Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/HSST

Ngày 08 tháng 01 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hồ Văn Bình.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Nguyễn Phước Lộc.
  2. Bà Nguyễn Tường Diễm Linh Giang.

- Thư ký phiên toà: Bà Trần Cẩm Duyên - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên toà: Ông Sơn Thái Phong - Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 175/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 173/2023/QĐXXST- HS, ngày 14 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Minh D; giới tính: Nam; sinh ngày 06 tháng 3 năm 1982; tại thành phố B - tỉnh Bạc Liêu; nơi thường trú: Khu phố H, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Minh T và bà La Thị Thu N; vợ: Bùi Thị H; con 02 người, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2015.

Tiền án: 01 lần. Ngày 15/12/2020, bị Toà án nhân dân huyện Phú Quốc (nay là thành phố P), tỉnh Kiên Giang, xử phạt 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tại Bản án số 133/2020/HSST ngày 31/7/2022, chấp hành xong hình phạt, chưa được xoá án tích.

1

Tiền sự: Không.

Về nhân thân:

Ngày 15/7/2015, bị Toà án nhân dân huyện Phú Quốc (nay là thành phố P), tỉnh Kiên Giang, xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, theo Bản án số 111/2016/HSST, đã xoá án tích.

Ngày 16/9/2016, bị Toà án nhân dân huyện Phú Quốc (nay là thành phố P), tỉnh Kiên Giang, xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, theo Bản án số 53/2015/HSST, đã xoá án tích.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 08/8/2023 đến nay.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người bị hại:

  1. Ông Trần Văn N1, sinh năm 1962.
  2. ĐKTT: Ấp Lạng Sơn I, Long Thạnh, Phụng Hiệp, Hậu Giang.

    Chỗ ở: Tổ 10, khu phố 7, phường Dương Đông, thành phố Phú Quốc, tỉnh kiên Giang (có đơn vắng mặt).

  3. Ông Trần Văn M, sinh năm 1999.
  4. ĐKTT: Khu phố A, phường D, thành phố P, tỉnh kiên Giang (có đơn vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bùi Thị H1, sinh năm 1982.
  2. Địa chỉ: Khu phố G, phường D, thành phố P, tỉnh kiên Giang (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền mua ma túy để sử dụng, nên vào ngày 28/6/2023 và ngày 30/6/2023, Nguyễn Minh D 02 lần trộm cắp tài sản của người khác tại phường D, thành phố P, cụ thể như sau:

- Lần Thứ nhất: Vào khoảng 15 giờ ngày 28/6/2023, Nguyễn Minh D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Jupiter, biển số 68P1 – 541.53 của chị Bùi Thị H (vợ của D), đi từ nhà thuộc khu phố H, phường D, thành phố P, đến hẻm S,

2

đường T, khu phố G, phường D, thành phố P, tìm tài sản lấy trộm. Khoảng 15 giờ 20 phút cùng ngày, D đi vào nhà trọ H, vào phòng của ông Trần Văn N1 lấy trộm 02 cái điện thoại di động: 01 cái nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 Promax, màu xanh rêu và 01 cái nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A50, màu trắng, của ông N1. Sau khi lấy trộm được tài sản, D mang cái điện thoại di động Iphone 11 Promax đến tiệm điện thoại “Táo Sỉ”, tại khu phố A, phường D, thành phố P, bán cho anh Nguyễn Phúc L với số tiền 6.000.000 đồng, khi mua anh L không biết điện thoại do D trộm cắp mà có, cái điện thoại còn lại D cất giữ để sử dụng. Đến ngày 29/6/2023, D bị phát hiện hành vi trộm cắp tài sản nên giao nộp lại số tiền 6.000.000 đồng. Cái điện thoại di động hiệu S và xe mô tô sử dụng làm phương tiện. Anh L khi biết tài sản đã mua là do trộm cắp mà có, đã đến cơ quan Công an giao nộp lại cái điện thoại hiệu Iphone 11 Promax.

- Lần thứ hai: Vào khoảng 10 giờ ngày 30/6/2023, Nguyễn Minh D điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Janus, biển số 68P1 – 396.73 của anh Hứa Duy N2 (em của D), đi từ nhà thuộc khu phố H, phường D, thành phố P, đến hẻm S, đường N, khu phố A, phường D, thành phố P, tìm tài sản lấy trộm. Khoảng 10 giờ 20 phút cùng ngày, D đi vào nhà trọ của ông Nguyễn Đăng D1, vào phòng số 02 của ông Trần Văn M lấy trộm 02 cái điện thoại di động gồm: 01 cái điện thoại nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13, màu xanh lá và 01 cái điện thoại nhãn hiệu Xiaomi, loại Redmi note 11, màu đen. Sau khi lấy trộm được tài sản, D mang cái điện thoại di động Iphone 13, đến tiệm điện thoại “Khánh Mobile”, tại khu phố E, phường D, thành phố P, bán cho anh Bùi Quốc T1 với số tiền 3.000.000 đồng, khi mua anh T1 không biết điện thoại do D trộm cắp mà có, còn cái điện thoại di động hiệu Xiaomi, loại Redmi note 11, màu đen, D mang đến tiệm điện thoại “Lợi Mobile”, tại khu phố A, phường D, thành phố P, bán cho ông Nguyễn Văn L1 với số tiền 700.000 đồng, khi mua ông L1 không biết điện thoại do D trộm cắp mà có, sau đó D chạy xe đến khu phố D, phường D mua 300.000 đồng ma túy của một người tên K (chưa rõ nhân thân) về sử dụng. Cùng ngày D bị phát hiện hành vi trộm cắp tài sản, nên giao nộp lại số tiền 3.400.000 đồng và xe mô tô sử dụng làm phương tiện. Anh T1 và ông L1 khi biết tài sản đã mua là do trộm cắp mà có, đã đến cơ quan Công an giao nộp lại 02 cái điện thoại di động.

3

Ngày 04/7/2023, Nguyễn Minh D bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P khởi tố, đến ngày 08/8/2023, bị bắt tạm giam để điều tra cho đến nay.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • Tiền Việt Nam: 9.400.000 đồng;
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Jupiter (Indo) 150, màu đen, biển số 68P1 – 541.53, số khung 0710JK257547, số máy G3E6E0396222, đã qua sử dụng (xe của Bùi Thị H);
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Janus, màu đen, biển số 68P1 – 396.73, số khung C820HY021960, số máy E3Y8E021962, đã qua sử dụng;
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 Promax, 256GB, số IMEI1: 353898107884814, số IMEI2: 353898107663106, màu xanh rêu, đã qua sử dụng;
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A50, số kiểu máy SM-A505F/DS, số IMEI1: 354465105797648, số IMEI2: 354466105797646, màu trắng, đã qua sử dụng;
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13, dung lượng 128GB, số IMEI: 356199679106575, màu xanh lá, đã qua sử dụng;
  • 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, loại Redmi note 11, dung lượng 128GB, màu đen, đã qua sử dụng;
  • 01 mũ bảo hiểm, màu trắng, quai màu đen, đã qua sử dụng;
  • 01 áo sơ-mi dài tay, bằng vãi, màu xanh nhạt, đã qua sử dụng;
  • 01 áo sơ-mi dài tay, bằng vãi, màu cà phê, nhãn hiệu Do lu lu, đã qua sử dụng;
  • 01 mũ bảo hiểm, màu tím, quai màu đen, trên nón có chữ DNTN kinh doanh vàng bạc cầm đồ Kim Xuân K1, đã qua sử dụng;
  • 01 quần Short, màu trắng, nhãn hiệu TOPTEN, đã qua sử dụng;
  • 01 nón kết, màu xám tro, nhãn hiệu LEVIS, đã qua sử dụng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số: 99/KL-HĐĐGTS ngày 26/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân thành phố P, tỉnh Kiên Giang kết luận:

4

  • Giá trị 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 Promax, 256GB, số IMEI1: 353898107884814, số IMEI2: 353898107663106, màu xanh rêu, mua mới và sử dụng từ năm 2018, trị giá 8.666.667 đồng.
  • Giá trị 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A50, số kiểu máy SM-A505F/DS, số IMEI1: 354465105797648, số IMEI2: 354466105797646, màu trắng, mua mới và sử dụng từ năm 2019, trị giá 833.333 đồng.
  • Giá trị 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13, dung lượng 128GB, số IMEI: 356199679106575, màu xanh lá, mua cũ vào tháng 10/2022, trị giá 11.333.333 đồng.
  • Giá trị 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, loại Redmi note 11, dung lượng 128GB, màu đen, mua mới và sử dụng từ tháng 4/2022, trị giá 1.566.667 đồng.

Tổng giá trị tài sản là 22.400.000 đồng.

Tại Cáo trạng số: 183/CT-VKSPQ ngày 30/11/2023, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh D về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh D từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tiền Việt Nam 9.400.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Jupiter (Indo) 150, màu đen, biển số 68P1 – 541.53, số khung 0710JK257547, số máy G3E6E0396222, đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Janus, màu đen, biển số 68P1 – 396.73, số khung C820HY021960, số máy E3Y8E021962, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 Promax, 256GB, số IMEI1: 353898107884814, số IMEI2: 353898107663106, màu xanh rêu, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A50, số kiểu máy SM-A505F/DS, số IMEI1: 354465105797648, số IMEI2: 354466105797646, màu trắng, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13, dung lượng 128GB, số IMEI: 356199679106575, màu xanh

5

lá, đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, loại Redmi note 11, dung lượng 128GB, màu đen, đã qua sử dụng. Tất cả đã trao trả chủ sở hữu nên không đề nghị xử lý.

Tịch thu tiêu hủy: 01 mũ bảo hiểm, màu trắng, quai màu đen, đã qua sử dụng; 01 áo sơ-mi dài tay, bằng vãi, màu xanh nhạt, đã qua sử dụng; 01 áo sơ-mi dài tay, bằng vãi, màu cà phê, nhãn hiệu Do lu lu, đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm, màu tím, quai màu đen, trên nón có chữ DNTN kinh doanh vàng bạc cầm đồ Kim Xuân K1, đã qua sử dụng; 01 quần Short, màu trắng, nhãn hiệu TOPTEN, đã qua sử dụng; 01 nón kết, màu xám tro, nhãn hiệu LEVIS, đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự:

Người bị hại ông Trần Văn N1 và ông Trần Văn M đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm đề nghị miễn xét.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Phúc L, Nguyễn Văn L1Bùi Quốc T1 đã nhận lại đủ số tiền sử dụng mua điện thoại của Nguyễn Minh D, không yêu cầu bồi thường gì thêm đề nghị miễn xét.

Đối với Bùi Thị H, khi giao xem mô tô biển số 68P1 – 541.53 và anh Hứa Duy N2 khi giao xe mô tô biển số 68P1 – 396.73 cho Nguyễn Minh D mượn sử dụng không biết dùng vào việc phạm tôi nên đề nghị miễn xét.

Đối với Nguyễn Phúc L, Nguyễn Văn L1Bùi Quốc T1, khi thu mua điện thoại di động của Nguyễn Minh D, không biết tài sản do phạm tội mà có nên không đề nghị xử lý.

Đối với số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) chị Bùi Thị H hoàn trả cho ông Nguyễn Văn L1 thay cho Nguyễn Minh D, chị H không yêu cầu Nguyễn Minh D hoàn trả nên không đề nghị xử lý.

Đối với người tên K chưa rõ nhân thân đã bán ma tuý cho Nguyễn Minh D, Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

Tại phiên toà người bị hại ông Trần Văn N1 và ông Trần Văn M có đơn xin xét xử vắng mặt với lý do đã nhận lại đủ tài sản mà bị cáo đã trộm cắp nên không yêu cầu gì khác.

Tại phiên toà người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị H khai đã nhận lại tài đủ tài sản mà bị cáo đã mượn nên không yêu cầu gì khác.

Lời nói sau cùng của bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

6

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc không khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Minh D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như vật chứng đã thu giữ, kết luận định giá. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 15 giờ 20 phút, ngày 28/6/2023, bị cáo D đột nhập vào phòng trọ của ông Trần Văn N1, tại hẻm S, đường T, khu phố G, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang, lấy trộm của ông N1 01 cái điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 Promax, màuxanh rêu và 01 cái điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A50, màu trắng, có tổng giá trị 9.500.000 đồng. Đến khoảng 10 giờ 20 phút, ngày 30/6/2023, bị cáo D tiếp tục đột nhập vào phòng trọ của ông Trần Văn M, tại hẻm S, đường C, khu phố A, phường D, thành phố P lấy trộm của ông M 01 cái điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13, màu xanh lá và 01 cái điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, loại Redmi note 11, màu đen, có tổng giá trị 12.900.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị cáo trộm cắp 02 lần là 22.400.000 đồng. Do đó, cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ năng lực và nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng

7

vì lười lao động lại nghiện ma túy, muốn có tiền để mua ma túy sử dụng nên đã bất chấp pháp luật, lén lút trộm cắp tài sản của người bị hại bán lấy tiền mua ma túy để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Bản thân bị cáo đã từng bị xử phạt nhiều lần và còn 01 tiền án về hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo vẫn không biết sửa chữa, tu chí làm ăn mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác. Do đó, lần phạm tội này của bị cáo cần phải xử phạt nghiêm mới đủ tính răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội, đồng thời phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 02 lần, mỗi lần có giá trị trên 2.000.000 đồng nên áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội 02 lần trở lên. Đồng thời, bị cáo có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này bị cáo thuộc trường hợp tái phạm. Do đó, áp dụng điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự làm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự cho bị cáo khi lượng hình.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có việc làm ổn định, không có thu nhập thường xuyên. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với cho bị cáo.

[6] Về quan điểm của Viện kiểm sát: Đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc về tội danh, mức hình phạt, biện pháp tư pháp đối với bị cáo là phù hợp.

[7] Về xử lý vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P đã trao trả tài sản cho chủ sở hữu gồm:

  • Ông Trần Văn N1, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 11 Promax, 256GB, số IMEI1: 353898107884814, số IMEI2: 353898107663106, màu xanh rêu, đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A50, số kiểu máy SM-A505F/DS, số IMEI1: 354465105797648, số IMEI2: 354466105797646, màu trắng, đã qua sử dụng.
  • Ông Trần Văn M, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Apple, loại Iphone 13, dung lượng 128GB, số IMEI: 356199679106575, màu xanh lá, đã qua sử dụng và

8

01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi, loại Redmi note 11, dung lượng 128GB, màu đen, đã qua sử dụng.

  • Bùi Thị H, 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Jupiter (Indo) 150, màu đen, biển số 68P1 – 541.53, số khung 0710JK257547, số máy G3E6E0396222, đã qua sử dụng.
  • Ông Hứa Duy N2, 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Janus, màu đen, biển số 68P1 – 396.73, số khung C820HY021960, số máy E3Y8E021962, đã qua sử dụng (BL 39).
  • Nguyễn Văn L1 400.000 đồng.
  • Ông Bùi Quốc T1, 3.000.000 đồng.
  • Ông Nguyễn Phú L2, 6.000.000 đồng.

Đây là vật và tiền bị người phạm tội chiếm đoạt. Hội đồng xét xử xét thấy việc trao trả cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp là có căn cứ chấp nhận nên không xem xét.

Đối với vật chứng gồm:

  • 01 mũ bảo hiểm, màu trắng, quai màu đen, đã qua sử dụng; 01 áo sơ-mi dài tay, bằng vãi, màu xanh nhạt, đã qua sử dụng;
  • 01 áo sơ-mi dài tay, bằng vãi, màu cà phê, nhãn hiệu Do lu lu, đã qua sử dụng;
  • 01 mũ bảo hiểm, màu tím, quai màu đen, trên nón có chữ DNTN kinh doanh vàng bạc cầm đồ Kim Xuân K1, đã qua sử dụng;
  • 01 quần Short, màu trắng, nhãn hiệu TOPTEN, đã qua sử dụng; và 01 nón kết, màu xám tro, nhãn hiệu LEVIS, đã qua sử dụng.

Đây là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu huỷ.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại đủ tài sản và không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.

Đối với Nguyễn Phúc L, Nguyễn Văn L1Bùi Quốc T1, khi thu mua điện thoại di động của Nguyễn Minh D, không biết tài sản do phạm tội mà có nên không nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với người tên K chưa rõ nhân thân đã bán ma tuý cho Nguyễn Minh D, Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.

9

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

  3. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh D 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt giam là ngày 08/8/2023.
  4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
  5. Tuyên tịch thu tiêu huỷ: 01 mũ bảo hiểm, màu trắng, quai màu đen, đã qua sử dụng; 01 áo sơ-mi dài tay, bằng vãi, màu xanh nhạt, đã qua sử dụng; 01 áo sơ-mi dài tay, bằng vãi, màu cà phê, nhãn hiệu Do lu lu, đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm, màu tím, quai màu đen, trên mũ có chữ DNTN kinh doanh vàng bạc cầm đồ Kim Xuân K1, đã qua sử dụng; 01 quần Short, màu trắng, nhãn hiệu TOPTEN, đã qua sử dụng và 01 nón kết, màu xám tro, nhãn hiệu LEVIS, đã qua sử dụng.

    ( Vật chứng được thể hiện tại biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 12/12/2023).

  6. Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên không xem xét.
  7. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
  8. Buộc bị cáo Nguyễn Minh D phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), án phí hình sự sơ thẩm.

  9. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên bán. Đối với người bị hại vắng mặt tại phiên Tòa được quyền

10

kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp Kiên Giang;
  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKS TP Phú Quốc;
  • - Thi hành án DS TP Phú Quốc;
  • - Bộ phận THAHS Tòa án;
  • - Nhà tạm giữ;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại; Người có QLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Hồ Văn Bình

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/HSST ngày 08/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 04/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC – TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Minh D phạm tội Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger