Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Bản án số: 04/2023/HS-ST

Ngày: 05/01/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa : ông Phạm Xuân Diễn.

Các Hội thẩm nhân dân :

- Ông Đinh Đức Thành ;

- Bà Vũ Thị Thanh.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa : bà Nguyễn Thị Phương Anh, thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Yên tham gia phiên tòa: bà Lê Thị Thanh Hải - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 01 năm 2024, tại Hội trường xét xử, Toà án nhân dân thị xã Quảng Yên mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 114/2023/TLST-HS, ngày 17 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2023/QĐXXST- HS, ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Yên, đối với bị cáo :

Vũ Văn T (giới tính: nam); tên gọi khác: không, sinh ngày 19/6/1998 tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.

Nơi cư trú: khu H, phường Đ, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.

Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; trình độ văn hóa: lớp 9/12; nghề nghiệp: Công nhân; con ông Vũ Văn T1 và bà Đinh Thị N.

Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: không có.

Bị cáo bị bắt, giữ người trong trường hợp khẩn cấp từ ngày 21/9/2023 hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam công antinhr Quảng Ninh, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Công ty TNHH T3.

Địa chỉ trụ sở: Căn Paris H V, đường B, phường T, quận H, thành phố Hải Phòng.

Địa chỉ kinh doanh: xóm G, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: ông YANG YUEHAI, quốc tịch Trung Quốc, Tổng Giám đốc. Người được ông YANG YUEHAI ủy quyền tham gia tố tụng là bà Nguyễn Thị H theo Giấy ủy quyền ngày 21/9/2023, bà H vắng mặt tại phiên tòa (bà H có đơn xin vắng mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: chị Khổng Thị N1, sinh năm 1990;

Địa chỉ: thôn D, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa (chị N1 có đơn xin vắng mặt).

Người làm chứng: anh Đào Quang H1.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ tháng 7/2023 đến tháng 9/2023, Vũ Văn T đã nhiều lần sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 14X1-440.30 đi đến khu vực tường bao phía sau dãy nhà xưởng rồi đột nhập vào Công ty TNHH T3 tại thôn G, xã S, thị xã Q trộm cắp một số tài sản sau đó đem đến bán cho chị Khổng Thị N1 - chủ cửa hàng thu mua phế liệu tại thôn D, xã S, thị xã Q, cụ thể:

Lần thứ nhất: khoảng 00 giờ ngày cuối tháng 7/2023, T trèo qua tường rào, chui qua lỗ thông gió vào nhà xưởng trộm cắp 400m dây điện tròn kí hiệu VCTF (3x2,5) cm (đã qua sử dụng), bán được 3.200.000 đồng.

Lần thứ hai: khoảng 20 giờ ngày đầu tháng 8/2023, T trộm cắp 01 máy hàn nhãn hiệu RILAND ARC 250CT; 02 chiếc súng bắt ốc vít nhãn hiệu DCA 230w; 200m dây điện tròn kí hiệu VCTF (03x2,5cm đều đã qua sử dụng), bán được 3.200.000 đồng.

Lần thứ ba: khoảng 11 giờ ngày giữa tháng 8/2023, T trộm cắp 01 chiếc máy hàn que nhãn hiệu Punair ARC 20; 155m dây điện tròn kí hiệu VCTF (03x2,5) cm (đều đã qua sử dụng), bán được 1.600.000 đồng.

Lần thứ tư: khoảng 22 giờ ngày cuối tháng 8/2023, T trộm cắp 134m dây điện tròn kí hiệu VCTF (03x2,5cm đều đã qua sử dụng), bán được 1.170.000 đồng.

Lần thứ năm: khoảng 20 giờ 00 phút ngày 20/9/2023, T trộm cắp 02 chiếc máy hàn (đã qua sử dụng) nhãn hiệu LICCK LC-400 và nhãn hiệu Jasic ZX7-250/ARC-250A TQ và 20 cái mặt bích rỗng bằng kim loại nhãn hiệu BS4504PN16 chưa qua sử dụng (16 cái kí hiệu DN 200; 02 cái kí hiệu DN 150; 01 cái kí hiệu DN 125 và 01 cái kí hiệu DN100) đem ra bãi đất trống ở phía sau tường bao để ở gần nơi dựng xe mô tô cất giấu. Khoảng 30 phút sau, khi T đang chui qua lỗ thông gió vào nhà xưởng tìm lấy bao đựng tài sản thì bị chị Nguyễn Thị H là nhân viên của Công ty phát hiện, trình báo Công an xã S. Ngày 21/9/2023 Cơ quan điều tra Công an thị xã Q thu hồi số tài sản trên và ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Vũ Văn T.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 73, ngày 28/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Q, kết luận: 02 chiếc máy hàn đã qua sử dụng và 20 tấm mặt bích chưa qua sử dụng (tài sản trộm cắp ngày 20/9/2023) trị giá: 8.845.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 76, ngày 27/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã Q, kết luận đối với 04 vụ trộm cắp là tài sản đã qua sử dụng) gồm: Lần thứ nhất: 400m dây điện tròn trị giá 7.920.000 đồng. Lần thứ hai: 02 máy hàn và 200m dây điện tròn trị giá 8.262.000 đồng. Lần thứ ba: 01 máy hàn và 155m dây điện tròn trị giá 5.319.000 đồng; Lần thứ tư: 134m dây điện tròn trị giá 2.653.000 đồng.

Tại cơ quan điều tra, bị can Vũ Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên. Số tiền bán tài sản trộm cắp T sử dụng hết vào chi tiêu cá nhân.

Vật chứng: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu WinerX biển kiểm soát 14X1-440.30, qua xác minh chiếc xe của bà Đinh Thị N - trú tại khu H, phường Đ, thị xã Q cho bị cáo mượn, bà N không biết bị can sử dụng xe vào việc phạm tội; số tài sản trộm cắp ngày 20/9/2023 đã thu hồi. Cơ quan điều tra đã trả lại xe và tài sản cho các chủ sở hữu hợp pháp.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường số tiền 21.900.000 đồng cho Công ty TNHH T3, đại diện Công ty không có yêu cầu gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Tại Cơ quan điều tra, Vũ Văn T đã thừa nhận toàn bộ nội dung sự việc như đã nêu trên.

Bản cáo trạng số 118/CT-VKSQY, ngày 17/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, đã truy tố bị cáo Vũ văn T2, về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự (BLHS).

Tại phiên tòa bị cáo Vũ Văn T khai nhận như sau: do cần tiền tiêu xài cá nhân nên T nẩy sinh ý định trộm cắp tài sản, trong khoảng thời gian từ tháng 7/2023 đến tháng 9/2023, T đã 5 lần sử dụng xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave đi đến khu vực tường bao phía sau dãy nhà xưởng rồi đột nhập vào Công ty TNHH T3 trộm cắp một số tài sản rồi bán cho Khổng Thị N1 tại thôn D, xã S, gồm lần 1 là 400m dây điện tròn kí hiệu VCTF (3x2,5cm, đã qua sử dụng), bán được 3.200.000 đồng, lần thứ hai trộm cắp 01 máy hàn nhãn hiệu RILAND ARC 250CT; 02 chiếc súng bắt ốc vít và 200m dây điện tròn kí hiệu VCTF (03x2,5cm đều đã qua sử dụng), bán được 3.200.000 đồng, lần thứ ba trộm cắp 01 máy hàn que nhãn hiệu Punair ARC 20 và 155m dây điện tròn kí hiệu VCTF (03x2,5cm đều đã qua sử dụng), bán được 1.600.000 đồng, lần thứ tư trộm cắp 134m dây điện tròn kí hiệu VCTF (03x2,5cm đều đã qua sử dụng), bán được 1.170.000 đồng, lần thứ năm T trộm cắp 02 chiếc máy hàn (đã qua sử dụng) nhãn hiệu LICCK LC-400 và nhãn hiệu Jasic ZX7-250/ARC-250A TQ và 20 cái mặt bích rỗng bằng kim loại nhãn hiệu BS4504PN16 chưa qua sử dụng đem ra bãi đất trống ở phía sau tường bao để ở gần nơi dựng xe mô tô cất giấu thì bị chị Nguyễn Thị H là nhân viên của Công ty phát hiện, trình báo Công an xã S và bị bắt giữ.

Người đại diện theo ủy quyền của B hại đồng thời là người bắt quả tang và trình báo cơ quan chức năng hành vi của T là bà Nguyễn Thị H xác nhận khoảng 20 giờ 30 phút ngày 20/9/2023 đã phát hiện Vũ Văn T không phải là công nhân của công ty nhưng có mặt trong trụ sở công ty và trộm cắp tài sản của công ty nên đã báo cơ quan công an bắt giữ Trường.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, chị Khổng Thị N1 có lời khai đã 04 lần đã mua các loại đồ điện phế liệu gồm dây dẫn điện và máy móc đã qua sử dụng, T đều nói là tài sản của T nên chị đã mua lại, sau khi sự việc bị phát hiện chị đã mang giao nộp lại các tài sản đã mua của T để cơ quan công an giải quyết vụ án, đối với số tiền 9.170.000đồng chị mua của T 4 lần các tài sản T trộm cắp, chị có quan điểm không nhận lại.

Người làm chứng, anh Đào Quang Hoàng có lời khai khẳng định tối ngày 20/9/2023 anh đã cùng với chị Nguyễn Thị H kiểm tra và phát hiện Vũ Văn T trộm cắp tài sản của công ty gồm dây dẫn điện và một số máy móc, máy hàn đã qua sử dụng, sau đó trình báo cơ quan công an bắt giữ Vũ Văn T.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND thị xã Quảng Yên giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng; đề nghị HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm b,s khoản1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS xử phạt Vũ Văn T từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 21/9/2023;

Bị cáo thừa nhận tội danh và hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.

Bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án và căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:

[1] Về hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên tham gia trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, đúng trình tự thủ tục tố tụng được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự và bị cáo không có ý kiến gì khiếu nại về quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng, HĐXX khẳng định các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về tội danh và căn cứ kết tội: tại phiên tòa, bị cáo Vũ Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của Bị hại và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, Người làm chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa như Sơ đồ kèm theo bản ảnh hiện trường, Bản ảnh vật chứng, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Bản kết luận định giá tài sản... đã có đầy đủ cơ sở để kết luận: Lợi dụng sơ hở, trong khoảng thời gian từ tháng 7 đến tháng 9/2023, tại thôn G, xã S, thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh, Vũ Văn T đã 05 lần trộm cắp tài sản của Công ty TNHH T3 với tổng trị giá 32.999.000 đồng.

Cáo trạng số 118/CT-VKSQY, ngày 17/11/2023 của VKSND thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh, đã truy tố bị cáo Vũ Văn T là có căn cứ pháp luật.

Hành vi của Vũ Văn T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 điều 173 BLHS.

[3] Xét tính chất mức độ hành vi của bị cáo T là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của Bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an địa phương. Bị cáo là người đã thành niên nhận thức được hành vi trộm cắp là vi phạm pháp luật, bị cáo có sự chuẩn bị công cụ phương tiện phạm tội, phạm tội nhiều lần, do hám lời vẫn cố tình thực hiện, thể hiện sự coi thường pháp luật.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự : bị cáo T phải chịu tình tiết tăng nặng “phạm tội hai lần trở lên” theo điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường phần lớn thiệt hại cho bị hại và được bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, điểm b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS.

Mặc dù bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ nêu trên, xong khi xem xét HĐXX thấy rằng bị cáo ngoài phạm tội nhiều lần, tổng số tiền các lần phạm tội tương đối lớn trong khung hình phạt, do đó HĐXX thấy cần phải áp dụng một mức án tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội, cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để răn đe giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung, tuy bị cáo phạm tội nhiều lần nhưng bị cáo T là công nhân của khu công nghiệp Đ nên VKS không truy tố, Tòa án không xét xử bị cáo đối với tình tiết phạm tội có tính chất chuyên nghiệp. Khi xem xét cần cân nhắc giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để vừa răn đe phòng ngừa chung vừa giáo dục đối với bị cáo và thể hiện tính nhân đạo của pháp luật nhà nước ta.

Về hình phạt bổ sung: bị cáo T hoàn cảnh gia đình khó khăn, HĐXX thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về vật chứng của vụ án: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu WinerX biển kiểm soát 14X1-440.30, qua xác minh chiếc xe của bà Đinh Thị N, trú tại khu H, phường Đ, thị xã Q cho bị cáo mượn, bà N không biết bị cáo sử dụng xe vào việc phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại xe, bà N không yêu cầu gì thêm, HĐXX không đề cập.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường số tiền 21.900.000 đồng cho Công ty TNHH T3, Công ty không yêu cầu bồi thường thêm, HĐXX không đề cập.

Đối với số tiền 9.170.000đồng chị Khổng Thị N1 đưa cho bị cáo để mua các tài sản do bị cáo trộm cắp, chị N1 có quan điểm không lấy lại, HĐXX không xem xét, tuy nhiên cần truy thu bị cáo số tiền này để sung ngân sách nhà nước.

Đối với một số vật chứng là dây điện, máy móc đã qua sử dụng bị cáo trộm cắp bán cho chị Khổng Thị N1, một số chị N1 đã bán cho người không quen biết không thu hồi được, số còn lại chị N1 đã nộp lại cho cơ quan điều tra, cơ quan điều tra đã trao trả lại bị hại, bị hại không yêu cầu gì thêm HĐXX không đề cập.

Trong vụ án này, chị Khổng Thị N1 mua các tài sản do T trộm cắp nhưng không biết do T trộm cắp mà có nên không có căn cứ xử lý, HĐXX không đề cập.

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Vũ Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;

1. Về hình phạt :

Xử phạt: Vũ Văn T 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 21/9/2023.

Tiếp tục tạm giam bị cáo với thời hạn 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã bồi thường số tiền 21.900.000 đồng cho Công ty TNHH T3, Công ty không yêu cầu bồi thường thêm, HĐXX không đề cập.

3. Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Truy thu bị cáo số tiền 9.170.000đồng để nộp ngân sách nhà nước.

4. Về án phí và quyền kháng cáo: áp dụng khoản 2 Điều 136; khoản 1, khoản 4 Điều 331; khoản 1, khoản 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 6, điểm a khoản 1 điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14, buộc bị cáo Vũ Văn T phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, vắng mặt Bị hại và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; báo cho Bị hại và Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận :

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Qninh;
  • - VKSND Tx Quảng Yên;
  • - Công an Tx Quảng Yên;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Quảng Ninh;
  • - Bị cáo, Bị hại;
  • - Người CQLNVLQ;
  • - Thi hành án dân sự, HS;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Xuân Diễn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2023/HS-ST ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 04/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/01/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG YÊN, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn Trường trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger