Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN AN PHÚ

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 09 - 01-2024.

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình

ly hôn, nuôi con chung"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ

Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Bảo

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phan Phước Tân;
  2. Ông Đặng Tấn Phước

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàn Mỹ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện An Phú

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện An Phú tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Trà Mi – Kiểm sát viên

Ngày 09 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện An Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 375/2023/TLST-HN&GĐ ngày 07 tháng 11 năm 2023 về việc tranh chấp Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 567/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 615/2023/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 12 năm 2023 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Trương Thị Yến N, sinh năm 2000 – Nơi cư trú: Tổ B, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
  • - Bị đơn: Ông Hồ Minh H, sinh năm 2001 – Nơi cư trú: Ấp B, xã K, huyện A, tỉnh An Giang. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện cùng với các tài liệu, chứng cứ kèm theo và quá trình tố tụng tại Tòa án, bà N trình bày:

Hôn nhân của bà và ông H được xác lập trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 14/08/2023 tại UBND xã K, huyện A. Lý do ly hôn là do ông H chỉ lo chơi bời, không quan tâm chăm sóc vợ con, bạo hành gia đình và hiện cả hai đã không còn chung sống từ tháng 02/2023 đến nay.

Về con chung: Có 02 con chung tên Hồ Minh K sinh ngày 30/10/2020 và Trương Minh M, sinh ngày 15/02/2023 đang sống với bà. Khi ly hôn bà N yêu cầu nuôi con chung, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu 1.500.000 đồng cho đến khi con trưởng thành. Lý do đứa con thứ hai Trương Minh M mang họ mẹ là do lúc làm giấy khai sinh, ông H không đưa giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, khi sinh con thì bà ở nhà mẹ tại Vĩnh Long nên không tiện trích lục giấy đăng ký kết hôn ở xã K, do đó làm giấy khai sinh mang họ mẹ cho con Trương Minh M để thuận tiện.

Tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn là ông H không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà N.

Tòa án đã tiến hành hòa giải để các bên tự hàn gắn, chung sống lại nhưng bà N không đồng ý đoàn tụ, ông H vắng mặt không có lý do. Tại phiên họp về việc tiếp cận, công khai chứng cứ các đương sự có mặt không bổ sung chứng cứ mới.

Tại phiên tòa: Bà N có đơn xin xét xử vắng mặt, ông H vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện Kiểm sát thực hành quyền kiểm tra, giám sát việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa phát biểu: Về việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán trong quá trình hòa giải, xác minh thu thập chứng cứ, xác định quan hệ tranh chấp, tư cách người tham gia tố tụng... là hoàn toàn phù hợp với pháp luật tố tụng dân sự. Đối với thành phần Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà không có thành viên nào thuộc đối tượng phải thay đổi, tại phiên tòa thủ tục xét xử vắng mặt được đảm bảo.

Về nội dung vụ án:

  • - Về hôn nhân: Căn cứ vào các chứng cứ trong hồ sơ vụ án cho thấy hôn nhân giữa bà N và ông H xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ thu thập được thể hiện mâu thuẫn giữa hai người là có xảy ra, đời sống chung không thể tiếp tục. Vì vậy đề nghị chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N.
  • - Về con chung: Chưa đủ 07 tuổi và đang sống chung với mẹ nên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên giao cho bà N tiếp tục nuôi dạy.
  • - Về tài sản chung: Bà N không yêu cầu, ông H không có ý kiến nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  • - Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà N có yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con chung mỗi cháu 1.500.000 đồng. Xét thấy: Theo quy định của pháp luật, bên không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, tuy nhiên bà N không cung cấp được chứng cứ về thu nhập của ông H để làm căn cứ cho yêu cầu của mình. Nên, đề nghị Hội đồng xét xử quyết định ông H phải cấp dưỡng nuôi con chung, mức cấp dưỡng theo quy định pháp luật là 900.000 đồng/con chung/tháng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Bà N khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con chung với ông H. Ông H đang cư trú trên địa bàn huyện A. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tranh chấp Hôn nhân và gia đình về ly hôn và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện An Phú.

Về sự vắng mặt của đương sự: Bà N có đơn xin xét xử vắng mặt, ông H được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân:

Xét yêu cầu của bà N xin ly hôn với ông H thì thấy: Hôn nhân giữa bà với ông H xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn nên có giá trị pháp lý và làm phát sinh các quyền, nghĩa vụ của vợ chồng đối với nhau theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình.

Mặc dù Tòa án đã tiến hành mở phiên hòa giải để tạo điều kiện cho ông, bà hàn gắn, chung sống lại nhưng bà N không đồng ý đoàn tụ, ông H được tống đạt hợp lệ các thông báo tố tụng của Tòa án nhưng không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện, không tham gia hòa giải để tìm biện pháp hàn gắn lại tình cảm gia đình. Điều này cho thấy mâu thuẫn trong đời sống vợ chồng đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà N.

[3] Về con chung: Có 02 con chung tên tên Hồ Minh K sinh ngày 30/10/2020 và Trương Minh M, sinh ngày 15/02/2023 đang sống với bà N. Tại thời điểm xét xử, cháu K chưa đủ 07 tuổi nên không thực hiện việc ghi nhận nguyện vọng của cháu muốn sống với ai khi cha, mẹ ly hôn. Cháu M mặc dù không mang họ cha nhưng ông H không có ý kiến về việc này nên xác định cháu Trương Minh M là con chung của ông H và bà N. Do cháu M dưới 36 tháng tuổi, cháu K đều đang do bà N nuôi dạy nên căn cứ Điều 81 Luật Hôn

nhân và gia đình 2014, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu K, cháu M cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng.

[4] Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Theo quy định của pháp luật, bên không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tuy nhiên, bà N không cung cấp được chứng cứ về thu nhập của ông H để làm căn cứ cho yêu cầu của mình vì vậy Hội đồng xét xử quyết định ông H phải cấp dưỡng nuôi con chung, mức cấp dưỡng theo quy định pháp luật là 900.000 đồng/con chung/tháng, tổng cộng 1.800.000 đồng/tháng cho đến khi con thành niên. Thời gian bắt đầu thực hiện cấp dưỡng là khi bản án có hiệu lực pháp luật.

[5] Về tài sản chung, nợ chung: Bà N không yêu cầu giải quyết khoản nợ chung, không yêu cầu chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân; ông H không có ý kiến về việc chia tài sản chung, thanh toán nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết, không đề cập trong phần quyết định. Trường hợp sau này các ông, bà có tranh chấp về việc chia tài sản chung, giải quyết các khoản nợ chung thì có quyền khởi kiện trong vụ án khác.

[6] Về án phí: Do yêu cầu của bà N được chấp nhận nên bà phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình. Ông H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần nghĩa vụ cấp dưỡng phải thi hành.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 2 Điều 244, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 9, Điều 58 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

Về hôn nhân:Trương Thị Yến N được ly hôn ông Hồ Văn H1.

Về con chung: Giao các cháu Hồ Minh K sinh ngày 30/10/2020 và Trương Minh M, sinh ngày 15/02/2023 đang sống với bà N cho bà N tiếp tục nuôi dưỡng.

N cùng các thành viên gia đình không được cản trở ông H1 trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

Ông H1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung, mỗi cháu 900.000 đồng/tháng cho đến khi con chung thành niên. Thời gian thực hiện nghĩa vụ kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích, cơ quan có thẩm quyền, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ theo quy định của pháp luật hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.

Về án phí:N phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình, được khấu trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí mà bà đã nộp theo biên lai thu số 0008650 ngày 03/11/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú.

Ông H1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niên yết tại nơi cư trú./.

* Nơi gửi:

  • - TAND tỉnh AG (1);
  • - VKSND tỉnh AG (1);
  • (2);
  • - THA H. AP (1);
  • - UBND xã K, AP (1);
  • - Các đương sự (2);
  • - Lưu HS + VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quang B

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/HNGĐ-ST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 04/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN PHÚ TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger