|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 04/2024/HSPT-CTN Ngày 06-6-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
----------
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sỹ
Các Thẩm phán: Ông Đặng Chí Công và bà Đinh Thị Như Phượng
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Minh Chiến, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hòa - Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 06 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Gia tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 08/2024/TLPT-HS-CTN ngày 25 tháng 04 năm 2024 đối với bị cáo Lê Văn N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HS – ST ngày 22 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chư Sê.
1. Bị cáo có kháng cáo: Lê Văn N, sinh ngày 01/3/1971; tại Quảng Ngãi; Nơi cư trú: Làng R, xã D, huyện C, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Thiết kế; Trình độ học vấn: 12/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Bố tên Lê L (đã chết) và mẹ tên Võ Thị H (đã chết); Vợ thứ nhất: Nguyễn Thị Như H1, sinh năm: 1977 (Đã ly hôn năm 2015), có 02 con, sinh năm 1999 và năm 2007; Vợ thứ 2: Nguyễn Thị M, sinh năm: 1990 (Đăng ký kết hôn 14/9/2022). Tiền án, tiền sự: Không.
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/9/2023 đến ngày 05/02/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh. Bị cáo tại ngoại. Có mặt.
2. Bị hại: Nguyễn Thị Thảo V, sinh ngày 23/7/2009; Địa chỉ: Làng R, xã D, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
3. Người đại diện theo pháp luật của cháu V:
-Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1988; Địa chỉ: Làng D, xã B, huyện C, tỉnh Gia Lai (Là cha đẻ ). Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Văn T: Bà Võ Thị L1, sinh năm 1967, địa chỉ: thôn T, xã A, huyện C, tỉnh Gia Lai (là bà nội của cháu V). Có mặt.
-Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1990; Địa chỉ: Làng R, xã D, huyện C, tỉnh Gia Lai (Là mẹ đẻ). Có mặt.
4. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cháu V: Bà Bùi Thị P, Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh G; Địa chỉ: D L, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1.Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Văn N, sinh ngày: 01/3/1971, trú tại làng R, xã D, huyện C, tỉnh Gia Lai, chung sống như vợ chồng với Nguyễn Thị M, sinh năm 1990, từ tháng 02/2022.(Đến ngày 14/9/2022 đăng ký kết hôn với nhau, trong quá trình sống chung với N, chị M đưa con gái riêng của mình là cháu Nguyễn Thị Thảo V, sinh ngày: 23/7/2009 đến ở cùng tại nhà của Nhân từ tháng 02/2022. Vào khoảng 10 giờ 30 phút trong tháng 9/2022 (N và cháu V không nhớ chính xác ngày), lợi dụng lúc mẹ đẻ cháu V là chị Nguyễn Thị M không có ở nhà. Trong lúc cháu V đang rửa rau tại phòng bếp, Lê Văn N để thoả mãn dục vọng cá nhân của bản thân mình nên đã tiếp cận cháu V từ phía sau, dùng dương vật của mình có chạm vào mông của V, N cúi xuống hôn vào cổ, má của V và ẵm V vào phòng ngủ của V, N đặt V nằm lên giường rồi kéo quần của cháu V xuống ngang gối, cởi cúc áo của V ra rồi N tiếp tục nằm đè lên người Vy hôn vào cổ, má V, hôn và xoa vào ngực V rồi dùng tay phải sờ vào âm hộ của V để kích thích khoảng 03-05 phút. Sau đó, N đứng dậy kéo cháu V dậy và mặc quần áo cho cháu V rồi N và V ra ăn cơm. Sau khi ăn cơm xong cháu V đi học.
Đến tối cùng ngày khi chị Nguyễn Thị M đi làm về thì V đã kể lại chị M nghe sự việc vào buổi trưa cùng ngày. Là chồng mới của chị M (Lê Văn N) đã lợi dụng lúc chị M không có ở nhà đã dùng tay sờ vào vùng ngực, âm hộ của cháu V, ẵm V vào phòng ngủ cởi quần áo của V ra rồi hôn và sờ soạng vào những bộ phận nhạy cảm trên người V. Sau đó, thì N dừng lại. Sau khi biết sự việc, thì chị M có ngồi họp gia đình lại thì Lê Văn N thừa nhận hành vi của mình đối với cháu V, N đã xin lỗi chị M và cháu V, đồng thời hứ sẽ không để xảy ra sự việc tương tự nữa nên chị M không trình báo sự việc trên đến Cơ quan chức năng.
Đến ngày 09/9/2023, cháu Nguyễn Thị Thảo V đã kể lại sự việc bị Lê Văn N dâm ô cho bà nội là Võ Thị L1, sinh năm: 1967, trú tại thôn T, xã A, huyện C, tỉnh Gia Lai biết sự việc. Sau đó bà Võ Thị L1 đã đưa Nguyễn Thị Thảo V đến Cơ quan Công an để trình báo sự việc. Cùng ngày, sau khi biết tin mình bị tố cáo Lê Văn N đã đến Công an huyện C đầu thú khai nhận toàn bộ hành vi vi phạm của bản thân.
Trong quá trình điều tra bị hại Nguyễn Thị Thảo V, người liên quan Trần Hồng Đ đã khai nhận như sau: Cháu Nguyễn Thị Thảo V và cháu Trần Hồng Đ, sinh ngày: 15/03/2009, trú tại Tổ dân phố A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai (là bạn học cùng khóa với nhau) là người yêu của nhau từ tháng 03/2022 đến nay, trong quá trình yêu đương cháu V và cháu Đ đã quan hệ tình dục với nhau nhiều lần. Lần đầu tiên cháu V và Đ quan hệ tình dục với nhau là tại phòng ngủ của cháu V tại làng R, xã D, huyện C, tỉnh Gia Lai là vào khoảng tháng 03/2023, còn nhiều lần sau V không nhớ rõ thời gian, địa điểm. Những lần cháu V có quan hệ tình dục với cháu Đ thì cháu Đ đều đeo bao cao su.
Ngày 12/9/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện C đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 143/QĐ-ĐTTH, gửi Trung tâm pháp y tỉnh G, giám định: Tồn hại bộ phận sinh dục của cháu Nguyễn Thị Thảo V? Mô tả vị trí, đặc điểm dấu vết để lại trên người và bộ phận sinh dục của V? Màng trinh có bị rách không? Nếu có là vết rách cũ hay mới?
Ngày 19/9/2023, Trung tâm pháp y tỉnh G ra ra Kết luận giám định xâm hại tình dục ở trẻ em số: 495/KLTDTE-TTPY kết luận: Toàn thân không có dấu vết thương tích; Màng trinh giãn rộng, hình nan hoa, rách cũ vị trí 03 giờ, 09 giờ, 12 giờ, không có điểm sung huyết, không có điểm xuất huyết.
* Về dân sự:
Bị cáo Lê Văn N đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Thảo V số tiền 5.000.000 đồng. Bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm, có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại Bản cáo trạng số: 02/CT - VKS ngày 22 tháng 12 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Lê Văn N về tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 146 Bộ luật Hình sự.
2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2024/HS – ST ngày 22 tháng 03 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chư Sê đã quyết định:
- -Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội: “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”.
- -Về điều luật áp dụng và hình phạt:
- + Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 146, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự
- + Xử phạt bị cáo Lê Văn N 03 (Ba) năm tù. Được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/9/2023 đến ngày 05/02/2024. Thời hạn tù tính từ ngày bị bị bắt chấp hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí; quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định pháp luật.
3. Kháng cáo của bị cáo Lê Văn N: Trong thời hanh kháng cáo bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
4. Diễn biến tại phiên tòa phúc thẩm:
4.1. Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm, bị cáo thấy hối hận vì hành động của mình, bị cáo giữ nguyên kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.
4.2. Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau: Sau khi phân tích hành vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và các tình tiết mới bị cáo nộp tại giai đoạn phúc thẩm đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo, chấp nhận kháng cáo của bị cáo về giảm nhẹ hình phạt; xử phạt bị cáo 24 tháng tù được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/9/2023 đến ngày 05/02/2024.
4.5. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại là bà Bùi Thị P trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét các tình tiết mới tại cấp phúc thẩm, thống nhất với ý kiến của Viện kiểm sát đã đề nghị cần xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.
4.3. Người đại diện hợp pháp của bị hại Nguyễn Thị Thảo V là bà Nguyễn Thị M trình bày: Bị cáo đã rất ăn năng hối cải, bị cáo là lao động chính trong gia đình kính mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
4.4. Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Văn T (cha của bị hại) là bà Võ Thị L1 trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không cho bị cáo được hưởng án treo, giữ nguyên mức án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội như Cáo trạng và Bản án sơ thẩm, phù hợp với lời khai của người làm chứng, bị hại và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở xác định:
Sau khi ly hôn với ông Nguyễn Văn T thì ngày 14-9-2022 bà Nguyễn Thị M đăng ký kết hôn với bị cáo N. Theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 25/2022/QÐST-HNGD ngày 29-03-2022 thì Tòa án giao cháu Nguyễn Thị Thảo V cho ông Nguyễn Văn T nuôi dưỡng. Tuy nhiên, vì ông T đi làm ăn xa nên bà Nguyễn Thị M đã thỏa thuận giao cháu V cho bà M nuôi dưỡng theo Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự số 62/2023/QÐST-HNGĐ ngày 07-12-2023 của Tòa án nhân dân huyện Chư Sê.
Chị M đưa cháu V về cùng sinh sống với bị cáo N tại nhà của bị cáo. Trong thời gian cháu V sống chung với bị cáo N và mẹ, bị cáo đã chăm sóc, nuôi dưỡng cháu V. Mặc dù, biết cháu V là người dưới 16 tuổi nhưng lợi dụng lúc nhà không có người bị cáo đã dùng bộ phận sinh dục, tay, miệng của mình để đụng chạm, tiếp xúc trực tiếp với bộ phận nhạy cảm và các bộ phận khác trên cơ thể của cháu V để thoả mãn nhu cầu tình dục của bản thân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, cháu V là người mà bị cáo có trách nhiệm, giáo dục, chăm sóc nhưng bị cáo lại thực hiện những hành vi nêu trên.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Văn N về tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” với tình tiết định khung “Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 146 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Về kháng cáo của bị cáo:
[2.1] Đối với kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thể hiện thái độ ăn năn, hối cải; sau khi sảy ra sự việc bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo đã tự nguyện nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu. Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, bị cáo cung cấp cho Tòa án các tài liệu thể hiện bị cáo đang điều trị bị bệnh “Sơ gan mất mừ”. Ngoài ra, trong quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo luôn chấp hành pháp luật, có đóng góp giúp đỡ một số người dân có hoàn cảnh khó khăn trong dịch bệnh Covid 19 cùng với Sở lao động tỉnh G; bị cáo còn là lao động chính trong gia đình phải nuôi dưỡng con nhỏ và cả bị hại là cháu V, sự việc này được Ủy ban nhân dân xã D, huyện C xác nhận. Thấy rằng, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt để thể hiện tính nhân đạo của pháp luật và khoan hồng của Nhà nước trong xét xử.
[2.1] Đối với kháng cáo xin hưởng án treo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trái pháp luật, trái đạo đức, đã xâm phạm đến thể chất, tinh thần, sinh lý, sự phát triển bình thường của cháu Nguyễn Thị Thảo V. Hành vi của bị cáo gây bức xúc trong dư luận xã hội, gây mất trật tự địa phương. Do đó, cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian bằng hình phạt tù có thời hạn mới đủ tác dụng răn đe giáo dục đối với bị cáo.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo xin được hưởng án treo, chấp nhận kháng cáo của bị cáo về xin giảm nhẹ hình phạt sửa bản án sơ thẩm
Do kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
1. Điều luật áp dụng
- Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Áp dụng d khoản 2 Điều 146, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Văn N.
- Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Không chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo, chấp nhận kháng cáo về xin giảm nhẹ hình của bị cáo Lê Văn N. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 15/2024/HS – ST ngày 22 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Chư Sê, tỉnh Gia Lai.
- Tuyên bố bị cáo Lê Văn N phạm tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”
- Xử phạt bị cáo Lê Văn N 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Được trừ thời gian đã bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/9/2023 đến ngày 05/02/2024. Thời hạn tù tính từ ngày bị bị bắt chấp hành án.
3. Về án phí:
Bị cáo Lê Văn N không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên toà Nguyễn Tiến Sỹ |
Bản án số 04/2024/HSPT-CTN ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về vụ án hình sự phúc thẩm về tội "dâm ô đối với người dưới 16 tuổi"
- Số bản án: 04/2024/HSPT-CTN
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự phúc thẩm về tội "Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi"
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê văn N
