|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 04/2024/HS-ST Ngày: 09/01/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH TIỀN GIANG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Anh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Phó
- Bà Đặng Thụy Thùy Nga
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Mai Chi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Hoàng - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2023 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 148/2023/HSST ngày 23 tháng 11 năm 2023. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 162/2023/QĐXXST-HS ngày 22/12/2023 đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Lê Phát T; Giới tính: Nam; Sinh năm 1991, tại tỉnh Tiền Giang; Nơi thường trú: Số B, khu phố D, Phường I, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; Nơi ở hiện nay: ấp M, xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: lớp 12/Con ông Lê Hữu H và bà Nguyễn Thị T1; Bị cáo chưa có vợ, con; Nhân thân: Ngày 04/7/2023, bị UBND xã N, huyện T, tỉnh Long An ra quyết định xử phạt hành chính với số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định số 641/QĐ-XPHC; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 28/7/2023, chuyển tạm giam từ ngày 06/8/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang.
-
Họ và tên: Trần Thị Cẩm H1; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: M; Sinh năm 1987, tại tỉnh Tiền Giang; Nơi thường trú: Số A L, Phường F, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; Nơi ở hiện nay: Số D Hồ V, Phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: lớp 09/12; Con ông Trần Văn T2 và bà Trần Thị Mỹ D; Chồng: Nguyễn Minh T3; Bị cáo có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2018; Nhân thân: Ngày 04/7/2023, bị UBND xã N, huyện T, tỉnh Long An ra quyết định xử phạt hành chính với số tiền 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo Quyết định số 640/QĐ-XPHC; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 28/7/2023, chuyển tạm giam từ ngày 06/8/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.
* Bị hại: Võ Đức C, sinh năm 1961. Địa chỉ: Số C N, phường H, quận E, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Thị T1, sinh năm 1963. Địa chỉ: Số B khu phố D, phường I, thành phố M, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
- Nguyễn Minh T3, sinh năm 1982. Địa chỉ: Số A T, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Lê Thị Lệ H2, sinh năm 1973. Địa chỉ: Số B ấp L, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
- Trần Văn T2, sinh năm 1969. Địa chỉ: Số A L, Phường F, thành phố M, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
- Nguyễn Tấn P, sinh năm 1996. Địa chỉ: Số A Đ, phường C, thành phố M, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
* Người làm chứng:
- Lê Văn T4, sinh năm 1975. Địa chỉ: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
- Lê Bá L, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số B khu phố D, phường I, thành phố M, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
- Lê Thị Hoài N, sinh năm 2006. Địa chỉ: Số B khu phố D, phường I, thành phố M, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
- Nguyễn Minh T5, sinh năm 1988. Địa chỉ: ấp M, xã M, thành phố M, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
- Huỳnh Ngọc N1, sinh năm 1981. Địa chỉ: khu phố G, thị trấn T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Với mục đích đi trộm cắp tài sản nên vào khoảng 01 giờ ngày 02/3/2022, Lê Phát T điện thoại rủ H1 đi trộm cắp tài sản bán lấy tiền tiêu xài cá nhân thì H1 đồng ý. Hồng điều khiển xe môtô nhãn hiệu Vario màu đỏ - đen biển số 59S3 - 407.19 đến nhà trọ của T tại khu vực Ngã năm H thuộc xã Đ, thành phố M, tỉnh Tiền Giang để đón T. T điều khiển xe này, chở theo H1 đi theo đường Q, đến Ngã ba Đ thì rẽ vào đường tỉnh 876 theo hướng đi xã V, huyện C, tỉnh Tiền Giang, khi đến Ngã ba Huyện đội cũ thì rẽ vào huyện lộ 35 khoảng 02 km thì T và H1 phát hiện một ngôi nhà thờ tổ tiên làm bằng gỗ của anh Võ Đức C, sinh năm 1961, nơi thường trú: 3 N, Phường H, Quận E, thành phố Hồ Chí Minh không người trông coi (ngôi nhà này anh C có nhờ chị Võ Thị Ngọc S, sinh năm: 1974, nơi thường trú: ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Tiền Giang gần đó trông coi). T, H1 để xe ngoài đường rồi đi theo bãi đất trống cặp hàng rào bên phải của nhà quan sát, nhìn thấy các ghế đôn để ở khu vực nhà sau nên H1 đi ra ngoài đứng cảnh giới còn T leo qua hàng rào, đột nhập vào bên trong ngôi nhà lấy trộm 06 cái đôn bằng gốm màu xanh, trắng chân lục giác, mặt tròn, đường kính 30cm, chiều cao ghế 52cm đem ra ngoài để tại bãi đất trống khu vực cặp hàng rào. Cả hai lần lượt đem 03 cái đôn trộm được ra xe 59S3 - 407.19 chở đến để tại khu vực ngã ba Huyện đội cũ thuộc xã V, rồi tiếp tục quay lại bãi đất trống lấy tiếp 03 cái đôn còn lại chở thẳng về nhà trọ ở khu vực Ngã năm H thuộc xã Đ, thành phố M, tỉnh Tiền Giang cất giấu. Sau đó, cả hai quay trở lại khu vực ngã ba Huyện đội cũ để lấy 03 cái đôn đã để lại tại đây trước đó. T đem bán số tài sản trộm được với giá 18.000.000 đồng cho một người có tài khoản Facebook “Gốm xưa” (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể). Sau đó, T chia cho H1 số tiền 400.000 đồng, số tiền còn lại T đã tiêu xài cá nhân hết.
Đến khoảng 00 giờ ngày 04/3/2022, Trần Thị Cẩm H1 tiếp tục điều khiển xe môtô nhãn hiệu Vario màu đỏ - đen biển số 59S3 - 407.19 chở theo Lê Phát T đến nhà thờ tổ tiên của anh Võ Đức C tại ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Tiền Giang để trộm cắp tài sản. Khi đến nơi, T đột nhập vào khu vực phía trong nhà lấy trộm 02 cái ghế đôn trống bằng gốm màu trắng hình lục giác có hoa văn mai lan cúc trúc chiều cao 40cm, mặt trên và mặt dưới hình lục giác có đường kính 26,5cm để ở khu vực bên trong nhà mồ phía sau nhà thờ bằng gỗ còn H1 đứng bên ngoài cảnh giới. Sau khi lấy trộm được tài sản, T đem về nhà trọ rồi đem bán cho một người có tài khoản Facebook “Gốm xưa” (không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể) với giá 1.600.000 đồng, T chia cho H1 số tiền 200.000 đồng, số tiền còn lại T đã tiêu xài cá nhân hết.
* Vật chứng, đồ vật, dữ liệu điện tử thu giữ:
-
- 01 (một) đoạn camera an ninh từ con camera số 02 đặt tại vị trí phía sau nhà gỗ của ông Võ Đức C, mắt camera hướng vị trí để tài sản bị mất trộm. Trong đoạn dữ liệu camera thu giữ thời gian 03 giờ 49 phút 39 giây phát hiện 01 đối tượng nam đi đến vị trí đôn sành và lấy trộm. Người thanh niên mặc áo tay dài màu xanh, quần dài, có đeo khẩu trang. Thời gian 03 giờ 50 phút 28 giây người thanh niên trộm đôn đi ra.
-
- 01 (một) đoạn camera từ con camera số 03 đặt ở vị trí bên hông nhà quây ra miếng đất trống của người khác. Trong đoạn camera dữ liệu thu giữ thời gian 02 giờ 34 phút đến 03 giờ 55 phút phát hiện 01 thanh niên và 01 phụ nữ lấy những đôn vừa lấy trộm đem ra xe.
-
- 01 xe môtô hai bánh biển số 59S3 - 407.19, màu đỏ đen, nhãn hiệu Honda, số loại Vario, số máy JM41E1573156, số khung MH1JM411XLK573336 và 01 giấy đăng ký xe môtô biển số: 59S3- 407.19, số E, tên chủ xe: Nguyễn Minh T3, địa chỉ: 1 T, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.
- 01 bình hoa có chiều cao 40cm, miệng bình hoa có đường kính 16cm;
- 01 ghế đôn hình con voi màu xanh trắng, cao 44cm;
- 01 ghế đôn hình con voi màu nâu – vàng, có chiều cao 29cm;
- 02 ghế đôn hình con voi, màu trắng nâu xanh, có chiều cao 21cm;
- 02 tượng hình kỳ lân màu nâu trắng;
- 02 bình hoa màu vàng, xanh, trắng cao 54cm, miệng bình hình tròn có đường kính 22cm;
- 02 tượng hình con lân màu xanh có chiều cao 53cm;
- 02 ghế đôn hình con lạc đà màu nâu trắng xanh, chiều cao 42cm;
- 01 ghế đôn hình con voi màu xanh trắng chiều cao 44cm;
- 01 bình hoa màu xanh có chiều cao 25cm, miệng bình hoa hình tròn có đường kính 09cm;
- 01 bình hoa màu trắng xanh, có chiều cao 39cm, miệng bình hình tròn có đường kính 14cm;
- 01 chậu tròn bằng gồm có chiều cao 22cm, miệng chậu hình tròn có đường kính 33cm;
- 02 ghế đôn bằng gốm hình voi tròn màu xanh trắng, chiều cao 48cm, đường kính trên là 28cm, hình tròn;
- 01 cái ghế đôn hình voi tròn màu trắng xám nâu, có chiều cao 47cm, miệng hình tròn có đường kính 29cm;
- 01 ghế đôn hình tròn màu trắng nâu, có chiều cao 41cm, miệng hình tròn đường kính 29cm (bị bể gốc trưng);
- 01 ghế đôn hình rồng tam giác màu xanh vàng đỏ, mặt ghế hình tròn, đường kính 19cm.
-
- 01 xe môtô hai bánh nhãn hiệu Wave màu trắng bạc, biển số 63B9 - 319.16.
-
- 01 (một) xe môtô hai bánh nhãn hiệu Wave Alpha màu trắng, biển số 63B9 - 629.23.
-
- 01 áo khoác dài tay bằng vải màu đen phía trước bên trái có chữ CHIVALRY; 01 quần dài bằng vải màu xanh; 01 áo dài tay bằng vải màu xanh, bên tay áo bên trái có logô màu trắng, ghi chữ “Công ty TNHH một thành viên C1".
* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 116/KL-HĐĐG ngày 08/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện C, tỉnh Tiền Giang kết luận:
- 06 cái ghế đôn loại đôn bằng gốm màu xanh trắng, chân lục giác, mặt tròn, chiều cao ghế 52cm, đường kính 30cm có giá vào ngày 02/3/2022 là 3.500.000 đồng x 6 = 21.000.000 đồng.
- 02 cái đôn trống bằng gốm màu trắng hình lục giác có hoa văn mai lan cúc trúc, chiều cao 43cm, mặt trên và mặt dưới hình lục giác, đường kính 26.5cm có giá vào ngày 04/3/2022 là 4.000.000 đồng x 2 = 8.000.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 29.000.000 đồng.
* Tại bản cáo trạng số 154/CT-VKSCT ngày 21/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành đã truy tố các bị cáo Lê Phát T và Trần Thị Cẩm H1 về tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa,
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Lê Phát T và Trần Thị Cẩm H1 về tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Lê Phát T và Trần Thị Cẩm H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản".
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Phạt bị cáo Lê Phát T từ năm đến năm tháng tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Phạt bị cáo Trần Thị Cẩm H1 từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác dài tay bằng vải màu đen phía trước bên trái có chữ CHIVALRY; 01 quần dài bằng vải màu xanh; 01 áo dài tay bằng vải màu xanh, bên tay áo bên trái có logô màu trắng, ghi chữ “Công ty TNHH một thành viên C1".
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo. Xét thấy:
Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Phát T và Trần Thị Cẩm H1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Các bị cáo đã thống nhất khai nhận: Do cần tiền tiêu xài cá nhân hai bị cáo đã lợi dụng sở hở của bị hại thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác, cụ thể: Vào khoảng 03 giờ 30 phút ngày 02/3/2022 và khoảng 00 giờ 30 phút ngày 04/3/2022 tại nhà thờ cúng tổ tiên của anh Võ Đức C tọa lạc tại ấp V, xã V, huyện C, tỉnh Tiền Giang các bị cáo T và bị cáo H1 có hành vi lút lén trộm cắp 06 cái ghế đôn loại đôn bằng gốm màu xanh trắng, chân lục giác, mặt tròn, chiều cao ghế 52cm, đường kính 30cm và 02 cái đôn trống bằng gốm màu trắng hình lục giác có hoa văn mai lan cúc trúc, chiều cao 43cm, mặt trên và mặt dưới hình lục giác, đường kính 26.5cm. Tổng giá trị tài sản mà T và H1 chiếm đoạt là 29.000.000 đồng.
Lời khai nhận tội trên của các bị cáo cơ bản đã phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá, kết luận giám định, lời khai của bị hại, người làm chứng và các lời khai trước đây của các bị cáo tại cơ quan điều tra, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã đủ cơ sở xác định các bị cáo Lê Phát T và Trần Thị Cẩm H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo.
[3.1] Xét thấy, các bị cáo là người đã thành niên, có đầy đủ sức khoẻ và khả năng nhận thức về hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo nhận thức được tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, mọi hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Thế nhưng, chỉ vì muốn hưởng lợi không bằng sức lao động chính đáng của mình mà các bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình gây ra.
[3.2] Xét thấy, khi thực hiện hành vi phạm tội giữa các bị cáo không có sự câu kết chặt chẽ, nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Trong đồng phạm này, bị cáo T là người khởi xướng việc phạm tội và trực tiếp tội phạm. Bị cáo H1 là đồng phạm với vai trò giúp sức tích cực. Do đó, tính chất, mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của bị cáo T là cao hơn bị cáo H1 nên cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc hơn bị cáo H1.
[3.3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo thực hiện 2 lần hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết tăng năng trách nhiệm hình sự tại điềm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[3.4] Về nhân thân: Các bị cáo là người có nhân thân xấu, sau khi phạm tội lại tiếp tục có hành vi vi phạm pháp luật và bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản người khác. Vì vậy, cần xử lý các bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe giáo dục các bị cáo cũng như phòng ngừa chung cho các đối tượng khác.
[3.5] Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Vì vậy, Hội đồng xét thấy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình.
[3.6] Theo lời khai của bị cáo T, bán các ghế đôn trộm được (08 cái) cho người có tài khoản mạng xã hội Facebook là “Gốm xưa” (không rõ họ tên địa chỉ), do không xác định được nhân thân, địa chỉ cụ thể của người mua, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang không có cơ sở xác minh làm việc được.
[3.7] Theo lời khai của bị cáo T, trước khi đi trộm có 01 người tên T5 (không rõ họ, địa chỉ cụ thể) là người rủ bị cáo T đến tại vị trí nêu trên để trộm cắp tài sản. Tuy nhiên, sau đó T5 không tham gia nên bị cáo T rủ bị cáo H1 cùng đi. Do không xác định nhân thân, địa chỉ cụ thể của đối tượng T5 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang không có cơ sở xác minh làm việc được.
[4] Về vật chứng:
-
- 01 (một) đoạn camera an ninh từ con camera số 02 đặt tại vị trí phía sau nhà gỗ của ông Võ Đức C, mắt camera hướng vị trí để tài sản bị mất trộm. Trong đoạn dữ liệu camera thu giữ thời gian 03 giờ 49 phút 39 giây phát hiện 01 đối tượng nam đi đến vị trí đôn sành và lấy trộm. Người thanh niên mặc áo tay dài màu xanh, quần dài, có đeo khẩu trang. Thời gian 03 giờ 50 phút 28 giây người thanh niên trộm đôn đi ra. Hiện lưu kèm theo hồ sơ vụ án.
-
- 01 (một) đoạn camera từ con camera số 03 đặt ở vị trí bên hông nhà quây ra miếng đất trống của người khác. Trong đoạn camera dữ liệu thu giữ thời gian 02 giờ 34 phút đến 03 giờ 55 phút phát hiện 01 thanh niên và 01 phụ nữ lấy những đôn vừa lấy trộm đem ra xe. Hiện lưu kèm theo hồ sơ vụ án.
-
- 01 xe môtô hai bánh biển số 59S3 - 407.19, màu đỏ đen, nhãn hiệu Honda, số loại Vario, số máy JM41E1573156, số khung MH1JM411XLK573336 và 01 giấy đăng ký xe môtô biển số: 59S3- 407.19, số E, tên chủ xe: Nguyễn Minh T3, địa chỉ: 1 T, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang đã ra quyết định xử lý vật chứng, trao trả cho anh T3 xong.
-
- Đối với tài sản thu giữ của Trần Thị Cẩm H1: 01 bình hoa có chiều cao 40cm, miệng bình hoa có đường kính 16cm; 01 ghế đôn hình con voi màu xanh trắng, cao 44cm; 01 ghế đôn hình con voi màu nâu – vàng, có chiều cao 29cm; 02 ghế đôn hình con voi, màu trắng nâu xanh, có chiều cao 21cm; 02 tượng hình kỳ lân màu nâu trắng; 02 bình hoa màu vàng, xanh, trắng cao 54cm, miệng bình hình tròn có đường kính 22cm; 02 tượng hình con lân màu xanh có chiều cao 53cm; 02 ghế đôn hình con lạc đà màu nâu trắng xanh, chiều cao 42cm; 01 ghế đôn hình con voi màu xanh trắng chiều cao 44cm; 01 bình hoa màu xanh có chiều cao 25cm, miệng bình hoa hình tròn có đường kính 09cm; 01 bình hoa màu trắng xanh, có chiều cao 39cm, miệng bình hình tròn có đường kính 14cm; 01 chậu tròn bằng gồm có chiều cao 22cm, miệng chậu hình tròn có đường kính 33cm; 02 ghế đôn bằng gốm hình voi tròn màu xanh trắng, chiều cao 48cm, đường kính trên là 28cm, hình tròn; 01 cái ghế đôn hình voi tròn màu trắng xám nâu, có chiều cao 47cm, miệng hình tròn có đường kính 29cm; 01 ghế đôn hình tròn màu trắng nâu, có chiều cao 41cm, miệng hình tròn đường kính 29cm (bị bể gốc trưng); 01 ghế đôn hình rồng tam giác màu xanh vàng đỏ, mặt ghế hình tròn, đường kính 19cm. Quá trình điều tra xác định, các đồ vật trên thuộc sở hữu của Trần Thị Cẩm H1, không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho H1.
-
- Đối với 01 xe môtô hai bánh nhãn hiệu Wave màu trắng bạc, biển số 63B9 - 319.16. Do Trần Văn T2, sinh năm 1969, nơi thường trú: Số A L, Phường F, thành phố M, tỉnh Tiền Giang mua của anh Nguyễn Tấn P, sinh năm 1966, nơi thường trú: A Đ, Phường C, thành phố M, tỉnh Tiền Giang, không liên quan đến vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang đã ra quyết định xử lý vật chứng, trao trả cho anh T2 xong.
-
- Đối với 01 (một) xe môtô hai bánh nhãn hiệu Wave Alpha màu trắng, biển số 63B9 - 629.23 do Phạm Thị Ngọc N2, sinh năm: 1995, nơi thường trú: Số B ấp L, xã P, thành phố M, tỉnh Tiền Giang đứng tên giấy chứng nhận đăng ký. Do chưa làm việc được với chị N2 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang tiếp tục tạm giữ, xác minh, xử lý sau.
-
- Đối với vật chứng do bà Nguyễn Thị T1 giao nộp: 01 áo khoác dài tay bằng vải màu đen phía trước bên trái có chữ CHIVALRY; 01 quần dài bằng vải màu xanh; 01 áo dài tay bằng vải màu xanh, bên tay áo bên trái có logô màu trắng, ghi chữ “Công ty TNHH một thành viên C1”. Tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu nhận lại nên cần tịch thu tiêu hủy.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại không yêu cầu các bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nện Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Về hình phạt:
- Tuyên bố bị cáo Lê Phát T và Trần Thị Cẩm H1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử: Phạt bị cáo Lê Phát T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ từ ngày 28/7/2023.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử: Phạt bị cáo Trần Thị Cẩm H1 01 (một) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ từ ngày ngày 28/7/2023.
2. Về vật chứng:
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 áo khoác dài tay bằng vải màu đen phía trước bên trái có chữ CHIVALRY; 01 quần dài bằng vải màu xanh; 01 áo dài tay bằng vải màu xanh, bên tay áo bên trái có logô màu trắng, ghi chữ “Công ty TNHH một thành viên C1".
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 20/12/2023).
3. Về án phí:
- Bị cáo Lê Phát T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo Trần Thị Cẩm H1 phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
Bùi Anh Tuấn |
Bản án số 04/2024/HS-ST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH TIỀN GIANG về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 04/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Phát T và đồng phạm phạm tội Trộm cắp tài sản
