|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 04/2024/HS-ST Ngày 05-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Sinh Huy
Ông Lê Thành Tam
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Liên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 87/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2023/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Đỗ Minh H, sinh năm 1996 tại xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú: ấp A, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Minh H1 (chết) và bà Nguyễn Thị H2; có vợ Trần Thị Như T (đã ly hôn); có 01 con sinh năm 2020; có 04 anh em ruột (lớn nhất sinh năm 1989, nhỏ nhất là bị cáo); tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: chưa có án tích, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đã được xóa; hiện bị cáo đang tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Huỳnh Tấn D, sinh năm 1996 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp A, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1964 (xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp A, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 12 giờ 45 phút, ngày 21/6/2023 bị cáo Đỗ Minh H đang ở nhà, thuộc: ấp A, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long thì H nhìn thấy nhà của anh Huỳnh Tấn D (đối diện nhà H) đang đóng cửa, nên H nảy sinh ý định đột nhập vào nhà lấy trộm cắp tài sản. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, bị cáo H đi bộ qua nhà của anh D. Bị cáo H leo qua hàng rào lưới B40 và đi vòng ra phía sau, thấy cửa sau đang khép hờ nên H mở cửa đi vào nhà. H đến giường ngủ của anh D, tìm kiếm tài sản thì phát hiện bên trong gối nằm màu xanh có 05 (năm) tờ giấy bạc mệnh giá 500.000 đồng, tổng cộng là 2.500.000 đồng. H lấy số tiền trên bỏ vào túi quần rồi đi về nhà. Sau đó H đi mua thuốc hút và nước uống hết 50.000 đồng. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, H đi về nhà gặp mẹ ruột là bà Nguyễn Thị H2, H cho bà H2 số tiền 250.000 đồng. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, H đến khu vực thành phố V để mua ma túy sử dụng hết 250.000 đồng và số tiền còn lại thì H tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 23/6/2023 anh Huỳnh Tấn D phát hiện bị mất số tiền trên nên đã đến Công an xã M, huyện M trình báo sự việc. Đến ngày 30/6/2023, Cơ quan Công an đã tiến hành mời Đỗ Minh H làm việc. Qua làm việc thì H đã thừa nhận hành vi trộm tiền của mình.
Ngày 06/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và khởi tố bị can đối với Đỗ Minh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị can.
Trong quá trình điều tra bị cáo Đỗ Minh H đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Huỳnh Tấn D yêu cầu bị cáo H bồi thường số tiền 2.500.000 đồng. Hiện nay bị cáo H đã bồi thường xong.
Bà Nguyễn Thị H2 được bị cáo H cho số tiền là 250.000 đồng, bà H2 không biết số tiền này là do bị cáo trộm cắp mà có, nên không xử lý.
Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Minh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 92/CT-VKS.HMT, ngày 20/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít truy tố bị cáo Đỗ Minh H về tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Đỗ Minh H đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị tuyên bố bị cáo Đỗ Minh H phạm tội: “Trộm cắp tài sản” và đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 tháng đến 01 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm.
- Phạt bổ sung đối với bị cáo từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng.
- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại đã nhận lại tài sản và nhận bồi thường xong, không yêu cầu bồi thường thêm, nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Đỗ Minh H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo thừa nhận mình có tội và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Minh H khai nhận: Vào khoảng 12 giờ 45 phút, ngày 21/6/2023 bị cáo Đỗ Minh H đang ở nhà thì H nhìn thấy nhà của bị hại Huỳnh Tấn D (đối diện nhà H) đang đóng cửa, nên H nảy sinh ý định đột nhập vào nhà lấy trộm cắp tài sản. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, bị cáo H đi bộ qua nhà của bị hại D. Bị cáo H leo qua hàng rào lưới B40 và đi vòng ra phía sau, thấy cửa sau đang khép hờ nên H mở cửa đi vào nhà. H đến giường ngủ của bị hại D, tìm kiếm tài sản thì phát hiện bên trong gối nằm màu xanh có 05 (năm) tờ giấy bạc mệnh giá 500.000 đồng, tổng cộng là 2.500.000 đồng. H lấy số tiền trên bỏ vào túi quần rồi đi về nhà. Xét thấy, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, phù hợp với vật chứng Cơ quan điều tra thu giữ được và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, có đủ cơ sở xác định bị cáo Đỗ Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi do bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến khách thể được luật hình bảo vệ, đó là quyền sở hữu về tài sản. Bị cáo vì muốn có tiền để tiêu xài cá nhân, bị cáo lại không tích cực lao động sản xuất để có thu nhập hợp pháp, mà có hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác làm của riêng mình, bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật nhưng vẫn quyết tâm thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện sự xem thường pháp luật, gây bất bình trong xã hội, làm mất trật tự ở địa phương. Vì thế cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xét, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo có khả năng tự cải tạo. Do đó, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo không có thu nhập ổn định.
[6] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại đã nhận lại tài sản và nhận bồi thường xong, không yêu cầu bồi thường thêm, nên không xem xét giải quyết.
[7] Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.
[8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Đỗ Minh H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Tuyên bố bị cáo Đỗ Minh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Đỗ Minh H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Đỗ Minh H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được qui định theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo được quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ngọc Bích |
Bản án số 04/2024/HS-ST ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 04/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm cắp tài sản
