Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM DƯƠNG

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2024/KDTM-ST

Ngày 06-9-2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Minh Hoàng

Các hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Kim Duyên và bà Hoàng Thị Hanh

- Thư ký phiên toà: Bà Khổng Phương Thùy - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Dương, tỉnh Vĩnh Phúc

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Vân Anh - Kiểm sát viên

Ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tam Dương đưa ra xét xử công khai sơ thẩm vụ án kinh doanh thương mại thụ lý số: 02/2024/TLST-KDTM ngày 03 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 79/2024/QĐXXST-KDTM ngày 02/8/2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V, địa chỉ: Số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chủ tịch Hội đồng quản trị. Người đại theo uỷ quyền: Ông Đỗ Hoàng L - Giám đốc Trung tâm Thu hồi nợ Khách hàng doanh nghiệp và Xử lý nợ pháp lý, ông Phạm Tuấn A - Phó Giám đốc Trung tâm Thu hồi nợ Khách hàng doanh nghiệp và Xử lý nợ pháp lý, ông Đỗ Thành T - Phó Giám đốc Trung tâm Thu hồi nợ Khách hàng doanh nghiệp và Xử lý nợ pháp lý; Người được ủy quyền lại: Ông Ma Quang M và anh Đỗ Tiến D1 - Cán bộ xử lý nợ (ông D1 có mặt, ông M vắng mặt).

- Bị đơn: Công ty cổ phần S; địa chỉ: Thôn V, xã V, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn Q - Giám đốc (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn Q, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn V, xã V, hyện T, tỉnh Vĩnh Phúc (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, người đại diện

theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V (Ngân hàng), ông Đỗ Tiến D1 trình bày:

Ngân hàng TMCP VCông ty cổ phần S (Công ty S) do ông Trần Văn Q - Giám đốc là đại diện theo pháp luật đã ký kết Hợp đồng cho vay Hạn mức thấu chi tài khoản không tài sản đảm bảo số ThauchionlineSME-6816351 ngày 26/10/2022 với nội dung cụ thể như sau: Ngân hàng cho Công ty S vay số tiền 300.000.000đồng, mục đích vay vốn để thanh toán các chi phí hợp pháp phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp với quy định của pháp luật; thời hạn vay là 12 tháng kể từ ngày giải ngân khoản vay. Lãi suất trong hạn tại thời điểm giải ngân là 16%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chuyển nợ quá hạn, tiền lãi trả vào ngày 25 hàng tháng. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.

Thực hiện hợp đồng tín dụng trên, ngày 27/10/2022, Ngân hàng đã giải ngân cho Công ty S theo đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số tiền 300.000.000đồng theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với hợp đồng tín dụng.

Để đảm bảo cho khoản vay trên, cá nhân ông Trần Văn Q đã đứng ra bảo lãnh nghĩa vụ trả nợ cho Công ty S bằng Hợp đồng bảo lãnh số 6816351/HĐBL ngày 26/10/2022 ký kết giữa bên bảo lãnh là ông Trần Văn Q và bên nhận bảo lãnh là Ngân hàng. Theo đó bên bảo lãnh là ông Trần Văn Q đồng ý bằng toàn bộ tài sản của mình bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang cho bên được bảo lãnh là Công ty S trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ phát sinh từ Hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi tài khoản không tài sản bảo đảm nêu trên.

Quá trình thực hiện hợp đồng, đến ngày 05/6/2023 Công ty S đã trả được cho Ngân hàng tổng số tiền lãi là 28.577.564đồng, kể từ ngày 05/6/2023 đến nay Công ty S không trả được cho Ngân hàng bất cứ một khoản tiền nào. Đối với khoản nợ gốc của Công ty S đã bị tính nợ quá hạn kể từ ngày 27/10/2023. Tính đến hết ngày 06/9/2024 Công ty S còn nợ Ngân hàng số tiền là 382.431.225đồng, trong đó: nợ gốc là 300.000.000đồng, nợ lãi là 82.431.225đồng.

Nay Ngân hàng khởi kiện đề nghị Toà án nhân dân huyện Tam Dương buộc Công ty S phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền tính đến hết ngày 06/9/2024 là 382.431.225đồng, trong đó: nợ gốc là 300.000.000đồng, nợ lãi là 82.431.225đồng. Đề nghị Tòa án tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn kể từ ngày

07/9/2024 với mức lãi suất 24% đối với dư nợ gốc cho đến khi Công ty S thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng cho vay. Trong trường hợp Công ty S không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng, đề nghị Tòa án buộc người bảo lãnh là ông Trần Văn Q thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay Công ty S toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi theo hợp đồng tín dụng nêu trên.

Trong trường hợp Công ty S, ông Trần Văn Q không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán nợ cho Ngân hàng, Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại tài sản thuộc quyền sở hữu/sử dụng của Công ty S, ông Trần Văn Q để thu hồi khoản nợ vay cho Ngân hàng theo Hợp đồng bảo lãnh đã ký kết giữa Ngân hàng và ông Trần Văn Q.

Đối với bị đơn là Công ty S do ông Trần Văn Q - Giám đốc là người đại diện theo pháp luật, đồng thời là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật về việc tống đạt các văn bản tố tụng đối với ông Trần Văn Q nhưng ông Q không đến Tòa án làm việc, không có lời khai để đưa ra quan điểm giải quyết vụ án

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Dương phát biểu quan điểm: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định; nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không chấp hành đúng quy định của pháp luật về quyền và nghĩa vụ của đương sự.

Về nội dung vụ án: Đề nghị áp dụng các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng, các Điều 274, 275, 280, 335, 336, 339, 342, 463, 466 Bộ luật dân sự, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP V. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V: Buộc Công ty cổ phần S trả cho Ngân hàng TMCP V tổng số tiền nợ gốc và lãi của Hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi không tài sản đảm bảo số ThauchionlineSME-6816351 ngày 26/10/2022, tính đến ngày 06/9/2024 là

382.431.225đồng, trong đó: nợ gốc là 300.000.000đồng, nợ lãi là 82.431.225đồng.

Kể từ ngày 07/9/2024 (ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm), Công ty cổ phần S còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán với mức lãi suất 24%/năm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc cho Ngân hàng TMCP V.

Trường hợp Công ty cổ phần S không trả hoặc không trả đầy đủ số tiền nêu trên thì ông Trần Văn Q phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho Công ty cổ phần S đối với số tiền còn lại cho Ngân hàng TMCP V theo Hợp đồng bảo lãnh số 6816351/HĐBL ngày 26/10/2022 ký kết giữa Ngân hàng TMCP V và ông Trần Văn Q.

Trường hợp Công ty cổ phần S và ông Trần Văn Q không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên, thì Ngân hàng TMCP V có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mại tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Công ty cổ phần S và ông Trần Văn Q để thu hồi khoản nợ cho Ngân hàng TMCP V.

Về án phí: Công ty cổ phần S phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn là Ngân hàng TMCP V khởi kiện đề nghị Tòa án buộc Công ty cổ phần S thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng cho vay đã ký kết giữa các bên, trường hợp Công ty S không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ thì người bảo lãnh là ông Trần Văn Q phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho Công ty S đối với số tiền còn lại cho Ngân hàng. Mục đích của việc vay vốn để thanh toán các chi phí hợp pháp phục vụ hoạt động sản xuất kinh, các bên đều có đăng ký kinh doanh và đều có mục đích lợi nhuận nên xác định đây là vụ án kinh doanh thương mại về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Bị đơn có địa chỉ trụ sở tại huyện T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương theo khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, đại diện theo pháp luật của bị đơn, đồng thời là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Trần Văn Q đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo quy định tại khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung yêu cầu khởi kiện:

[2.1] Về hợp đồng tín dụng:

Đối với Hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi không tài sản đảm bảo số ThauchionlineSME-6816351 ký kết ngày 26/10/2022 giữa Ngân hàng và Công ty S: Hợp đồng cho vay được ký kết trên cơ sở tự nguyện của các bên, nội dung thỏa thuận giữa các bên không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội; thỏa thuận về lãi suất và cách tính tiền lãi vay được ghi nhận trong hợp đồng là phù hợp với quy định của pháp luật, cụ thể: Khoản 2, khoản 3 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng, quy định về lãi suất cho vay và cách tính tiền lãi vay; khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự và Điều 8 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, quy định về lãi suất nợ lãi chậm trả. Như vậy, Hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi không tài sản đảm bảo số ThauchionlineSME-6816351 ký kết ngày 26/10/2022 đã phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên ngay sau khi ký kết hợp đồng.

Trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty S đã thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng, đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng theo nội dung đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng đã ký kết, kể từ ngày 05/6/2023 Công ty S đã vi phạm nghĩa vụ trả lãi, ngày 27/10/2023 vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, việc vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi do lỗi hoàn toàn thuộc về bên vay. Vì vậy, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Công ty S phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tính đến hết ngày 06/9/2024 là 382.431.225đồng, trong đó: nợ gốc là 300.000.000đồng, nợ lãi là 82.431.225đồng và kể từ ngày 07/9/2024 Công ty S còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán với mức lãi suất 24%/năm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc cho Ngân hàng.

Căn cứ vào thỏa thuận trong hợp đồng cho vay giữa các bên; Điều 91, Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 280, Điều 466 của Bộ luật dân sự, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về việc buộc Công ty S phải thanh toán số tiền còn nợ tính đến hết ngày 06/9/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) là 382.431.225đồng, trong đó: nợ gốc là 300.000.000đồng, nợ lãi là 82.431.225đồng.

Về lãi suất kể từ ngày 07/9/2024 (ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm), tại hợp đồng cho vay ký kết giữa các bên thì lãi suất cho vay tại thời điểm ký hợp đồng là 16%/năm và được giữ cố định trong suốt thời hạn duy trì hạn mức vay thấu chi, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn (cụ thể là 24%/năm) và tại phiên tòa Ngân hàng yêu cầu người có nghĩa vụ trả nợ phải chịu lãi suất

đối với nợ gốc chậm trả là 24%/năm như thỏa thuận trong hợp đồng. Xét thấy yêu cầu của Ngân hàng là có căn cứ và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP, ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao nên được chấp nhận.

[2.2]. Về hợp đồng bảo lãnh:

- Để bảo bảo cho khoản vay trên, ông Trần Văn Q đã ký với Ngân hàng V hợp đồng bảo lãnh số 6816351/HĐBL ngày 26/10/2022, theo đó, ông Trần Văn Q đồng ý dùng toàn bộ tài sản của mình, bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang cho Công ty S trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ.

Hợp đồng bảo lãnh số 6816351/HĐBL ngày 26/10/2022được ký kết trên cơ sở tự nguyện của các bên, nội dung thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, nên phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên.

Tại khoản 1 Điều 1 của hợp đồng bảo lãnh số 6816351/HĐBL ngày 26/10/2022 quy định: “Bên bảo lãnh đồng ý, bằng toàn bộ tài sản của mình, bảo lãnh vô điều kiện và không hủy ngang cho Bên được bảo lãnh trong việc thực hiện toàn bộ nghĩa vụ vụ hiện tại và nghĩa vụ tương lai bao gồm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi, các khoản phí, các khoản phạt, các khoản bồi thường thiệt hại và tất cả các nghĩa vụ tài chính khác của Bên được bảo lãnh đối với bên Ngân hàng phát sinh từ tất cả các văn kiện tín dụng (“Văn kiện tín dụng”) sau đây được ký kết giữa Bên bảo lãnh với Bên Ngân hàng:”

Công ty S đã vi phạm thời hạn trả nợ tiền vay theo thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay hạn mức thấu chi không tài sản đảm bảo nêu trên, nên ông Trần Văn Q phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh theo thỏa thuận tại khoản 1 Điều 1 của Hợp đồng bảo lãnh như đã viện dẫn ở trên. Do đó, cần áp dụng Điều 335, Điều 336; Điều 339 và Điều 342 Bộ luật dân sự chấp nhận yêu cầu về nghĩa vụ bảo lãnh của Ngân hàng V đối với ông Trần Văn Q.

[3] Về án phí:

Yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng V được chấp nhận, nên Công ty S phải chịu án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm là: 382.431.225đồng x 5% = 19.121.561đồng (làm tròn thành 19.121.500đồng. Ngân hàng được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[4] Ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết vụ án là phù hợp và có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng, các Điều 274, 275,

280, 335, 336, 339, 342, 463, 466 Bộ luật dân sự, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 01/2029/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V.

Buộc Công ty cổ phần S trả cho Ngân hàng TMCP V tổng số tiền nợ tính đến hết ngày 06/9/2024 là 382.431.225đồng, trong đó: nợ gốc là 300.000.000đồng, nợ lãi là 82.431.225đồng.

Kể từ ngày 07/9/2024 (ngày tiếp theo của ngày tuyên án sơ thẩm), Công ty cổ phần S còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán với mức lãi suất 24%/năm cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc cho Ngân hàng TMCP V.

Trường hợp Công ty cổ phần S không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền nêu trên thì ông Trần Văn Q phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay cho Công ty cổ phần S đối với số tiền còn lại cho Ngân hàng TMCP V.

Trường hợp Công ty cổ phần S và ông Trần Văn Q không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên, thì Ngân hàng TMCP V có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của Công ty cổ phần S và ông Trần Văn Q để thu hồi khoản nợ cho Ngân hàng TMCP V.

2. Về án phí: Công ty cổ phần S phải chịu 19.121.500đồng án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm. Ngân hàng TMCP V không phải chịu án phí, hoàn trả Ngân hàng TMCP V số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.400.000đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006998 ngày 22 tháng 4 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Dương.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Tam Dương;
  • - CCTHADS huyện Tam Dương;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Lê Minh Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/KDTM-ST ngày 06/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 04/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM DƯƠNG, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng V - Công ty Q (TC HĐ tín dụng)
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger