|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 04/2024/HS-ST Ngày 05/01/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩmgồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Vương.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Vũ Thị Dinh và ông Ngô Minh Hoan.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Diệu Thúy – Thư ký Tòa án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Long - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 188/2023/TLST-HS ngày 01 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 178/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 12 năm 2023 đối với các bị cáo:
- Nguyễn Hữu Tùng L, sinh ngày 28 tháng 01 năm 2003, tại: huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; giới tính: nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Hữu V, sinh năm 1973 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1974. Đều sinh sống tại thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án Không; Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/5/2023 đến ngày 05/5/2023 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Thái Bình. Được dẫn giải có mặt.
- Bùi Ngọc K, sinh ngày 02 tháng 01 năm 2004, tại: huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; giới tính: nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 12/12; Con ông Bùi Ngọc H, sinh năm 1964 và bà Đàm Thị D, sinh năm 1970. Đều sinh sống tại thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án Không; Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/5/2023 đến ngày 05/5/2023 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Thái Bình. Được dẫn giải có mặt.
- Nguyễn Viết D1, sinh ngày 17 tháng 5 năm 2004, tại: huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; giới tính: nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 12/12; Con bà Nguyễn Thị R, sinh năm 1961 (bố đẻ không xác định); sinh sống tại thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án Không; Tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/5/2023 đến ngày 05/5/2023 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Thái Bình. Được dẫn giải có mặt.
- Nguyễn Đình Minh A, sinh ngày 02 tháng 8 năm 2004, tại: huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn B A, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; giới tính: nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; trình độ học vấn: 12/12; Con ông Nguyễn Đình P, sinh năm 1980 và bà Mai Thị D2, sinh năm 1982; sinh sống tại thôn B A, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Bị cáo chưa có vợ con. Tiền án: Không; Tiền sự: Không. Nhân thân: Tại bản án hình sự sơ thẩm số 22/2022/HSST ngày 28/3/2022 của Toà án nhân huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình xử phạt bị cáo 01 năm 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm 08 tháng, kể từ ngày 28/3/2022 về tội Gây rối trật tự công cộng theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/5/2023 đến ngày 05/5/2023 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Thái Bình. Được dẫn giải có mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Thôn N, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)
- - Chị Nguyễn Diệu L1, sinh năm 2004; Nơi cư trú: thôn A, xã A, huyện T, tỉnh Thái Bình. (Vắng mặt)
- - Bà Nguyễn Thị R, sinh năm 1961; Nơi cư trú: thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. (Có mặt)
Người chứng kiến:
- - Anh Lê Huy L2, sinh năm 1981 và bà Vũ Thị N; cùng nơi cư trú: thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. (Đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Hữu Tùng L, Bùi Ngọc K, Nguyễn Viết D1 và Nguyễn Đình Minh A là bạn học cùng trường Trung học phổ thông D3 và quen biết nhau. Khoảng 18 giờ 00 ngày 01/05/2023, Bùi Ngọc K và Nguyễn Hữu Tùng L đến nhà Nguyễn Viết D1 tại thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình chơi, lúc này D1 đi làm không có ở nhà, chỉ có mẹ D1 ở nhà nên K và L lên phòng ngủ của D1 ở tầng 2 đợi. Tại đây L bảo với K “em còn tiền không, tối nay góp tiền anh em mua đồ”. K hiểu ý của L là bảo K góp tiền đi mua ma túy về nhà D1 để cùng sử dụng”, K đồng ý. Một lúc sau D1 về nhà, L bảo với D1 “anh với K bàn rồi tối nay anh em góp tiền mua đồ” D1 đồng ý. Do L đang cầm điện thoại nhãn hiệu IPHONE và sử dụng App ngân hàng số tài khoản 0586547513 ngân hàng M2 mang tên “NGUYEN DIEU LINH” trên điện thoại của bạn gái L là chị Nguyễn Diệu L1, nên L bảo K chuyển tiền góp để mua ma túy. K đã chuyển khoản từ số tài khoản 0345353366 ngân hàng S mang tên “BUI NGỌC KHOA” đến số tài khoản 0586547513 ngân hàng M2 mang tên “NGUYEN DIEU LINH” 02 lần, lần thứ nhất với số tiền 2.000.000 đồng, lần tứ hai là 250.000 đồng và đưa cho L 550.000 đồng tiền mặt, tổng số tiền K đưa cho L là 2.800.000 đồng. D1 bảo L góp cho L 1.000.000 đồng nhưng do L nợ D1 1.000.0000 đồng nên D1 bảo L lấy luôn số tiền L còn nợ để góp tiền mua ma túy. L đồng ý và bảo trong tài khoản của L còn 2.000.000 đồng, L trả cho D1 1.000.00 đồng và góp 650.000 đồng để cùng mua ma túy còn 350.000 đồng để hôm sau L lấy tiền đi Hà Nội. Sau đó, D1, L và K điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Dream màu đỏ mang biển kiểm soát 17B6-555.46 lên thị trấn D để uống nước.
Khoảng 21 giờ cùng ngày K gọi điện qua ứng dụng Messenger từ tài khoản “Bùi Ngọc K” đến tài khoản “Nguyễn Đình M” cho Nguyễn Đình Minh A, lúc này Minh A đang trên đường đi chơi tại khu vực xã T, huyện T. K bảo Minh A “Bạn gọi được thì gọi hộ tôi ít đồ”, Minh A hiểu ý của K hỏi Minh A biết chỗ nào mua được ma túy thì mua hộ K. Minh A hỏi K: “Mua bao nhiêu”, K bảo: “2 viên với chỉ rưỡi”. Minh A hiểu là mua hai viên thuốc lắc và 1,5 chỉ ketamine. Minh A bảo K “Để gọi xem có không”. Sau đó Minh A lấy điện thoại nhãn hiệu NOKIA lắp số sim rác của Minh A gọi đến số điện thoại của người bán ma túy mà Minh A đã xin và lưu vào máy điện thoại trước đó thì thấy có một người đàn ông nghe máy. Minh A hỏi người đàn ông này: “Anh có ke, kẹo không bán cho em ít" người đàn ông này bảo: “Đợi một tí có gì gọi lại”. Một lúc sau người này điện lại và bảo Minh A: “Nếu muốn mua thì gọi vào số 0978652234”. Minh A lưu số điện thoại 0978.652.xxx vào danh bạ chiếc điện thoại nhãn hiệu IPHONE của Minh A với ký hiệu là “.”. Sau đó Minh A dùng số điện thoại 0966.263.xxx lắp trong điện thoại IPHONE của Minh A gọi vào số điện thoại 0978.652.xxx thì cũng có một người đàn ông nghe máy. Minh A hỏi người này “Anh có hàng không để cho em chỉ rưỡi với hai viên”. Người này trả lời “Còn”. Minh A hỏi “Vậy bao nhiêu tiền” thì người này trả lời: Tổng là 4.450.000 đồng”. Minh A nói: “Vậy anh cho em số tài khoản em chuyển tiền cho anh”. Người này bảo: “Ừ vậy chuyển vào tài khoản cho anh”. Sau đó người sử dụng số điện thoại 978652234 gửi tin nhắn cho Minh A số tài khoản là “236123456789 Nguyen Van Than ngân hàng L4”. Minh A gọi qua ứng dụng M1 cho K bảo: “Tiền mua ma túy hết 4.450.000 đồng bạn chuyển vào số tài khoản cho họ”. K bảo: “Tài khoản hết tiền, chỉ còn 3.950.000đồng, còn 500.000đồng tý nữa lấy rồi đưa tiền mặt”. Minh A bảo K: “Để hỏi xem được không”. Sau đó Minh A gọi lại vào số 0978652234 bảo người đàn ông đó: “Em chuyển trước 3.950.000 đồng còn 500.000đồng khi nào đứa em sang lấy thì trả tiền mặt”. Người này đồng ý và bảo khi nào chuyển tiền xong thì đến gần UBND xã T cũ lấy ma túy. Minh A gọi lại cho K bằng ứng dụng M1 bảo: “Chuyển tiền vào tài khoản cho người ta rồi đến gần UBND xã T cũ liên lạc với người ta để lấy hàng”. Sau đó Minh A nhắn tin gửi cho K số tài khoản 236123456789 Nguyen Van Than ngân hàng L4 và số điện thoại 0978.652.xxx của người bán ma túy cho K rồi Minh A đi vào quán internet tại xã T chơi game. Sau khi nhận được tin nhắn của Minh A, K bảo L chuyển tiền vào số tài khoản 236123456789 Nguyen Van Than ngân hàng L4. L đã chuyển từ tài khoản “0586547513” ngân hàng M2 mang tên “NGUYEN DIEU LINH” đến số tài khoản 236123456789 Nguyen Van Than ngân hàng L4 số tiền 3.950.000 đồng. Chuyển tiền xong L lấy xe mô tô 17B6-555.46 chở K đi lấy ma túy còn D1 ngồi ở quán nước đợi, trên đường đi L đưa cho K 500.000 đồng để trả tiền mặt mua ma túy. Khi đến cống T, L xuống xe đứng đợi, K dùng điện thoại của K gọi đến số 0978652234 thì được người này hẹn đến đường gần UBND xã T cũ để lấy ma túy. K một mình điều khiển xe mô tô đến đường gần UBND xã T cũ thì gặp một người đàn ông đang ngồi trong ô tô đỗ ở cạnh đường. Người đàn ông mở cửa kính ô tô xuống, K đưa cho người này 500.000 đồng, người này nhận tiền rồi đưa cho K 01 túi nilon bên trong có 02 viên thuốc lắc và 03 túi Ketamine. K nhận túi ma túy sau đó quay lại đón Lâm rồi về quán nước tại thị trấn D đón D1. Sau đó L, K, D1 đi về nhà D1 tại thôn V, xã T. Đến nhà D1 cả ba đi lên phòng ngủ của D1 tại tầng 2 nhà ở của D1. Khoa bỏ túi nilon đựng 02 viên thuốc lắc và 03 túi Ketamin ra mặt chiếu đang trải trong phòng và lấy 01 tờ tiền polime mệnh giá 20.000 đồng của K ra cuộn thành ống hút rồi cố định chiếc ống hút bằng 03 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng. Lúc này D1 đi xuống tầng 1 lấy 01 đĩa sứ màu trắng hình tròn trong chạn bát cầm lên phòng, lấy chiếc ống hút K vừa cuộn bằng tờ tiền polime mệnh giá 20.000 đồng và 01 chiếc bật lửa ga của D1 để lên mặt đĩa rồi đặt đĩa lên mặt chiếc máy giặt kê trong phòng.
Đến khoảng 23 giờ cùng ngày Minh A nhắn tin cho K hỏi “Đã lấy được đồ chưa” Khoa trả lời “Lấy được rồi”, sau đó K rủ Minh A xuống nhà K sử dụng ma túy cùng. Minh A đồng ý, K bảo Minh A mang loa đến nhà D1 để mở nhạc trong khi sử dụng ma túy. Minh A về nhà lấy 01 chiếc loa sau đó đi ra đường đi nhờ xe của một người không quen biết đến nhà D1. Trong lúc đợi Minh A đến L đi ra ngoài gặp bạn còn D1, K ở lại ngồi đợi. D1, K ngồi đợi một lúc thì Minh A đến cầm theo 01 chiếc loa di động. Minh A đến ngồi chơi cùng D1 và K một lúc thì L quay lại đi lên phòng ngồi cùng D1, K, Minh A. Ngay lúc này tổ công tác của Công an huyện T và Công an xã T vào kiểm tra, thấy có lực lượng Công an, Minh A cầm túi nilon đựng 02 viên thuốc lắc và 03 túi ketamine đang để trên mặt chiếu cất giấu lên mặt bể nước tại ban công phía sau sát phòng ngủ của D1. Tổ công tác đã mời ông Lê Huy L2 và bà Vũ Thị N đến nhà D1 để chứng kiến sự việc. Trước sự chứng kiến của ông L2 và bà N, cơ quan Công an tiến hành kiểm tra phòng ngủ của Nguyễn Viết D1 nơi các đối tượng đang ngồi phát hiện trong phòng đang bật đèn chớp và mở nhạc bằng loa di động. Trong phòng có 04 người gồm Nguyễn Viết D1, Bùi Ngọc K, Nguyễn Hữu Tùng L và Nguyễn Đình Minh A. Phát hiện trên mặt máy giặt kê trong phòng có 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng, trên mặt đĩa có 01 bật lửa ga, 01 ống hút được cuộn bằng tở tiền polyme mệnh giá 20.000 đồng được cố định bằng 03 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng. Sau khi được giải thích quyền và nghĩa vụ Nguyễn Đình Minh A đã tự giác khai báo, chỉ vị trí đã cất giấu ma túy tại mặt bể nước ngoài ban công phía sau phòng ngủ của D1 và lấy ra giao nộp cho lực lượng Công an gồm 01 túi nilon có mép cài viền màu đỏ, bên trong chứa 02 viên nén màu xám không rõ hình; 03 túi nilon trong suốt, một mặt trong suốt, một mặt màu trắng có in hình hoa văn màu đen bên trong chứa chất dạng tinh thể màu trắng. Các đối tượng khai nhận đó là các dụng cụ để phục vụ việc sử dụng ma túy, 02 viên nén màu xám và 03 túi nilon chưa chất dạng tinh thể màu trắng là ma túy “thuốc lắc” và ketamine của các đối tượng đang chuẩn bị để cùng nhau sử dụng ma túy nhưng chưa kịp sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện. Lực lượng Công an lập biên bản sự việc, quản lý niêm niêm phong 01 túi nilon có mép cài viền màu đỏ, bên trong chứa 02 viên nén màu xám không rõ hình (niêm phong mẫu số A1); 03 túi nilon trong suốt, một mặt trong suốt, một mặt màu trắng có in hình hoa văn màu đen bên trong chứa chất dạng tinh thể màu trắng (niêm phong mẫu số A2); 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng (niêm phong mẫu số A3); 01 ống hút được cuộn bằng tở tiền polyme mệnh giá 20.000 đồng (niêm phong mẫu số A4) và 01 chiếc bật lửa ga bằng nhựa trong suốt, 01 chiếc loa màu xám có chữ Borofone; 01 đèn chớp RHD-10. Cùng ngày cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Bùi Ngọc K, Nguyễn Viết D1, Nguyễn Hữu Tùng L, Nguyễn Đình Minh A Cơ quan điều tra không thu giữ đồ vật tài sản gì.
- Phiếu kết quả xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể ngày 02/5/2023, Trung tâm y tế thị trấn D, huyện T tiến hành test nhanh nước tiểu của Bùi Ngọc K, Nguyễn Viết D1, Nguyễn Đình Minh A, Nguyễn Hữu Tùng L. Kết quả: Âm tính với các chất ma tuý trong cơ thể.
- Tại bản kết luận giám định số 631/KL-KTHS ngày 05/5/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Mẫu nước tiểu thu của Bùi Ngọc K (Mẫu M1); mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Viết D1 (Mẫu M2); mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Đình Minh A (Mẫu M3); mẫu nước tiểu thu của Nguyễn Hữu Tùng L (Mẫu M4). Các mẫu nước tiểu ký hiệu Mẫu số M1, Mẫu số M2, Mẫu số M3, Mẫu số M4 gửi giám định không tìm thấy sản phẩm chuyển hoá của ma tuý.
- Tại bản kết luận giám định số 632/KL-KTHS ngày 05/5/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Vật chứng trong phong bì niêm phong Mẫu số A1 gửi giám định là ma tuý, loại MDMA, có khối lượng 0,9043 gam; Mẫu vật trong phong bì niêm phong mẫu số A2 gửi giám định là ma tuý, loại Ketamine, có khối lượng 1,3821 gam. Trên mặt đĩa sứ màu trắng hình tròn ký hiệu Mẫu số A3, trong lòng ống hút được cuộn bằng tờ tiền polyme mệnh giá 20.000 đồng được cố định bằng 03 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng ký hiệu mẫu số A4 gửi giám định không phát hiện có chất ma tuý.
Ketamine STT: 40 Danh mục III phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 15/8/2022 của Chính phủ.
MDMA STT: 11 Danh mục IIB phụ lục kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 15/8/2022 của Chính phủ.
- Tại bản kết luận giám định số 787/KL-KTHS ngày 31/5/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng có số sêri: 117444603 (tờ tiền được cuộn lại, được cố định bằng ba vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng). Tờ tiền trên được niêm phong trong 01 phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 632/KL-KTHS của Phòng K1 - Công an tỉnh T, mặt trước ghi: “Đồ vật thu giữ trong phòng ngủ của Nguyễn Viết D1, SN 2004 tại thôn V, T, T, Thái Bình. Mẫu số A4 ngày 02/5/2023” tờ tiền cần giám định là tiền thật.
- Phiếu kết quả xác định tình trạng nghiện ma tuý ngày 02/5/2023 của Bệnh viện tâm thần thuộc Sở Y xác định: Nguyễn Đình Minh A, Nguyễn Hữu Tùng L, Nguyễn Viết D1, Bùi Ngọc K. Kết quả không nghiện ma tuý với chất KETAMIN.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về các kết luận giám định, xét nghiệm nêu trên.
Bản cáo trạng số 187/CT-VKSTT ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy đã truy tố các bị Nguyễn Hữu Tùng L, Bùi Ngọc K, Nguyễn Viết D1 và Nguyễn Đình Minh A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự;
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát huyện T giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về tội danh: Các bị cáo Nguyễn Hữu Tùng L, Bùi Ngọc K, Nguyễn Viết D1 và Nguyễn Đình Minh A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
* Về hình phạt:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Tùng L từ 08 năm đến 08 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/5/2023.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 50, 58 xử phạt bị cáo Nguyễn Viết Danh t 07 năm 09 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/5/2023.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Ngọc K 07 năm 03 tháng đến 07 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/5/2023.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 38, 50, 56, 58 Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Đình Minh A xử phạt bị cáo từ 07 năm 06 tháng 07 năm 09 tháng tù. Áp dụng điều 56 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt với hình phạt tại bản án số 22/2022/HSST ngày 28/3/2022 của Toà án nhân huyện Thái Thuỵ.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
* Về xử lý vật chứng của vụ án đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,b,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 0,7758 gam ma túy loại MDMA; 1,2848 gam loại Ketamine; 01 đĩa sứ màu trắng hình tròn; 01 bật lửa ga bằng nhựa trong suốt; 03 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng; 01 chiếc loa trên thân có chữ Borofone màu xám; 01 đèn chớp có trên thân đèn có chữ RHF-10. Tịch thu sung quỹ nhà nước đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu trắng đã qua sử dụng của Nguyễn Đình Minh A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu vàng đã qua sử dụng của Nguyễn Hữu Tùng L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu xám đã qua sử dụng của Nguyễn Hữu Tùng L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu xanh đã qua sử dụng của Bùi Ngọc K; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu xám đã qua sử dụng của Nguyễn Viết D1; 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Nhận tội và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ đã được tranh tụngtại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tố tụng, của người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền,trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến đề nghị, khiếu nại gì. Do vậy các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận: Hồi 23 giờ 00 phút ngày 01/5/2023, Nguyễn Hữu Tùng L, Bùi Ngọc K, Nguyễn Viết D1 và Nguyễn Đình Minh A sau khi bàn bạc thống nhất góp tiền, liên hệ đi mua ma tuý gồm 02 viên ma tuý loại MDMA có khối lượng 0,9043 gam và 03 túi ma tuý loại Ketamin có khối lượng 1,3821 gam, sau đó mang về phòng ngủ của Nguyễn Viết D1 ở thôn V, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình chuẩn bị sử dụng trái phép chất ma túy thì bị Công an huyện T phối hợp với Công an xã T kiểm tra phát hiện. Trong đó: L là người khởi xướng việc sử dụng trái phép chất ma tuý, cùng K, D1 góp tiền đi mua ma tuý, Minh A là người liên hệ việc mua ma tuý về để mọi người cùng sử dụng. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
[3] Từ những căn cứ trên có đủ cơ sở kết luận: Các bị cáo Nguyễn Hữu Tùng L, Bùi Ngọc K, Nguyễn Viết D1 và Nguyễn Đình Minh A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, khoản 2, Điều 255 Bộ luật Hình sự;
Điều 255. Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.
“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
b) Đối với 02 người trở lên;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
[4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo thì tại bản án số 22/2022/HSST ngày 28/3/2022 của Toà án nhân huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Minh A 01 năm 10 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 năm 08 tháng, kể từ ngày 28/3/2022 về tội Gây rối trật tự công cộng theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự nhưng khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên bị cáo Nguyễn Đình Minh A được coi là không có án tích; các bị cáo khác đều chưa có tiền án, tiền sự nên không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với cả 04 bị cáo. Quá trình điều tra các bị cáo đều thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo Nguyễn Đình Minh A, Nguyễn Viết D1 có ông, Bùi Ngọc K có bố mẹ là người có công, được tặng thưởng huân huy chương nên ba bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt: Ma túy là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến đại dịch HIV/AIDS đồng thời là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Do vậy, các bị cáo phải chịu mức án tương xứng với hành vi phạm tội của mình và cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người công dân tốt, có ích cho xã hội đồng thời đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.Tuy nhiên cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo là phù hợp với quy định của pháp luật và chính sách khoan hồng của Nhà nước ta, tạo điều kiện để cải tạo, giáo dục bị cáo sớm trở thành người có ích cho xã hội. Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý thấy rằng: đây là vụ án đồng phạm giản đơn, quá trình thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo cùng nhau bàn bạc, cùng nhau góp tiền chung để đi mua ma túy về sử dụng. Nguyễn Hữu Tùng L là người khởi xướng và thu tiền của D1, K để mua ma túy nên cùng giữ vai trò thứ nhất. Nguyễn Viết D1 là người góp tiền, sử dụng địa điểm của mình, chuẩn bị dụng cụ để chế biến ma túy có vai trò thứ hai. Bùi Ngọc K là người góp tiền nhiều nhất, trực tiếp mua ma túy có vai trò thứ ba. Nguyễn Đình Minh A cung cấp địa chỉ, số điện thoại để K đi mua ma túy chuẩn bị loa và cất dấu ma túy có vai trò thứ tư. Bị cáo Nguyễn Đình Minh A đang trong thời gian thử thách án treo tại bản án số 22/2022/HSST ngày 28/3/2022 của Toà án nhân huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình nay tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên cần phải xử phạt bị cáo Nguyễn Đình Minh A mức án cao hơn bị cáo Bùi Ngọc K và căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt của bản án trước đối với bị cáo Nguyễn Đình Minh A. Các bị cáo không có công việc ổn định, bản thân đều sống chung nhà với bố mẹ đẻ, không có tài sản riêng nào có giá trị, thu nhập chỉ đủ phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân. Bên cạnh đó, động cơ phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là để thỏa mãn cảm xúc cá nhân, không có động cơ vì lợi nhuận nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với ma túy là vật nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy. 01 đĩa sứ màu trắng hình tròn; 01 bật lửa ga bằng nhựa trong suốt; 03 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng; 01 chiếc loa trên thân có chữ Borofone màu xám đã qua sử dụng đã củ, hỏng, 01 đèn chớp có trên thân đèn có chữ RHF-10 mặt đèn vị nứt vỡ là các vật các bị cáo dùng để sử dụng ma túy đã bị hư hỏng hoặc giá trị sử dụng nhỏ nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 05 chiếc điện thoại thu giữ của các bị cáo đều là các công cụ phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
[7] Các vấn đề khác của vụ án:
Quá trình điều tra bị can Nguyễn Đình Minh A khai nhận: Minh A sử dụng 02 điện thoại di động, 01 điện thoại nhãn hiệu IPHONE lắp sim số 0966.263.xxx từ năm 2022 và 01 điện thoại di động NOKIA màu đen lắp số sim rác nhưng Minh A không nhớ số sim này từ tháng 03/2023. Khoảng tháng 4 năm 2023 trong một lần đi chơi ở xã T, Minh A gặp một người đàn ông không quen biết, qua nói chuyện người này cho Minh A số điện thoại và bảo muốn mua ke, kẹo thì gọi vào số đó. Minh A đã lưu số điện thoại người này vào chiếc điện thoại NOKIA của mình. Ngày 01/5/2023 khi K gọi điện nhờ Minh A hỏi mua hộ ma túy, Minh A đã sử dụng số sim rác lắp trong chiếc điện thoại NOIKA gọi đến số điện thoại được người đàn ông cho số lưu từ trước. Khi Minh A gọi thì có một người nam giới nghe máy và cho Minh A số điện thoại 0978.652.xxx để liên lạc giao dịch mua ma túy. Minh A đã lưu số điện thoại 0978.652.xxx vào danh bạ chiếc điện thoại nhãn hiệu IPHONE của Minh A với ký hiệu “.”. Sau khi liên lạc với số điện thoại 0978.652.xxx thì có một người nam giới nghe máy, Minh A hỏi mua ma túy của người này thì người này đồng ý và yêu cầu Minh A chuyển tiền vào tài khoản số [...] Nguyen Van Than ngân hàng L4. Sau đó Minh A đã gửi số điện thoại 0978.652.xxx và số tài khoản ngân hàng cho K để K chuyển tiền và liên hệ gặp người này để mua mua ma túy. Sau khi liên lạc với số điện thoại 0978.652.xxx Khoa đã gặp và mua được 02 viên thuốc lắc và 03 túi ketamin của một người đàn ông này nhưng K không biết tên, địa chỉ tại khu vực đường gần Ủy ban nhân dân xã T cũ. Sau khi sử dụng chiếc điện thoại NOKIA có lưu số điện thoại của người nam giới đã cho Minh A để hỏi mua ma túy, quá trình đi trên đường xuống nhà D1, Minh A đã làm rơi mất chiếc điện thoại NOKIA nên Minh A không nhớ được số điện thoại của người đàn ông đó. Đối với người đã liên lạc và bán ma túy cho Minh A và K, do Minh A, K không biết họ tên, địa chỉ không nhớ đặc điểm nhận dạng của người này, Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa đủ căn cứ xử lý nên Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Quá trình điều tra, xác minh xác định số điện thoại 0978.652.xxx và số tài khoản 236123456789 Nguyen Van Than ngân hàng L4 có chủ sở hữu là của anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1992, trú tại thôn N, xã D, huyện T, tỉnh Thái Bình. Tối ngày 01/5/2023 anh T1 đến quán bị a của anh Trương Hữu T2, sinh năm 1984, trú tại thôn V, xã T, T, Thái Bình chơi bi a cùng anh Phạm Hữu L3, sinh năm 1991, trú tại thôn Đ, xã D, T, Thái Bình. Khi đang chơi bi a thì có một nam thanh niên không quen biết chơi ở bàn bi a bên cạnh gặp và nói với T1 cho nhờ tài khoản ngân hàng để bạn chuyển tiền vào tài khoản của T1, T1 trả tiền mặt cho người đó rồi người đó trả phí cho T1. Do T1 thường làm dịch vụ chuyển tiền lấy phí nên đồng ý và cho người đó số tài khoản 236123456789 Nguyen Van Than ngân hàng L4 và số điện thoại 0978.652.xxx của T1. Một lúc sau người nam giới nhờ T1 để chuyển tiền vào tài khoản của T1 tiếp tục đến gặp T1, bảo T1 cho mượn điện thoại để liên lạc với người chuyển tiền do máy của người này hết pin. Thân đã đồng ý và cho người này mượn chiếc điện thoại có gắn sim số 0978.652.xxx rồi tiếp tục chơi bị a với L3. Người này cầm điện thoại của T1 ngồi ở ghế trong quán gần chỗ T1 đang chơi bi a. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày người nam giới đưa lại điện thoại cho T1 bảo đã chuyển tiền vào tài khoản của T1 và yêu cầu T1 trả tiền mặt. T1 nhận lại điện thoại kiểm tra trong tài khoản ngân hàng đã nhận được số tiền 3.950.000 đồng. T1 lấy ra 3.900.000 đồng đưa cho người nam giới đó còn 50.000 đồng T1 giữ lại và bảo người đó là phí chuyển khoản, người này đồng ý nhận tiền của T1 rồi đi đâu, làm gì T1 không biết.
Đối với anh Nguyễn Văn T1 là chủ sở hữu số điện thoại 0978.652.xxx và số tài khoản 236123456789 mang tên Nguyen Van T3, ngân hàng L4. Thân không quen biết với Minh A và K, không liên hệ trao đổi gì với Minh A và K. T1 không biết người nam giới đã nhờ tài khoản của T1 để nhận tiền là ai, ở đâu. Khi được nhờ nhận tiền vào tài khoản ngân hàng người nam giới này không nói, T1 không biết đó là tiền mua bán ma túy. Vì vậy cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý đối với Nguyễn Văn T1.
Đối với Nguyễn Diệu L1 là chủ sở hữu của số tài khoản “0586547513” ngân hàng M2 mang tên “NGUYEN DIEU LINH” quá trình điều tra xác minh xác định: L1 là bạn của Nguyễn Hữu Tùng L, sáng ngày 01/5/2023 L đến nhà L1 chơi do điện thoại của L bị hỏng nên L mượn chiếc điện thoại nhãn hiệu IPHONE của L1. Trong điện thoại có APP ngân hàng M2 đã đăng nhập tài khoản số 0586547513 ngân hàng M2 mang tên “NGUYEN DIEU LINH” của L1. Do tài khoản ngân hàng của L bị lỗi không sử dụng được nên L đã bảo và được L1 cho mật khẩu tài khoản ngân hàng của L1 để L sử dụng. Việc L sử dụng tài khoản ngân hàng M2 mang tên “NGUYEN DIEU LINH” của L1 để giao dịch chuyển tiền mua bán ma túy L1 không biết, L không nói cho L1 biết. Vì vậy Cơ quan điều tra không xử lý đối với L1.
Bà Nguyễn Thị R là mẹ đẻ của Nguyễn Viết D1 chủ sở hữu nhà ở nơi D1, K, L, Minh A sử dụng làm địa điểm để chuẩn bị tổ chức sử dụng trái phép ma túy, bà R không biết. Vì vậy cơ quan điều tra không xử lý đối với bà R.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu HONDA DREAM, sơn màu đỏ, biển kiểm soát 17B6-555.46 Bùi Ngọc K sử dụng làm phương tiện để đi mua ma tuý ngày 01/5/2023. Quá trình điều tra xác định là xe của ông Vũ Đăng P1, sinh năm 1982, trú tại thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình. Khoảng tháng 6 năm 2021, ông P1 đã bán chiếc xe mô tô trên cho chị Hoàng Thị Lan A1, sinh năm 2000, trú tại thôn V, T, T, Thái Bình nhưng không làm giấy tờ mua bán. Do D1 là người làm thuê cho cửa hàng điện thoại của chị Lan A1 nên chiều ngày 01/5/2023 chị Lan A1 giao chiếc xe mô tô trên cho D1 làm phương tiện đi giao hàng. K và L lấy xe mô tô đi mua ma túy chị Lan A1 không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trả lại chiếc xe mô tô trên cho chị Lan A1 theo quy định của pháp luật.
[8] Về án phí và quyền kháng cáo bản án: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Các bị cáo Nguyễn Hữu Tùng L, Bùi Ngọc K, Nguyễn Viết D1 và Nguyễn Đình Minh A phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
2.1 Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; các Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu T4 Lâm 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/5/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2.2 Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Viết D1 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/5/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2.3 Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các Điều 17, 38, 50, 58 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Ngọc K 07 (bảy) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/5/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2.4 Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, Điều 51; các Điều 17, 38, 50, 56, 58 Bộ luật Hình sự đối với Nguyễn Đình Minh A xử phạt bị cáo 07 (bảy) năm 09 (chín) tháng tù. Tổng hợp hình phạt với hình phạt tại bản án số 22/2022/HSST ngày 28/3/2022 của Toà án nhân huyện Thái Thuỵ; bị cáo Nguyễn Đình Minh A phải chấp hành 09 (chín) năm 07 (bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/5/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,b,c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
3.1 Tịch thu tiêu hủy: 0,7758 gam ma túy loại MDMA; 1,2848 gam loại Ketamine; 01 đĩa sứ màu trắng hình tròn; 01 bật lửa ga bằng nhựa trong suốt; 03 vỏ đầu lọc thuốc lá màu vàng; 01 chiếc loa trên thân có chữ Borofone màu xám; 01 đèn chớp có trên thân đèn có chữ RHF-10.
3.2 Tịch thu sung quỹ nhà nước đối với: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu trắng đã qua sử dụng của Nguyễn Đình Minh A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu vàng đã qua sử dụng của Nguyễn Hữu Tùng L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu xám đã qua sử dụng của Nguyễn Hữu Tùng L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu xanh đã qua sử dụng của Bùi Ngọc K; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone vỏ màu xám đã qua sử dụng của Nguyễn Viết D1; 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng.
(Có đặc điểm ghi trong biên bản giao nhận vật chứng, tài sản tại Chi cục Thi hành án huyện Thái Thụy).
4. Về án phí: Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự các bị cáo Nguyễn Hữu Tùng L, Bùi Ngọc K, Nguyễn Viết D1 và Nguyễn Đình Minh A và bà Nguyễn Thị R có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 05/01/2024. Anh Nguyễn Văn T1, chị Nguyễn Diệu L1 được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp pháp./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Vương |
Bản án số 04/2024/HS-ST ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 04/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Hữu Tùng L và đồng bọn tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
