|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG TỈNH TÂY NINH Bản án số: 04/2024/HS-ST Ngày: 09-01-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: ông Nguyễn Quốc Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Cao Hoài Hiêm;
- Ông Tạ Kỳ Trung.
Thư ký phiên tòa: bà Bùi Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng tham gia phiên tòa: ông Võ Trường Thọ - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 79/2023/HSST ngày 24 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 80/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn H, sinh năm 1986, tại tỉnh Thanh Hóa. Nơi cư trú: ấp A, xã A, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không có; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị Ngọc Y; vợ: Thạch Thị Thanh P; con có 01 người sinh năm 2015; tiền án: tại Bản án số 40/2023/HS-ST ngày 30/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xử phạt Nguyễn Văn H 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chưa chấp hành hình phạt tù); tiền sự: không; về nhân thân: tại Quyết định số 140/2019/QĐ-TA ngày 13/4/2017 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh về việc áp dụng biện pháp hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc 18 tháng; tại Quyết định số 444/2019/QĐ-TA ngày 18/9/2019 của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh về việc áp dụng biện pháp hành chính đưa đi cai nghiện bắt buộc 18 tháng. Bị cáo bị tạm giữ ngày 20/8/2023, tạm giam ngày 26/8/2023 cho đến nay. (có mặt)
Bị hại.
- Anh Nguyễn Thanh T, sinh năm 1983; trú tại: khu phố A, phường A, thị xã T, tỉnh Tây Ninh.(có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Chị Trương Thị Kim H2, sinh năm 1991; trú tại: khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh .(có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
- Chị Trần Thị Thanh N, sinh năm 1989; trú tại: khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh. (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 06/8/2023, do không có tiền tiêu xài nên Nguyễn Văn H điều khiển xe mô tô biển số: 61G1-499.75 mang theo găng tay, mỏ lếch, kìm, tua vít, cây nại vỏ xe đến khu vực thị xã T, tỉnh Tây Ninh tìm nhà dân sơ hở trong quản lý tài sản để lấy trộm. H điều khiển xe đến khu vực khu phố A, phường A, thị xã T thì phát hiện nhà anh Nguyễn Thanh T đóng cửa không có người trông giữ, H điều khiển xe mô tô để bên hông nhà, đi đến cửa sổ dùng tua vít cạy cửa và dùng kìm cắt 02 đoạn khung kim loại cửa sổ rồi trèo vào bên trong nhà lấy trộm: tiền Việt Nam 6.000.000 đồng; 01 nhẫn vàng 18K, trọng lượng 05 chỉ (có đính hột phong thuỷ 09 ly, màu nâu); 01 đôi bông tai màu bạc; 01 đồng hồ đeo tay, nhãn hiệu Citizen. Sau khi trộm được tài sản, H đem bán cho người đàn ông khoảng 35 đến 40 tuổi (không rõ họ tên, địa chỉ) lấy tiền tiêu xài cá nhân hết. Qua điều tra xác minh, ngày 19/8/2023, Cơ quan điều tra mời H làm việc.
Qua điều tra, Nguyễn Văn H đã thừa nhận hành vi phạm tội như trên và khai thêm đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản khác trên địa bàn thị xã T, cụ thể như sau:
- Vụ thứ nhất: Vào khoảng 18 giờ 00 phút ngày 19/7/2023, H điều khiển xe mô tô biển số 61G1-499.75 đến khu vực khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh phát hiện nhà chị Trương Thị Kim H2 đóng cửa không có người trông giữ nên H để xe mô tô cách nhà chị H2 khoảng 500 mét rồi đi bộ đến dùng tua vít cạy cửa sau vào nhà chị H2 lấy trộm số tiền 3.200.000 đồng, đã tiêu xài cá nhân hết.
- Vụ thứ hai: Vào khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 07/8/2023, H điều khiển xe mô tô biển số 61G1-499.75 đến khu vực khu phố L, phường L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh phát hiện nhà chị Trần Thị Thanh N đóng cửa không có người trông giữ nên H đi đến cửa sổ bên hông nhà chi N dùng kìm cắt 01 đoạn khung kim loại cửa sổ trèo vào bên trong lấy trộm số tiền 14.000.000 đồng; 01 đôi bông tai hột xoàn 3,6 ly đem bán cho người đàn ông khoảng 35 đến 40 tuổi (không rõ họ tên, địa chỉ), đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐĐGTS ngày 21/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T, tỉnh Tây Ninh, kết luận: 01 nhẫn vàng 18K, trọng lượng 05 chỉ có đính hột phong thuỷ 09 ly, màu nâu trị giá: 20.314.000 đồng; 01 đồng hồ đeo tay nam, dây kim loại màu trắng, mặt đồng hồ màu xanh, hiệu Citizen, loại: NH8350-59L, trị giá 2.533.333 đồng; 01 đôi bông tai, chất liệu bạc, dạng hoa mai có 10 cánh, khoảng 02 chỉ, trị giá: 100.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 48/KL-HĐĐGTS ngày 22/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã T, tỉnh Tây Ninh kết luận: 01 đôi bông tai hột xoàn, có trọng lượng 4.0 F PNJ, trị giá: 32.048.000 đồng.
Tại bản cáo trạng số: 82/CT-VKSTrB ngày 22 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng trong phần tranh luận đã giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo H về tội danh trên, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173; điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 03 năm đến 04 năm tù.
Căn cứ Điều 56 của Bộ luật hình sự, tổng hợp với Bản án số 40/2023/HS-ST ngày 30/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xử phạt Nguyễn Văn H 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chưa chấp hành hình phạt tù), buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án theo quy định.
Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: tại phiên tòa, ghi nhận bị cáo đồng ý bồi thường cho chị Trương Thị Kim H2 số tiền 3.200.000 đồng; anh Nguyễn Thanh T số tiền 28.947.000 đồng; chị Trần Thị Thanh N số tiền là 46.048.000 đồng.
Về bào chữa: bị cáo H thống nhất với Cáo trạng và luận tội của Viện kiểm sát, không có ý kiến bào chữa cho mình.
Về nói lời nói sau cùng: bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: các bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt tại phiên tòa nhưng lời khai của những người này đã có đầy đủ trong hồ sơ, việc xét xử vắng mặt các bị hại không ảnh hưởng đến nội dung vụ án nên bị cáo và đại diện Viện kiểm sát đề nghị xét xử vắng mặt họ. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Trảng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh: Trong quá trình điều tra, cũng như tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình giống như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai nhận của bị cáo phù hợp với biên bản vụ việc, vật chứng, kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã chứng minh được như sau: Từ ngày 19/7/2023 đến ngày 07/8/2023, trên địa bàn các phường A, L, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; Nguyễn Văn H đã thực hiện 03 vụ trộm cắp tài sản, chiếm đoạt tiền, vàng, trang sức của các bị hại Trương Thị Kim H2, Nguyễn Thanh T, Trần Thị Thanh N với tổng trị giá tài sản là 78.195.333 đồng thì bị bắt.
Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c Khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; bị cáo đã tự thú về hành vi phạm tội trước đó của mình; bị cáo hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự sẽ được Hội đồng xét xử xem xét khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo.
- Về tình tiết tăng nặng: bị cáo thực hiện trộm cắp tài sản của người khác nhiều lần liên tiếp, trong đó có 03 lần đủ yếu tố cấu thành tội phạm và đã bị kết án chưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm tội là tái phạm. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự sẽ được Hội đồng xét xử xem xét khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo.
[4] Về tính chất của hành vi phạm tội và hình phạt:
Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn thực hiện.
Bị cáo có nhân thân xấu, đã 02 lần bị đưa đi cai nghiện bắt buộc và đã bị kết án về tội "Trộm cắp tài sản", chưa được xóa án tích. Lần phạm tội này là tái phạm.
Do đó, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét thấy bị cáo không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 589 Bộ luật dân sự, Hội đồng xét xử xử lý vật chứng như sau:
- Về trách nhiệm dân sự: tại phiên tòa, ghi nhận bị cáo H đồng ý bồi thường cho chị Trương Thị Kim H2 số tiền 3.200.000 đồng; anh Nguyễn Thanh T số tiền 28.947.000 đồng; chị Trần Thị Thanh N số tiền là 46.048.000 đồng.
- Về vật chứng:
+ 01 (một) điện thoại di động, hiệu: Nokia - MR1133, màu đen, sim số: 0395854773, IMEI 1: 353690086173888, IMEI 2: 353690086173896 (Đã qua sử dụng), là tài sản cá nhân của bị cáo, không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
+ 02 (hai) đoạn kim loại, màu trắng, có kích thước 33cm x 2,5cm x 1,5cm (Đã qua sử dụng); 01 (một) mũ bảo hiểm, có kính chắn gió, màu: xanh - trắng - đen, có chữ: Honda (Đã qua sử dụng); 01 (một) đôi găng tay, màu đen, có viền cổ tay, màu cam (Đã qua sử dụng); 01 (một) áo khoác, dài tay, màu xám (Đã qua sử dụng); 01 (một) đôi dép quai ngang bằng nhựa, màu đen, có quai màu xám, có chữ: Gucci (Đã qua sử dụng); 01 (một) áo mưa, bằng nhựa, có tay lở ngang khuỷu tay, màu xanh (Đã qua sử dụng); 01 (một) mỏ lếch, bằng kim loại, màu trắng, dài 27cm (Đã qua sử dụng); 01 (một) cây kìm bấm chết, bằng kim loại, màu trắng, dài 21cm (Đã qua sử dụng); 01 (một) cây kìm, bằng kim loại, có cán bọc nhựa, màu đỏ, dài 20cm (Đã qua dụng); 01 (một) cây tua vít, bằng kim loại, có cán màu: đỏ đen, dài 19cm (Đã qua sử dụng); 02 (hai) cây nại võ xe, băng kim loại, màu trắng, có 02 (hai) đầu dẹp, dài 20cm (Đã qua sử dụng); 01 (một) quần tây dài, màu đen (Đã qua sử dụng); 01 (một) áo sơ mi nam, dài tay, màu đen, có hoa văn màu trắng không rõ hình thù (Đã qua sử dụng); 01 (một) thanh kim loại, màu đen, có 02 (hai) đầu bị lõm, dài 36,5cm (Đã qua dụng); 01 (một) cây tua vít, bằng kim loại, có cán bằng nhựa, màu: đỏ tím, dài 24,3 cm (Đã qua dụng); 01 (một) cây kìm, bằng kim loại, có cán bọc nhựa, màu đỏ, dài 19,3 cm (Đã qua dụng), là các vật chứng liên quan đến việc phạm tội không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[5] Bị cáo H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.909.700 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda, số khung: RLHJC5388E2098806, số máy: JC54E3153676, biển số xe 61G1 - 499.75, do Nguyễn Văn H lấy trộm tại ấp R, xã A, thị xã B, tỉnh Bình Dương. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã T, tỉnh Tây Ninh đã chuyển tin báo, vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B, tỉnh Bình Dương để điều tra theo thẩm quyền.
Đối với người đàn ông khoảng 35 đến 40 tuổi mà Nguyễn Văn H khai nhận bán tài sản do trộm cắp mà có do không rõ họ tên, địa chỉ, chưa làm việc được, Cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ, xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm c Khoản 2 Điều 173; điểm r, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h, g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 03 (Ba) năm 06 (sáu) tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản".
Căn cứ Điều 56 của Bộ luật hình sự, tổng hợp với Bản án số 40/2023/HS-ST ngày 30/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương xử phạt Nguyễn Văn H 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (bị cáo chưa chấp hành hình phạt tù), buộc bị cáo Nguyễn Văn H phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 04 (Bốn) năm 03 (Ba) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 20/8/2023. Bị cáo được khấu trừ thời gian tạm giữ của Bản án số 40/2023/HS-ST ngày 30/6/2023 của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương từ ngày 15/01/2023 đến ngày 24/01/2023 vào thời gian chấp hành hình phạt tù.
- Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 589 Bộ luật dân sự:
- - Về trách nhiệm dân sự: bị cáo Nguyễn Văn H có trách nhiệm bồi thường cho chị Trương Thị Kim H2 số tiền 3.200.000 (Ba triệu hai trăm nghìn) đồng; anh Nguyễn Thanh T số tiền 28.947.000 (Hai mươi tám triệu chín trăm bốn mươi bảy nghìn) đồng; chị Trần Thị Thanh N số tiền là 46.048.000 (Bốn mươi sáu triệu không trăm bốn mươi tám nghìn) đồng.
- Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu tiền lãi suất của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
- - Về vật chứng:
- + Trả cho Nguyễn Văn H 01 (một) điện thoại di động, hiệu: Nokia - MR1133, màu đen, sim số: 0395854773, IMEI 1: 353690086173888, IMEI 2: 353690086173896 (Đã qua sử dụng).
- + Tịch thu tiêu hủy: 02 (hai) đoạn kim loại, màu trắng, có kích thước 33cm x 2,5cm x 1,5cm (Đã qua sử dụng); 01 (một) mũ bảo hiểm, có kính chắn gió, màu: xanh - trắng - đen, có chữ: Honda (Đã qua sử dụng); 01 (một) đôi găng tay, màu đen, có viền cổ tay, màu cam (Đã qua sử dụng); 01 (một) áo khoác, dài tay, màu xám (Đã qua sử dụng); 01 (một) đôi dép quai ngang bằng nhựa, màu đen, có quai màu xám, có chữ: Gucci (Đã qua sử dụng); 01 (một) áo mưa, bằng nhựa, có tay lở ngang khuỷu tay, màu xanh (Đã qua sử dụng); 01 (một) mỏ lếch, bằng kim loại, màu trắng, dài 27cm (Đã qua sử dụng); 01 (một) cây kìm bấm chết, bằng kim loại, màu trắng, dài 21cm (Đã qua sử dụng); 01 (một) cây kìm, bằng kim loại, có cán bọc nhựa, màu đỏ, dài 20cm (Đã qua dụng); 01 (một) cây tua vít, bằng kim loại, có cán màu: đỏ đen, dài 19cm (Đã qua sử dụng); 02 (hai) cây nại võ xe, băng kim loại, màu trắng, có 02 (hai) đầu dẹp, dài 20cm (Đã qua sử dụng); 01 (một) quần tây dài, màu đen (Đã qua sử dụng); 01 (một) áo sơ mi nam, dài tay, màu đen, có hoa văn màu trắng không rõ hình thù (Đã qua sử dụng); 01 (một) thanh kim loại, màu đen, có 02 (hai) đầu bị lõm, dài 36,5cm (Đã qua dụng); 01 (một) cây tua vít, bằng kim loại, có cán bằng nhựa, màu: đỏ tím, dài 24,3 cm (Đã qua dụng); 01 (một) cây kìm, bằng kim loại, có cán bọc nhựa, màu đỏ, dài 19,3 cm (Đã qua dụng).
- Về án phí: Căn cứ Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 3.909.700 (Ba triệu chín trăm lẻ chín nghìn bảy trăm) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM | |
| THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Nguyễn Quốc Hùng |
Bản án số 04/2024/HS-ST ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 04/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TRẢNG BÀNG, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Hưng trộm cắp tài sản
