Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KRÔNG NÔ

TỈNH ĐẮK NÔNG

Bản án số:04/2024/HNGĐ-ST

Ngày 06/06/2024

Về việc: “Ly hôn, tranh chấp về

nuôi con”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lại Hồng Duy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Châu và ông Hồ Quang Hiển.

- Thư ký phiên toà: Ông Vi Thế Nam - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Anh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 06 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Krông Nô xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số:12/2024/TLST-HNGĐ, ngày 20/02/2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 06/5/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2024/QÐST-HNGĐ, ngày 22/5/2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị D; địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông, có đơn xin xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh B; địa chỉ: Thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông, vắng mặt không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Theo đơn xin ly hôn, trong quá trình giải quyết vụ án, chị D trình bày: Chị D và anh B kết hôn vào năm 2017, có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông vào ngày 01/9/2017, được cấp giấy chứng nhận kết hôn số 58, ngày 01/9/2017. Hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và không bị ép buộc.

Chị D và anh B có 02 con chung: Cháu D - sinh ngày 07/03/2017 và cháu L – sinh ngày 13/11/2018, hiện nay các cháu đang ở với anh B - địa chỉ thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đăk Nông, cháu D học lớp 01, trường tiểu học Đ xã N, cháu L học lớp Lá trường mẫu giao H xã N.

Tài sản chung, tài sản riêng và công nợ: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Mẫu thuẫn dẫn đến xin ly hôn: Chị D và anh B phát sinh mâu thuẫn trong gia đình, trong lối sống và sinh hoạt trong gia đình, hai vợ chồng có cách nghĩ, quan điểm sống trái ngược nhau, không có tiếng nói chung. Đặc biệt, mâu thuẫn về mặt kinh tế, hai vợ chống không có tiếng nói chung dẫn đến mâu thuẫn. Từ đó, hai vợ chồng thường xuyên cãi nhau, xung đột trong gia đình, vợ chồng không còn thương yêu, không quý trọng nhau, không chăm sóc, không giúp đỡ nhau, chỉ biết bổn phận của riêng mình, bỏ mặc nhau. Mặc dù đã được gia đình hai bên, bạn bè khuyên bảo nhưng hai vợ chồng vẫn không thể hòa giải được và không có tiếng nói chung. Anh B và chị D đã sống ly thân từ cuối năm 2020 cho đến nay, hai người sống hai nơi khác nhau và không còn liên lạc với nhau.

Ngày 15/4/2024, chị D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và nêu rõ quan điểm về giải quyết vụ án.

Nay chị D xin được ly hôn với anh B. Con chung: Chị D đồng ý giao cháu D - sinh ngày 07/03/2017 và cháu L – sinh ngày 13/11/2018 cho anh B được quyền nuôi dưỡng. Chị D không cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung, tài sản riêng và công nợ không có nên không yêu cầu giải quyết.

- Bị đơn anh B: Qua xác minh tại Công an xã và Ban tự quản Thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông, anh B có đăng ký hộ khẩu thường trú và đang sinh sống tại Thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông. Tòa án nhân dân tiến hành triệu tập anh B đến trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Nô để làm việc theo quy định pháp luật, nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Đồng thời, Tòa án nhân dân huyện Krông Nô kết hợp với chính quyền xã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng trong vụ án đối với anh B nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô tham gia phiên toà kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án xác định người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng ở giai đoạn sơ thẩm đều tuân thủ quy định của pháp luật. Duy chỉ, bị đơn anh B không chấp hành theo quy định của pháp luật, cố tình vắng mặt không có lý do, anh B đã từ bỏ quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận đơn và cho chị D được ly hôn với anh B (chấm dứt hôn nhân). Giao cháu D - sinh ngày 07/03/2017 và cháu L – sinh ngày 13/11/2018 cho anh B trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng; chị D không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung, tài sản riêng và công nợ nguyên đơn không yêu cầu giải quyết. Buộc chị D chịu án phí 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án xin ly hôn giữa nguyên đơn chị D và anh B. Bị đơn anh B có đăng ký thường trú tại Thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông. Nên Tòa án nhân dân huyện Krông Nô thụ lý và giải quyết vụ án đúng quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Bị đơn anh B: Qua xác minh, anh B có đăng ký thường trú và đang sinh sống tại Thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông. Tòa án nhân dân dân huyện Krông Nô kết hợp với chính quyền địa phương tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng trong vụ án theo quy định pháp luật đối với anh B, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Anh B vắng mặt không có lý do nên Tòa án tiến hành giải quyết vắng mặt là đúng theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, tiến hành xét xử vắng mặt anh B là đúng quy định của pháp luật.

[3] Trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa anh B đều vắng mặt không có lý do, đồng thời không cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, cũng như đưa ra quan điểm để phán bác lại yêu cầu của nguyên đơn. Theo khoản 4 Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc”. Như vậy, anh B phải chịu hậu quả về việc không đưa ra được chứng cứ để bảo vệ cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

[4] Về hôn nhân: Chị D và anh B xây dựng gia đình trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc, tự do đi đến hôn nhân. Có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông vào ngày 01/9/2017 và được cấp giấy chứng nhận kết hôn. Do đó, hôn nhân giữa chị D và anh B là hợp pháp.

[5] Về mâu thuẫn dẫn đến ly hôn: Chị D và anh B có những mâu thuẫn trong gia đình, trong lối sống và sinh hoạt trong gia đình, hai vợ chồng có cách nghĩ, quan điểm sống trái ngược nhau, không có tiếng nói chung. Dẫn đến hai vợ chồng thường xuyên cãi nhau, xung đột trong gia đình, vợ chồng không còn thương yêu, không quý trọng nhau, bỏ mặc nhau. Chị D đã sống ly thân với anh B từ cuối năm 2020 cho đến nay, hai người sống hai nơi khác nhau và không còn liên lạc với nhau.

Qua xác minh, chị D đã bỏ đi khỏi địa phương và làm công nhân tại địa phương khác hơn 03 năm nay, không thấy quay về Thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông.

Như vậy, mâu thuẫn giữa chị D và anh B đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, vợ chồng không còn thương yêu, không quan tâm, hạnh phúc gia đình không có. Do đó, để giải phóng cho hôn nhân không còn mục đích, Hội đồng xét xử căn cứ vào các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận đơn và cho chị D được ly hôn với anh B.

[6] Con chung: Chị D đồng ý giao cháu D - sinh ngày 07/03/2017 và cháu L – sinh ngày 13/11/2018 cho anh B được quyền nuôi dưỡng. Trong quá trình giải quyết, anh B vắng mặt và không đưa ra quan điểm về phần con cái. Qua xác minh tại Thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông, cháu D và cháu L hiện đang sống cùng với anh B tại Thôn N, xã N, huyện K, tỉnh Đắk Nông. Nên Hội đồng xét xử xét thấy cần giao cháu D và cháu L cho B nuôi dưỡng là phù hợp.

Tuy nhiên, vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con chung sau ly hôn theo quy định Luật hôn nhân và gia đình.

[7] Cấp dưỡng nuôi con: Chị D không cấp dưỡng nuôi con chung, anh B vắng mặt nên không đưa ra quan điểm về phần cấp dưỡng nuôi con chung. Tuy nhiên, vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi mức cấp dưỡng, chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng đối với các con theo quy định Luật hôn nhân và gia đình.

[8] Tài sản chung, tài sản riêng và công nợ, nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[9] Án phí dân sự sơ thẩm: Chị D phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

[10] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên Hội đồng xét xử cấn chấp nhận.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; Điều 94; Điều 144; Điều 147; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị D đối với anh B.
    1. Về hôn nhân: Chị D được ly hôn với anh B (chấm dứt hôn nhân).
    2. Về con chung: Giao cháu D - sinh ngày 07/03/2017 và cháu L – sinh ngày 13/11/2018 cho anh B được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi trưởng thành. Chị D được quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc con chung, anh B không được cản trở hoặc gây trở ngại đến việc thăm nom, giáo dục con chung.

      Việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha, mẹ không trực tiếp nuôi con sau ly hôn; Nghĩa vụ, quyền của cha mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình.

    3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Đương sự không yêu cầu.

      Vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định: Thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn, thay đổi mức cấp dưỡng, chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng, yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định tại các Điều 84, 107, 110,116 của Luật hôn nhân và gia đình.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị D phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000499 ngày 19/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Nô, tỉnh Đắk Nông.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo toàn bộ bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

    Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Nông;
  • - VKSND huyện Krông Nô;
  • - Chi cục THADS huyện Krông Nô;
  • - UBND xã Nâm N'đir, Krông Nô,
  • tỉnh Đắk Nông;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lại Hồng Duy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2024/HNGĐ-ST ngày 06/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ TỈNH ĐẮK NÔNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 04/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ TỈNH ĐẮK NÔNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận đơn ly hôn của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger