|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI Bản án số: 04/2024/HS-ST Ngày: 08-01-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hòa
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hạnh và ông Nguyễn Đình Hiền
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Giao Linh - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Bùi Mai Quỳnh - Kiểm sát viên
Mở phiên tòa công khai ngày 08 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 407/2023/TLST-HS ngày 30 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 398/2023/QĐXXST- HS ngày 22 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Đỗ Văn T, sinh năm 1992. Giới tính: Nam. Hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo, đảng phái: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ văn hóa: 09/12. Con ông Đỗ Văn B và bà Trương Thị T1. Có vợ là Nguyễn Thị Q và 02 con.
Tiền sự: Không;
Tiền án:
- Bản án số 182/2018/HS-ST ngày 18/5/2018, TAND thành phố Hà Nội xử 15 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/01/2019.
- Bản án số 233/2020/HS-ST ngày 24/8/2020, TAND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử 33 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/10/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2 Công an thành phố H. Có mặt tại phiên tòa.
* Người bị hại: (Đều vắng mặt)
- Anh Trần Xuân Đ, sinh năm 1982. Địa chỉ: Phòng A, chung cư S, số A, Chu Văn A, phường Y, quận H, Hà Nội.
- Anh Trần Trung H, sinh năm 2000. Địa chỉ: P, chung cư S, số A, Chu Văn A, phường Y, quận H, Hà Nội.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Thái S, sinh năm 1990; Địa chỉ liên hệ: Đội bảo vệ chung cư S, A C, phường Y, H, Hà Nội. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đỗ Văn T đã chuẩn bị công cụ gồm: 01 cờ lê 8 bằng kim loại (dài 12,5cm, 01 đầu tròn, 01 đầu 2 cạnh); 01 đầu vam bằng kim loại (dài 06cm, 01 đầu mài dẹt 2 cạnh, 01 đầu hình lục giác) để tiến hành trộm cắp tài sản tại địa bàn quận H. Cụ thể:
Vụ thứ nhất:
Khoảng 20 giờ 15 phút ngày 01/9/2023, T mang theo công cụ đi bộ vào khu vực hầm gửi xe B1 tại chung cư S (tại số A C, Y, H), đến khu vực để xe giữa cột A2 và cột A3, T sử dụng vam phá khóa bẻ khóa xe mô tô không khóa càng, nhãn hiệu Honda Dream, màu nâu, biển kiểm soát 33M7-5213 (đã được xác định của anh Trần Xuân Đ). Sau đó, lợi dụng sơ hở của bảo vệ tòa nhà trực ở khu vực barie lối ra của hầm chung cư, khi thấy có người điều khiển xe mô tô đi ra ngay phía trước có quẹt thẻ gửi xe để barie gạt lên thì T điều khiển xe đi ngay sát phía sau người này rồi bỏ chạy. Sáng ngày 02/9/2023, T mang xe ra khu vực chợ bán đồ cũ ở V, H, Hà Nội bán xe cho một người nam giới không quen biết được 2.000.000 đồng, dùng ăn tiêu cá nhân hết.
Vụ thứ hai:
Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 02/10/2023, T tiếp tục mang theo công cụ đi bộ xuống hầm gửi xe B1 tại chung cư S, khi đến khu vực cột để xe B10, dắt chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh - đen, biển kiểm soát 98D1-937.74 không khóa cổ, khóa càng (đã được xác định của anh Trần Trung H) đến vị trí khuất góc quay camera của tòa nhà rồi phá ổ khóa điện của xe. T ngồi lên xe điều khiển hướng lối đi ra cửa hầm gửi xe B1 thì bị lực lượng Công an phường Y, phối hợp với bảo vệ chung cư yêu cầu T dừng xe kiểm tra. T đẩy đổ xe mô tô, bỏ chạy lên cầu thang bộ của tòa nhà rồi chạy đến phía trước số H T, phường Y, quận H, Hà Nội thì bị lực lượng Công an bắt giữ.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) cờ lê 8 bằng kim loại, có chiều dài 12,5cm có đặc điểm: 01 đầu tròn, 01 đầu 2 cạnh; 01 (một) đầu vam bằng kim loại có đặc điểm: dài 06cm, 01 đầu mài dẹt 2 cạnh, 01 đầu hình lục giác.
- 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu sơn xanh đen; BKS: 98D1-937.74, Số khung: RLHJA392XNY156420, số máy JA39E2653377.
Cơ quan điều tra đã có văn bản yêu cầu định giá đối với tài sản T chiếm đoạt. Tại bản kết luận định giá tài sản số 244/KL-HĐĐGTS ngày 03/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận H, kết luận (Bút lục 19-20):
“- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 98D1-937.74 có giá trị 19.600.000₫;
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, BKS: 33M7-5213 có giá trị 1.000.000₫.
Tổng giá trị tài sản trong vụ việc là 20.600.000 đồng (Hai mươi triệu sáu trăm nghìn đồng.”
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream BKS: 33M7-5213, T khai đã bán cho người không quen biết tại khu vực chợ Đ1 cũ V, H với giá 2.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã thông báo truy tìm vật nhưng đến nay chưa thu giữ được. Ngoài lời khai của T, Cơ quan điều tra chưa thu thập được tài liệu nào chứng minh về người mua xe của T nên chưa có căn cứ đề cập xử lý trong vụ án này.
Kết quả điều tra xác định anh Trần Trung H là chủ sở hữu hợp pháp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh đen, BKS: 98D1-937.74, số khung RLHJA392XNY156420, số máy JA39E2653377. Ngày 06/10/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho anh Trần Trung H.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Trần Trung H đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường. Anh Trần Xuân Đ đã được anh Nguyễn Thái S là bảo vệ của chung cư bồi thường tài sản bị trộm cắp 13.000.000 đồng theo thỏa thuận giữa hai bên, đến nay anh Đ không có đề nghị bồi thường gì khác.
Anh Nguyễn Thái S đề nghị Đỗ Văn T trả anh số tiền 13.000.000 đồng mà anh đã phải bồi thường trả anh Đ.
Cáo trạng số 374/CT-VKS-HĐ ngày 27/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội truy tố Đỗ Văn T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và xin được hưởng hình phạt nhẹ nhất.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh S yêu cầu bị cáo trả anh số tiền anh đã phải bồi thường hỗ trợ cho anh Trần Xuân Đ. Bị cáo tự nguyện thanh toán trả anh S số tiền 13.000.000 đồng.
Đại diện Viện kiểm sát quận H, Hà Nội giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Đỗ Văn T từ 30 đến 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại đã nhận tài sản, tiền bồi thường nay không có yêu cầu gì khác nên không xem xét. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh S yêu cầu bị cáo trả anh số tiền anh đã phải bồi thường hỗ trợ cho anh Trần Xuân Đ. Tại phiên tòa, bị cáo tự nguyện thanh toán trả anh S số tiền 13.000.000 đồng nên cần ghi nhận.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội là: 01 (một) cờ lê 8 bằng kim loại, có chiều dài 12,5cm; 01 (một) đầu vam bằng kim loại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng; nên các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Có đủ căn cứ xác định: Lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản, trong ngày 01/9 và 02/10/2023, Đỗ Văn T có hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream, BKS: 33M7-5213 của anh Trần Xuân Đ trị giá 1.000.000 đồng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 98D1-937.74 của anh Trần Trung H trị giá 19.600.000 đồng tại hầm gửi xe B1, chung cư S, (địa chỉ: số A C, Y, H). Tổng giá trị tài sản trộm cắp là 20.600.000 đồng.
Hành vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã tái phạm lại tiếp tục phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, Hà Nội đã truy tố.
[3] Về tính chất vụ án, hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân; gây ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp quản lý chung cư; gây mất trật tự trị an trong khu vực nên cần thiết phải xử lý và có hình phạt phù hợp mới có tác dụng giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và quyết định hình phạt: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, nên được xem xét giảm nhẹ hình phạt theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo thực hiện liên tiếp nhiều hành vi phạm tội nên phải chịu tình tiết “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.
Bị cáo bị bắt quả tang và tạm giữ tạm giam từ ngày 02/10/2023, nên thời gian tạm giữ tạm giam của bị cáo được tính vào thời gian chấp hành hình phạt.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Anh Trần Văn H1 đã nhận lại tài sản bị T chiếm đoạt; anh Đ đã nhận số tiền 13.000.000 đồng do anh Nguyễn Thái S (bảo vệ chung cư) bồi thường giá trị chiếc xe bị T trộm cắp đến nay không có yêu cầu gì khác nên Tòa không xem xét.
Anh S yêu cầu bị cáo thanh toán trả anh số tiền 13.000.000 đồng anh đã phải bồi thường cho anh Đ. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý tự nguyện thanh toán trả anh S số tiền 13.000.000 đồng nên cần ghi nhận.
[6] Về xử lý vật chứng: 01 (một) cờ lê 8 bằng kim loại, có chiều dài 12,5cm; 01 (một) đầu vam bằng kim loại thu giữ của T là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự theo quy định.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Từ những nhận định trên,
QUYẾT ĐỊNH
- 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- 2. Về hình phạt và điều luật áp dụng: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt: Đỗ Văn T 33 (ba mươi ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/10/2023.
- 3. Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- + Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Đỗ Văn T thanh toán trả anh Nguyễn Thái S số tiền 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng).
- Kể từ khi án có hiệu lực pháp luật và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, bị cáo còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357 Bộ luật dân sự.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cờ lê 8 bằng kim loại, có chiều dài 12,5cm; 01 (một) đầu vam bằng kim loại. (Tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an quận H và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông, Hà Nội).
- 4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 650.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- 5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người bị hại vắng có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hòa |
Bản án số 04/2024/HS-ST ngày 08/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 04/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đo Van T phạm tội Trộm cắp tài sản
