|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA- VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập- Tự do- Hạnh phúc |
|
Bản án số: 04/2024/HS-PT Ngày 05-01-2024 |
---------------------- |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Trung Dũng
Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Bắc
Ông Đặng Đức Hào
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trung Tín – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Nghiêm Thị Lan Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 191/2023/HSPT ngày 20-11-2023 đối với bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị T do có kháng cáo của các bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 93/2023/HSST ngày 07-6-2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Bị cáo có kháng cáo:
-
Nguyễn Thị H, sinh năm 1978 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi cư trú: Số B tổ H, ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: buôn bán; Trình độ văn hóa: 4/12; Dân tộc: Kinh; Con ông Nguyễn Văn Q; Con bà Trần Thị C; chồng: Bạch Văn S và có 02 con, lớn sinh năm 1998, nhỏ sinh năm 2004.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo tại ngoại (có mặt).
-
Nguyễn Thị T, sinh năm 1976 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Nơi cư trú: Số B tổ F, ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nghề nghiệp: nội trợ; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Con ông Nguyễn Văn T1; Con bà Nguyễn Thị H1; chồng: Trần Tấn L và có 02 con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2008.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo tại ngoại (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị H có nghề nghiệp buôn bán nước mía và rượu tại nhà. Để kiếm thêm thu nhập, vào khoảng tháng 8/2022 H bắt đầu bán số đề cho những người có nhu cầu, những người mua số đề bằng cách nhắn tin vào số điện thoại của H 0797.438.xxx, đến khoảng 15 giờ hằng ngày H tổng hợp ghi ra các con số, lô đề của người chơi ra 01 cuốn tập. Theo lời khai của H, sau khi tổng hợp H giao cho một người đàn ông tên M (chưa rõ nhân thân lai lịch) qua số điện thoại +8434894460, việc H bán số đề và giao số cho M sẽ được M cho mỗi ngày trung bình từ 300.000 đồng đến 400.000 đồng, khoảng 3 – 4 ngày M đưa tiền cho H 01 lần.
Hình thức bán số đề và mức độ thắng thua cụ thể như sau:
Bán đầu đuôi, bao lô 02 con số, bao lô 03 con số, xỉu chủ, đá ngay 02 cặp 02 con một đài (bộ B), đá ngay 03 cặp 02 con một đài (bộ C1), đá xiên 02 cặp 02 con hai đài (bộ B), đá xiên 03 cặp 02 con hai đài (bộ C1). Bán đầu đuôi là lấy hai con số đầu của giải tám và hai con số cuối cùng của giải đặc biệt, có mức chi thưởng mua 1.000 đồng nếu trúng sẽ được 70.000 đồng; Bao lô hai con số là lấy hai con số cuối của tất cả các giải từ giải tám cho đến giải đặc biệt (18 lô) có cùng mức chi thưởng mua 1.000 đồng nếu trúng sẽ được 70.000 đồng; Xỉu chủ là lấy ba con số đầu của giải bảy và ba con số cuối cùng của giải đặc biệt (02 lô); Bao lô ba con số là lấy ba con số cuối cùng từ giải bảy cho đến giải đặc biệt (17 lô) có cùng mức chi thưởng mua 1.000 đồng nếu trúng sẽ được 600.000 đồng. Đá ngay 02 cặp 02 con một đài (bộ B) là lấy 02 cặp hai con số ngẫu nhiên từ giải tám đến giải đặc biệt (36 lô), có mức chi thưởng mua 1.000 đồng nếu trúng sẽ được 600.000 đồng. Đá ngay 03 cặp 02 con một đài (bộ C1) là lấy 03 cặp hai con số ngẫu nhiên từ giải tám đến giải đặc biệt (108 lô) có mức chi thưởng mua 1.000 đồng nếu trúng sẽ được 600.000 đồng. Đá xiên (xiên) 02 cặp 02 con hai đài (bộ B) là lấy 02 cặp hai con số ngẫu nhiên từ giải tám đến giải đặc biệt của hai đài (72 lô), có mức chi thưởng mua 1.000 đồng nếu trúng sẽ được 500.000 đồng. Đá xiên (xiên) 03 cặp 02 con hai đài (bộ C1) là lấy 03 cặp hai con số ngẫu nhiên từ giải tám đến giải đặc biệt của hai đài (216 lô), có mức chi thưởng mua 1.000 đồng nếu trúng sẽ được 500.000 đồng.
Đến khoảng 15 giờ 40 phút ngày 16-9-2023, khi H đang ở nhà tổng hợp các lô, số đề thì bị Công an xã A kiểm tra phát hiện bắt quả tang và thu giữ một số vật chứng liên quan đến việc bán số đề của H.
Qua điều tra, trên cơ sở Kết luận giám định số 5300/KL-KTHS ngày 01-02-2023 của Phòng KTHS Công an T3 kết luận: Phục hồi trích xuất dữ liệu từ thiết bị điện tử gửi giám định (ký hiệu A) nêu tại mục II.1, bao gồm dữ liệu là nội dung tin nhắn văn bản (SMS) trong khoảng thời gian từ ngày 01-8-2022 đến 16-9-2022. Dữ liệu khai thác được sao lưu ra một (01) thiết bị lưu trữ kèm theo kết luận giám định. Qua kiểm tra trích xuất dữ liệu điện tử chiếc điện thoại của Nguyễn Thị H là phù hợp với lời khai của H, xác định tổng số tiền dùng để đánh bạc vào ngày 15-9-2022 và ngày 16-9-2022 như sau:
Ngày 15-9-2022, H bán xỉu chủ 50.000 đồng, đầu đuôi với số tiền 120.000, đồng của đài Tây Ninh cho Trần Thị L1, tổng số tiền L1 đánh bạc trong ngày 15-9-2022 với số tiền 170.000 đồng, kết quả không trúng.
Ngày 16-9-2022, H bán đầu đuôi với số tiền 5.172.000 đồng, bao lô 02 con là 17.010.000 đồng, bao lô 03 con là 255.000 đồng, xỉu chủ là 630.000 đồng của các đài miền N là Vĩnh L2 và Trà V với tổng số tiền 23.067.000 đồng, tại thời điểm bắt quả tang chưa có kết quả xổ số.
Những người mua số đề của H trong ngày 16-9-2022 cụ thể như sau:
Phạm Văn N mua số đề của H vào ngày 16-9-2022 với số tiền 540.000 đồng (chưa có kết quả sổ xố).
Bạch Thị Thu V1 mua số đề của H vào ngày 16-9-2022 với số tiền 1.425.000 đồng (chưa có kết quả sổ xố).
Trần Thị Thùy A (T2) mua số đề của H vào ngày 16-9-2022 với số tiền 900.000 đồng (chưa có kết quả sổ xố).
Nguyễn Thị T mua số đề của H vào ngày 16-9-2022 bằng cách T sử dụng số 078.690.7xxx nhắn tin cho H qua số điện thoại 0797.438.xxx, T nhắn tin cho H 04 lần:
Lần thứ nhất: Thảo mua đài Bình Dương gồm bao lô số 21 – 5.000 đồng với số tiền 90.000 đồng, bao lô số 28-10.000 đồng với số tiền 180.000 đồng, bao lô số 32-10.000 đồng với số tiền 180.000 đồng. Tổng số tiền T mua lần thứ nhất là 450.000 đồng.
Lần thứ hai: T mua đài Vĩnh Long gồm bao lô số 48-100.000 đồng với số tiền 1.800.000 đồng, bao lô số 84-100.000 đồng với số tiền 1.800.000 đồng. Tổng số tiền T mua lần thứ hai là 3.600.000 đồng.
Lần thứ ba: T mua 02 đài Vĩnh Long và Bình Dương bao lô số 13-200.000 đồng với số tiền 7.200.000 đồng, đầu đuôi số 13 đầu 300.000 đồng và 300.000 đồng đuôi với số tiền 1.200.000 đồng, bao lô số 16-5.000 đồng đài Bình Dương với số tiền 90.000 đồng. Tổng số tiền T mua lần thứ 03 là 8.490.000 đồng.
Lần thứ tư: T mua đài Bình Dương bao lô số 17-100.000 đồng với số tiền 1.800.000 đồng.
Tổng số tiền mà T mua các lô, số đề của H 04 lần trong ngày 16-9-2022 là 14.340.000 đồng, tại thời điểm bắt quả tang chưa có kết quả sổ xố.
Sau khi H bị bắt quả tang, Bùi Thị Xuân H2 và người có số ĐT +84378727955 nhắn tin vào số điện thoại của H để mua các lô, số đề. Do H bị bắt nên việc giao dịch mua bán số đề không thực hiện được.
Về thu nhập bất chính: H khai nhận bắt đầu bán số đề từ tháng 7/2022 cho đến thời điểm bắt quả tang, H bán được 1.000.000 đồng sẽ được hưởng lợi nhận 100.000 đồng, mỗi ngày H được hưởng 500.000 đồng. Lợi nhuận H có được từ việc bán số đề trong 01 tháng là 15.000.000 đồng.
Đối với người đàn ông tên M (chưa rõ nhân thân lai lịch) mà H đã chuyển các lô số đề qua số điện thoại +8434894460, cơ quan CSĐT Công an huyện L đã yêu cầu Ban Thanh tra-kiểm toán, Tập đoàn C2 cung cấp thông tin nhưng đến nay vẫn chưa có kết quả. Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã ra quyết định tách hành vi của M, khi nào có kết quả xác minh, xử lý sau.
Đối với Phạm Văn N, Bạch Thị Thu V1, Trần Thị Thùy A, Trần Thị L1 có hành vi đánh bạc trong các ngày 15/9/2022 và ngày 16/9/2022 với số tiền dưới 5.00.000 đồng. Bản thân, N, V1, A và L1 chưa bị kết án về tội đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc, gá bạc cũng như chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc hoặc tổ chức đánh bạc, gá bạc nên hành vi của N, V1, A và L1 chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự. Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã chuyển hồ sơ sang xử phạt hành chính đối với N, V1, A và L1 nên không đặt ra xem xét.
Đối với Bùi Thị Xuân H2 và người có số điện thoại +84378727955 đã có hành vi nhắn tin cho H để ghi các lô số đề nhưng do H bị bắt quả tang nên chưa thực hiện được, vì vậy, không có đủ cơ sở để xử lý H2 về hành vi đánh bạc.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 93/2023/HSST ngày 07-6-2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Thị H 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Áp dụng khoản 1, Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Thị T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự. Buộc bị cáo H phải nộp số tiền 15.000.000₫ (Mười lăm triệu) đồng và bị cáo T phải nộp số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu) đồng để sung vào công quỹ Nhà nước.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, xử lý vật chứng và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 08/6/2023, bị cáo Nguyễn Thị H kháng cáo xin hưởng án treo hoặc phạt tiền. Ngày 12/6/2023, bị cáo Nguyễn Thị T kháng cáo xin hưởng án treo
Tại phiên tòa phúc thẩm;
Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung án sơ thẩm và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát biểu quan điểm về vụ án: Bản án sơ thẩm đã xét xử đối với các bị cáo về tội “Đánh bạc” là có căn cứ và đúng pháp luật, mức án đã tuyên phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo. Tại phiên tòa, các bị cáo trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn và không cung cấp được chứng cứ nào mới làm căn cứ xin giảm hình phạt. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với 02 bị cáo, không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị T gửi trong thời hạn luật định, phù hợp về chủ thể và nội dung kháng cáo nên hợp lệ, được chấp nhận xem xét theo trình tự thủ tục phúc thẩm.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện:
Vào khoảng 15 giờ 40 phút ngày 16-9-2022, Nguyễn Thị H bị bắt quả tang có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức bán số đề tại nhà thuộc ấp A, xã A, huyện L với tổng số tiền đánh bạc được xác định trong ngày 16-9-2022 là 23.067.000 đồng. Nguyễn Thị T có hành vi đánh bạc trái phép dưới hình thức mua số đề của Nguyễn Thị H với tổng số tiền T đánh bạc trong ngày 16-9-2022 là 14.340.000 đồng.
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là hoàn toàn có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Về kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, hưởng án treo của các bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương nên cần xử lý tương xứng để giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo H nộp lại số tiền thu lợi bất chính nên áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và xử phạt bị cáo H 12 (mười hai) tháng tù, xử phạt bị cáo T 09 (chín) tháng tù về tội “Đánh bạc” tù là phù hợp, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo H bổ sung đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, bị cáo T trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn đang phải chăm sóc cháu nhỏ mồ côi, bổ sung tài liệu thể hiện bản thân bị bị bệnh lý van tim, bệnh tiểu đường, tăng huyết áp đang phải điều trị. Các bị cáo đề nghị xem xét khoan hồng, cho các bị cáo được hưởng án treo. Xét đây là tình tiết mới chưa được cấp sơ thẩm xem xét nên cần xem xét áp dụng khoản 2 Điều 51 BLHS để quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Xét các bị cáo là phụ nữ có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hoàn cảnh gia đình khó khăn nên, có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng, có khả năng tự cải tạo nên không cần thiết phải cách ly khỏi xã hội mà xem xét chính sách khoan hồng của pháp luật hình sự, áp dụng Điều 65 bộ luật hình sự cho các bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành người có ích và không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương.
Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm có căn cứ chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, sửa bản án sơ thẩm về phần hình phạt đối với các bị cáo.
[4] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí.
[5] Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
1. Chấp nhận kháng cáo của Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị T. Sửa Bản án sơ thẩm số 93/2023/HSST ngày 07-6-2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị T phạm tội “Đánh bạc”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Thị H 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 (hai bốn) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 05-01-2024).
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Thị Thảo 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 05-01-2024).
- Về hình phạt bổ sung: Áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự;
Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải nộp số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu) đồng; bị cáo Nguyễn Thị T phải nộp số tiền 10.000.000đ (Mười triệu) đồng để sung vào công quỹ Nhà nước.
Giao bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị T cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo; nếu phạm tội mới trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của Bộ luật hình sự.
2. Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm số 93/2023/HSST ngày 07-6-2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị T không phải nộp án phí.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Trung Dũng |
Bản án số 04/2024/HS-PT ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về hình sự - đánh bạc (phúc thẩm)
- Số bản án: 04/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Đánh bạc (Phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 05/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H Đánh bạc
