Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 8/7/2024

V/v "Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Sỹ

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Trần Minh Đức
  2. Ông Võ Hoàng

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Minh Chiến – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Hải Ly - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 07 năm 2024 tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 05/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 05 năm 2024 về “Ly hôn”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T; sinh năm 1984; hộ khẩu thường trú: Xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai; nơi ở hiện tại: số A đường H, quận B, thành phố Đ, Đài Loan, Trung Quốc (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
  2. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Hồ Thị Mỹ D; địa chỉ: Số B, ngõ D D, phường M, quận C, thành phố Hà Nội (Vắng mặt).

  3. Bị đơn: Ông Bùi Đăng T1; sinh năm 1980; Hộ khẩu thường trú: Làng N, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1.Trong đơn khởi kiện ngày 27 tháng 02 năm 2024 và bản tự khai ngày 27 tháng 2 năm 2024 nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày.

Bà và ông T1 kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 09 tháng 4 năm 2002.

Sau khi kết hôn thì cuộc sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, vào năm 2019 bà T đi Đài Loan theo diện xuất khẩu lao động cho đến nay còn ông T1 ở lại Việt Nam, từ đó vợ chồng không gặp nhau nên xảy ra nhiều mâu thuẫn và bất đồng về quan điểm sống, xa cách về mặt địa lý nên giữa bà T và ông T1 không còn tình cảm với nhau. Bà T và ông T1 cũng đã nhiều lần nói chuyện và hòa giải nhưng không tìm được tiếng nói chung. Bà T, ông T1 đã sống ly thân với nhau từ năm 2019 đến nay, không còn quan tâm đến cuộc sống của nhau nữa.

Cuộc sống hôn nhân của bà T, ông T1 đã rơi vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên bà T đề nghị Tòa án giải quyết được ly hôn với ông T1.

Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà T ông T1 có hai người con chung là cháu Bùi Thị Thanh T2, sinh ngày 04-8-2003 và cháu Bùi Trung Hiêu s ngày 17-10-2005. Hiện hai cháu đã trưởng thành nên bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung và nghĩa vụ thanh toán tài sản chung: Bà T ông T1 không có nợ chung và không cho ai vay, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Bà T, ông T1 có đơn xin xét xử vắng mặt và đơn xin rút ngắn thời gian giải quyết vụ án.

2.Tại bản tự khai ngày 10-5-2024, bị đơn ông Bùi Đăng T1 trình bày:

Ông và bà T kết hôn được Ủy ban nhân dân xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 09 tháng 4 năm 2002. Ông T1 và bà T chung sống với nhau được một thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn. Năm 2019, bà T đi Đài Loan theo diện xuất khẩu lao động nên tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn phát sinh, mục đích hôn nhân không đạt được.

Ông đồng ý ly hôn với bà T.

Trong quá trình chung sống, bà T ông T1 có hai người con chung là cháu Bùi Thị Thanh T2, sinh ngày 4-8-2003 và cháu Bùi Trung Hiếu s ngày 17-10-2005. Hiện hai cháu đã trưởng thành nên bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết thì ông T1 cũng đồng ý.

Về tài sản chung và nghĩa vụ thanh toán tài sản chung: Bà T ông T1 không có nợ chung và không cho ai vay, bà T không yêu cầu tòa án giải quyết nên ông T1 cũng đồng ý.

Ông đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và có đơn xin rút ngắn thời gian giải quyết vụ án.

3.Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai có ý kiến như sau:

Về trình tự, thủ tục tố tụng: Việc Tòa án thụ lý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về thụ lý vụ án, thẩm quyền giải quyết vụ án cũng như trình tự phiên tòa. Đảm bảo về thời hạn chuẩn bị xét xử.

Về nội dung: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho bà Nguyễn Thị T và ông Bùi Đăng T1 được ly hôn.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về tố tụng:

Bà Nguyễn Thị T hiện đang cư trú, làm việc tại Đài Loan, còn ông Bùi Đăng T1 đăng ký hộ khẩu thường trú tại Làng N, xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai. Ông bà thống nhất lựa chọn Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai giải quyết vụ án và bà T có đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông T1, nên đây là vụ án tranh chấp ly hôn có yếu tố nước ngoài theo quy định tại khoản 25 Điều 3 Luật Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai quy định tại điểm a khoản 2 Điều 38 và điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án bà T, ông T1 đều có đơn xin xét xử vắng mặt, đơn xin rút ngắn thời gian giải quyết vụ án, đề nghị không tham gia hòa giải và công khai chứng cứ. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai không mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Hội đồng xét xử sơ thẩm tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 227, Điều 477 của Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Về nội dung vụ án:

-Về quan hệ hôn nhân:

Bà T và ông T1 kết hôn năm 2002 trên cơ sở tự nguyện và được Ủy ban nhân dân xã I, huyện I, tỉnh Gia Lai cấp Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn ngày 09 tháng 4 năm 2002. Như vậy, bà T và ông T1 đã xác lập quan hệ vợ chồng theo qui định của pháp luật về hôn nhân và gia đình.

Sau khi kết hôn bà T và ông T1 chung sống với nhau đến năm 2019 thì bà T xuất khẩu lao động tại Đài Loan cho đến nay. Bà T, ông Trịnh s1 cách xa nhau nên không có điều kiện gần gũi, chăm sóc, động viên nhau trong cuộc sống nên tình cảm phai nhạt dần. Vì vậy, khi bà T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn thì ông T1 cũng đồng ý, chứng tỏ tình cảm vợ chồng giữa bà T, ông T1 không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T.

-Về con chung: Hai con đã trưởng thành, nguyên đơn không yêu cầu tòa án giải quyết nên không xem xét.

-Về tài sản chung và thực hiện nghĩa vụ chung về tài sản: Các đương sự trình bày họ không có nợ chung và không cho ai vay nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

1. Điều luật áp dụng.

  • -Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 38, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 227, điểm d khoản 1 Điều 469, Điều 477, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Áp dụng khoản 25 Điều 3, Điều 51, Điều 53, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 122, Điều 123 và Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình;
  • - Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

2.Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T .

Bà Nguyễn Thị T được ly hôn với ông Bùi Đăng T1.

3.Về án phí:

Buộc bà Nguyễn Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm; nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai số: 0000066 ngày 03-05-2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai, bà Nguyễn Thị T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

4.Các đương sự có quyền kháng cáo Bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền kháng cáo vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết công khai theo quy định

Riêng đương sự ở nước ngoài không có mặt tại phiên tòa, thì thời hạn kháng cáo bản án của Tòa án là 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

-Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai;

-Cục Thi hành án dân sự tỉnh Gia Lai;

-UBND tỉnh Gia Lai;

-Các đương sự;

-Lưu hồ sơ, Tòa HN-CTN, Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tiến Sỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/HNGĐ-ST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về ly hôn

  • Số bản án: 04/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 08/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger