hồng Đại P là người đăng ký”. Công văn số 1543/TNMT ngày 30/9/2022 của Phòng Tài nguyên - Môi trường huyện X cung cấp thông tin “theo số liệu hồ sơ địa chính năm 2010, thửa đất số 17, 18, 19 tờ bản đồ số 39 thông tin sử dụng đất trong sổ mục kê thể hiện thông tin ông Hồng Đại P”. Tại Giấy biên nhận đề ngày 04/12/2006 thể hiện tên chủ hộ là ông Hồng Đại P.
Ông T cho rằng do không hiểu biết pháp luật, sau khi khai hoang ông không làm thủ tục kê khai đăng ký. Vào năm 2005 kinh tế khó khăn thì ông đi làm ăn xa, đất này để lại cho con gái là bà H trông coi. Năm 2006 có chủ trương đo đạc đất để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông không về được, lúc đó ông nhờ con gái ông là bà H ở nhà chỉ ranh đất cho cán bộ đo đạc đo đất, tuy nhiên bà H bận đi làm nên nhờ chồng là ông Hồng Đại P chỉ ranh đất để cho cán bộ tỉnh đo đạc, khi đo đạc chỉ ranh thì ông P kê khai đăng kí xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông P.
Như phân tích ở phần trên, các đương sự đều thừa nhận nguồn gốc đất tranh chấp là của ông Phan Văn T. Mặc dù ông P là người kê khai đăng kí và được ghi tên vào sổ mục kê vào năm 2010, nhưng ông P không chứng minh được việc ông P gán đất đối với ông T cũng như không chứng minh được quá trình ông P trực tiếp sử dụng đất từ năm 2005 đến nay. Năm 2006 ông P và bà H chưa ly hôn, ông P là con rể trong gia đình nên ông T và bà H khai nhờ ông P đi chỉ ranh đất là có cơ sở.
Hiện nay trên đất tranh chấp không có tài sản gì của ông P và ông P cũng không có diện tích đất nào liền kề đất tranh chấp. Những hộ dân sinh sống ở gần khu vực đất tranh chấp đều khẳng định thửa đất tranh chấp do ông T khai hoang và sử dụng ổn định, đồng thời hiện nay ông T cũng đang quản lý sử dụng đất tranh chấp. Không có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Hồng Đại P về việc yêu cầu công nhận cho ông P được quyền sử dụng các thửa đất số 17, 18, 19, tờ bản đồ số 39, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và yêu cầu bị đơn trả lại các thửa đất trên cho nguyên đơn.
[1.5] Xét yêu cầu phản tố của bị đơn:
Xét nguồn gốc và quá trình sử dụng đất như đã phân tích ở phần trên, những tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án thể hiện nguồn gốc đất tranh chấp là của ông Phan Văn T khai hoang từ năm 1980, hiện nay ông T đã xây nhà ở trên đất và đang quản lý sử dụng đất, ông P không xuất trình được chứng cứ chứng minh việc ông T gán đất cho ông P. Công văn số 1543/TNMT ngày 30/9/2022 của Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện X xác nhận thửa đất số 17 tờ bản đồ số 39 xã P thuộc quy hoạch đất trồng cây hàng năm khác (BHK), thửa đất số 18, 19 tờ bản đồ số 39 xã P quy hoạch đất nuôi trồng thuỷ sản. Công văn số 264/UBND-ĐC ngày 29/4/2022 của Ủy ban nhân dân xã P xác nhận thửa đất số 17, 18, 19 tờ bản đồ số 39 hiện nay chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ai và đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất hợp pháp. Bà L (vợ ông T) cho rằng vợ chồng bà đã ly thân từ năm 2004, bà không tranh chấp với ông T thửa đất này, đề nghị Tòa án công nhận quyền sử dụng các thửa đất tranh chấp cho ông T, bà không có yêu cầu gì trong vụ án.
Căn cứ khoản 2 Điều 101 Luật đất đai năm 2013, các Điều 20, 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai, có cơ sở chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Phan Văn T, ông Phan Văn T được quyền sử dụng diện tích đất 2275,4m² thửa số 17, 18, 19, tờ bản đồ số 39, xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo Mảnh trích đo địa chính do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lập ngày 24-06-2022. Ông T được quyền liên hệ cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục về quyền sử dụng đất đối với các thửa đất nêu trên theo quy định.
[1.6] Từ nhận định trên, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Hồng Đại P.
[2] Chi phí đo vẽ, xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 6.635.000 đồng: Do yêu cầu khởi kiện của ông ông Hồng Đại P không được chấp nhận nên ông P phải chịu.
[3] Án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của ông ông Hồng Đại P không được chấp nhận nên ông P phải chịu; ông Phan Văn T không phải chịu. Án sơ thẩm không giải quyết tiền tạm ứng án phí phản tố của ông Phan Văn T là thiếu sót, sửa phần này của bản án sơ thẩm.
[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông ông Hồng Đại P không được chấp nhận nên ông P phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Không chấp nhận kháng cáo của ông Hồng Đại P. Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 58/2023/DS-ST ngày 19 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, như sau:
Căn cứ vào các Điều 147, 157, 165, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 101, 203 Luật Đất đai năm 2013; các Điều 20, 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; các Điều 26, 27, 29 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hồng Đại P đối với bị đơn ông Phan Văn T về việc tranh chấp quyền sử dụng đất diện tích 2275,4m² thửa số 17, 18, 19 (trong đó thửa số 17 diện tích 192,8m², thửa số 18 diện tích 974,1m², thửa số 19 diện tích 1108,5m²), xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, có toạ độ 1-2-3-4-5-6-7-8-9-10-11-12-13-14-15-1 Mảnh trích đo địa chính do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lập ngày 24-06-2022.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Phan Văn T.
- Chi phí đo vẽ, xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá là 6.635.000 đồng: Ông Hồng Đại P phải chịu. Đã nộp đủ.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Hồng Đại P phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0010812 ngày 18/02/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc. Đã nộp đủ.
- Ông Phan Văn T không phải chịu. Hoàn trả cho ông Phan Văn T 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0011157 ngày 30/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Hồng Đại P phải chịu 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0005324 ngày 01/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuyên Mộc. Đã nộp đủ.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
- Bản án có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Ông Phan Văn T được quyền sử dụng diện tích đất 2275,4m² thửa số 17, 18, 19 (trong đó thửa số 17 diện tích 192,8m², thửa số 18 diện tích 974,1m², thửa số 19 diện tích 1108,5m²), xã P, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, có toạ độ 1-2-3-4-5-6-7-8-9-10-11-12-13-14-15-1 Mảnh trích đo địa chính do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu lập ngày 24-06-2022.
Ông Phan Văn T được quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để thực hiện thủ tục về quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Văn Tâm |
Bản án số 04/2024/DS-PT ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 04/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/01/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ông P yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng đất cho ông P đối với các thửa đất số 17, 18, 19, tờ bản đồ số 39, tổng diện tích 2275,4m2 tại ấp Tân An, xã Phước Tân, huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Đồng thời yêu cầu ông T trả lại cho ông P các thửa đất trên.
