TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:04/2024/DS-PT Ngày 04-01-2024 “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hà
Các Thẩm phánÔng Lê Đình Nam
Ông Lưu Anh Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Minh Chiến - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Bà Hoàng Hải Ly - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 01 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai, xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số 80/2023/TLPT-DS ngày 9 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng đặt cọc".
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2023/DS -ST ngày 11 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 54/2023/QĐ-PT ngày 25 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự :
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N; địa chỉ: Thôn H, xã H, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền của bà N: Ông Trần Mạnh Đ; địa chỉ: A H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Trần Ngọc T và bà Nguyễn Thị H; địa chỉ: Thôn L, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Ông T có mặt.
Bà Nguyễn Thị H ủy quyền cho ông Trần Ngọc T tham gia tố tụng (theo giấy ủy quyền ngày 9-5-2023)
- Người kháng cáo: Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 07/5/2022, bà Nguyễn Thị N ký hợp đồng đặt cọc cho việc cam kết thực hiện chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, người nhận tiền cọc và cam kết chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất là ông Trần Ngọc T và bà Nguyễn Thị H với số tiền đặt cọc là 100.000.000 đồng. Thời hạn đặt cọc để ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là 40 ngày từ 07/5/2022 đến ngày 17/6/2022, vi phạm hợp đồng đặt cọc sẽ bị phạt gấp đôi tiền đặt cọc, với tổng số tiền phải trả là 200.000.000 đồng, trong đó tiền cọc là 100.000.000 đồng, tiền phạt cọc là 100.000.000 đồng. Tài sản cam kết chuyển nhượng là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 315, tờ bản đồ số 8 tại thôn P, thị trấn N, huyện C, tỉnh Gia Lai, diện tích 540m². Giá chuyển nhượng là 680.000.000 đồng. Đến nay đã quá hạn theo cam kết nhưng ông Trần Ngọc T và bà Nguyễn Thị H không cùng với bà N ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo cam kết. Mặc dù bà N đã điện thoại và đến nhà ông T, bà H để yêu cầu ông T, bà H nghiêm túc thực hiện cam kết nhưng ông T, bà H cố ý tránh mặt. Vì vậy, bà N khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Hủy Hợp đồng đặt cọc ngày 07/5/2022 giữa bà Nguyễn Thị N và ông Trần Ngọc T, bà Nguyễn Thị H.
- Yêu cầu ông Trần Ngọc T và bà Nguyễn Thị H phải trả lại số tiền cọc 100.000.000 đồng và phạt cọc số tiền 100.000.000 đồng, tổng cộng là 200.000.000 đồng.
- Bị đơn là ông Trần Ngọc T, bà Nguyễn Thị H trình bày:
Ông T và bà H thừa nhận vào ngày 07/5/2022, giữa ông T, bà H và bà N có giao kết hợp đồng đặt cọc cam kết chuyển nhượng tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 315, tờ bản đồ số 8 tại thôn P, thị trấn N, huyện C, tỉnh Gia Lai, diện tích 540m². Giá chuyển nhượng là 680.000.000 đồng. Số tiền đặt cọc hai bên thỏa thuận là 100.000.000 đồng nhưng do bà N đòi bớt lộc và tự ý trừ thẳng vào số tiền đặt cọc nên bà N chỉ chuyển cho ông T, bà H 90.000.000 đồng. Thời hạn đặt cọc là 40 ngày từ 07/5/2022 đến ngày 17/6/2022, vi phạm hợp đồng đặt cọc sẽ bị phạt gấp đôi tiền đặt cọc, với tổng số tiền phải trả là 200.000.000 đồng, trong đó tiền cọc là 100.000.000 đồng, tiền phạt cọc là 100.000.000 đồng. Tuy nhiên, đến ngày ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì bà N viện lý do ông T, bà H chưa đập bỏ nhà, lấp giếng, giải phóng mặt bằng trên thửa đất để từ chối ký hợp đồng. Ông T và bà H không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N vì các lý do sau:
Thứ nhất, bà N là người vi phạm hợp đồng đặt cọc, luôn cố ý trốn tránh, gây khó khăn, cản trở và từ chối ký công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Khi ký hợp đồng đặt cọc, các bên không quy định thời điểm đập bỏ nhà, lấp giếng và giải phóng mặt bằng nhưng khi ký công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì bà N lại yêu cầu ông T, bà H phải đập bỏ nhà, lấp giếng và giải phóng mặt bằng là không đúng thỏa thuận của các bên.
Thứ hai, khi hai bên không thống nhất được việc ký công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, ông T và bà H đã chủ động đề xuất nhiều phương án giải quyết như: Bà N đặt cọc thêm cho ông T, bà H một khoản tiền để ông T, bà H tiến hành đập bỏ nhà, lấp giếng và giải phóng mặt bằng; hoặc hai bên tiến hành ký công chứng bình thường, cùng lúc đó ông T, bà H thuê người đập bỏ nhà, lấp giếng và giải phóng mặt bằng; hoặc hai bên tiến hành ký công chứng, sau đó ông T, bà H cho bà N nợ lại một khoản tiền để ông T, bà H đập bỏ nhà, lấp giếng và giải phóng mặt bằng, khi nào xong thì bà N sẽ thanh toán số tiền còn lại cho ông T, bà H. Hợp đồng đặt cọc đã ghi rất rõ “Trong quá trình thực hiện nếu có gì trở ngại thì hai bên cùng nhau bàn bạc, thỏa thuận dựa trên tinh thần tôn trọng quyền lợi lẫn nhau” nhưng phương án nào ông T, bà H đưa ra bà N đều không đồng ý. Tại thời điểm ngày 17/6/2022, đã qua giai đoạn sốt đất nên bà N không muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định, bà N là người không muốn tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, vi phạm hợp đồng đặt cọc.
Thứ ba, ông T, bà H không vi phạm hợp đồng đặt cọc, luôn mong muốn thực hiện việc ký công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chủ động đề xuất nhiều phương án để hai bên có thể ký được hợp đồng. Khi quá thời hạn, ông T, bà H đã chủ động gửi thông báo cho ông Trần Mạnh Đ, là người đại diện theo ủy quyền của bà N để yêu cầu bà N sắp xếp ngày ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng ông Đ và bà N không có bất kỳ phản hồi nào. Bà N cũng không cung cấp được bất kỳ chứng cứ nào chứng minh việc ông T, bà H từ chối ký công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, vi phạm hợp đồng đặt cọc.
Từ những lý do nêu trên, ông T và bà H đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết:
- Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà N.
- - Yêu cầu bà N tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo thỏa thuận tại hợp đồng đặt cọc. Trường hợp bà N từ chối ký công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì phải chịu mất số tiền cọc 90.000.000 đồng.
- Người làm chứng ông Trần Thiện K và bà Trần Thị L trình bày:
Ông K và bà L là hàng xóm của ông Trần Ngọc T, bà Nguyễn Thị H, ngoài ra hai bên không có mối quan hệ gì khác. Việc ông T, bà H và bà N ký Hợp đồng đặt cọc ngày 07/5/2022 với các điều khoản cụ thể như thế nào thì ông bà không biết và không được chứng kiến. Ông bà chỉ chứng kiến sự việc ngày 17/6/2022, khi bà N từ Đ qua C để trao đổi, làm thủ tục công chứng hợp đồng chuyển nhượng thửa đất tại thôn P, thị trấn N theo Hợp đồng đặt cọc ngày 07/5/2022 vì vào ngày này, ông T, bà H có nhờ một số người đến làm chứng việc mua bán đất với bà N. Ngoài ông bà thì hôm đó còn anh Hoàng giáo v, chị Bùi Thị M, chị P ở I. Khi đó, bà N yêu cầu ông T, bà H phải đập bỏ nhà cửa, lấp giếng, giao mặt bằng thửa đất cho bà N trước thì bà N mới đồng ý đi ký công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ông T, bà H không đồng ý vì nhà cửa, tài sản trên đất có giá trị, nếu đập bỏ xong mà bà N không ký công chứng thì ông T, bà H sẽ bị thiệt hại. Khi đó hai bên tranh chấp qua lại về vấn đề này và không thống nhất được việc đi ký công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Ông T đã đưa ra một số phương án để giải quyết nhưng bà N không chịu, nhất quyết yêu cầu ông T, bà H phải đập bỏ nhà, lấp giếng, giao mặt bằng thì mới đồng ý đi ký công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Cụ thể qua trao đổi, góp ý của mọi người, ông T có đưa ra một số phương án như sau:
- Một là, bà N đặt cọc thêm cho ông T, bà H một khoản tiền để ông T, bà H đập bỏ nhà cửa, lấp giếng nước, giao trả mặt bằng, sau đó hai bên đi ký công chứng hợp đồng chuyển nhượng đất.
- Hai là, hai bên đi ký công chứng hợp đồng chuyển nhượng đất bình thường, trong cùng lúc ký công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì ông T, bà H thuê phương tiện để đập bỏ nhà cửa, lấp giếng nước, giao trả mặt bằng cho bà N.
- Ba là, hai bên ký công chứng hợp đồng chuyển nhượng đất, ông T, bà H cho bà N nợ lại một khoản tiền trong số tiền chuyển nhượng thửa đất, sau đó ông T, bà H đập nhà cửa, lấp giếng nước, giao trả mặt bằng cho bà N và bà N thanh toán nốt số tiền còn lại cho ông T, bà H.
Các bên làm việc, trao đổi mấy tiếng đồng hồ nhưng không thống nhất được phương án giải quyết nên việc ký công chứng hợp đồng chuyển nhượng đất không thành. Ngoài sự việc trên thì ông bà không biết hoặc chứng kiến sự việc gì khác liên quan đến tranh chấp giữa ông T, bà H và bà N.
- Người làm chứng bà Bùi Thị M trình bày:
Bà chỉ quen biết ông Trần Ngọc T, bà Nguyễn Thị H, ngoài ra không có mối quan hệ gì khác với ông T, bà H và bà Nguyễn Thị N. Khoảng thời gian ông T, bà H muốn bán thửa đất tại thôn P, thị trấn N thì ông T, bà H có nói với bà. Bà quen bà P ở I nên có thông tin cho bà P. Bà P có quan hệ làm ăn với bà Nguyễn Thị N nên hai bên kết nối để bà N mua thửa đất của ông T, bà H. Ngày 07/5/2022, khi bà N qua ký hợp đồng đặt cọc thì hai bên trao đổi, thỏa thuận, ký các điều khoản đúng như Hợp đồng đặt cọc ngày 07/5/2022 mà bà đã được Tòa án cho xem. Về lý do bà N chỉ chuyển số tiền đặt cọc 90.000.000 đồng trong khi trong giấy đặt cọc lại ghi số tiền đặt cọc là 100.000.000 đồng là do bên bà N yêu cầu ông T, bà H bớt lộc mua bán và trừ thẳng vào số tiền đặt cọc. Ông T, bà H đồng ý nên bà N đã chuyển khoản 90.000.000 đồng vào tài khoản của bà H để đặt cọc cho ông T, bà H. Về việc hai bên thỏa thuận điều khoản về đập nhà, lấp giếng, giao mặt bằng thì chỉ ghi trong hợp đồng đặt cọc chứ không có trao đổi hoặc giải thích, thống nhất cụ thể với nhau về vấn đề này. Đến ngày 17/6/2022, khi bà N từ Đ qua C để làm thủ tục công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo Hợp đồng đặt cọc ngày 07/5/2022 thì ông T, bà H có nhờ một số người đến làm chứng việc mua bán đất với bà N. Ngoài bà thì hôm đó còn anh Hoàng giáo v, chị P ở I và vợ chồng anh K, chị L. Khi đó, bà N yêu cầu ông T, bà H phải đập bỏ nhà, lấp giếng, giao mặt bằng thửa đất cho bà N trước thì bà N mới đồng ý đi ký công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nhưng ông T, bà H không đồng ý vì nhà cửa, tài sản trên đất có giá trị, nếu đập bỏ xong mà bà N không ký hợp đồng công chứng thì ông T, bà H sẽ bị thiệt hại. Khi đó hai bên tranh chấp qua lại về vấn đề này và không thống nhất được việc đi ký công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Lúc này, ông T có đưa ra một số phương án để giải quyết nhưng bà N không chịu, nhất quyết yêu cầu ông T, bà H phải đập bỏ nhà, lấp giếng, giao mặt bằng thì mới đồng ý đi ký công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Cụ thể ông T có đưa ra một số phương án như ông T trình bày:
- Một là, bà N đặt cọc thêm cho ông T, bà H một khoản tiền để ông T, bà H đập bỏ nhà cửa, lấp giếng nước, giao trả mặt bằng, sau đó hai bên đi ký công chứng hợp đồng chuyển nhượng đất.
- Hai là, hai bên đi ký công chứng hợp đồng chuyển nhượng đất bình thường, trong cùng lúc ký công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì ông T, bà H thuê phương tiện để đập bỏ nhà cửa, lấp giếng nước, giao trả mặt bằng cho bà N.
- Ba là, hai bên ký công chứng hợp đồng chuyển nhượng đất, ông T, bà H cho bà N nợ lại một khoản tiền trong số tiền chuyển nhượng thửa đất, sau đó ông T, bà H đập nhà cửa, lấp giếng nước, giao trả mặt bằng cho bà N và bà N thanh toán nốt số tiền còn lại cho ông T, bà H.
Ngoài ra bà không biết hoặc chứng kiến sự việc nào khác liên quan đến tranh chấp giữa bà N và ông T, bà H.
- Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2023/DS -ST ngày 11 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
-Áp dụng Điều 3, Điều 117, Điều 328 và Điều 404 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị N, cụ thể như sau:
- Không chấp nhận yêu cầu tuyên bố hủy hợp đồng đặt cọc ngày 07/5/2022, giữa bà Nguyễn Thị N với ông Trần Ngọc T và bà Nguyễn Thị H.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N về việc yêu cầu buộc ông Trần Ngọc T và bà Nguyễn Thị H phải trả lại số tiền đã đặt cọc là 90.000.000 đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm, thông báo quyền thoả thuận, quyền yêu cầu, tự nguyện hoặc bị cưỡng chế thi hành án, thời hiệu thi hành án; tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 24-8-2023, nguyên đơn nộp đơn kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm nêu trên.
- Tại phiên toà phúc thẩm:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.
Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì bà N vi phạm hợp đồng đặt cọc nên bà N phải mất tiền cọc.
- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau:
Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm: Đảm bảo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa, thành phần Hội đồng xét xử đúng quy định của pháp luật, các thủ tục khai mạc phiên tòa và các thủ tục khác được Hội đồng xét xử và Chủ tọa phiên tòa điều hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa ngày hôm nay, các bên đã thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình theo đúng quy định tại các Điều 70, 71 và Điều 234 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận, ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định về việc giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm và yêu cầu kháng cáo như sau:
- Nguyên đơn kháng cáo cho rằng nguyên nhân dẫn đến Hợp đồng chuyển nhượng không được ký kế là lỗi của bên A (ông T, bà H) do không giải phóng mặt bằng; cụ thể tại Điều 4 của “Hợp đồng đặt cọc” hai bên đã thỏa thuận “Bên A cam kết đập bỏ nhà, lấp giếng và hầm rút giải phóng mặt bằng cho bên B”.
Thấy rằng, thỏa thuận nêu trên thể hiện nghĩa vụ của bên bán trong việc giao tài sản phải giải phóng mặt bằng cho bên mua nhưng hai bên không thể hiện rõ thời điểm bên bán phải giải phóng mặt bằng vào thời điểm nào? Trước hay sau khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng, hai bên chỉ thỏa thuận chung chung chứ không cụ thể khi nào thì thì bên A phải giao tài sản cho bên B. Hơn nữa, bản chất của hợp đồng đặt cọc theo quy định tại khoản 1 Điều 328 của Bộ luật dân sự thì mục đích của việc lập hợp đồng đặt cọc là để nhằm đảm bảo việc giao kết hoặc thực hiện hợp đồng. “Hợp đồng đặt cọc” hai bên xác lập ngày 7 -5-2022 là nhằm mục đích ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 315, tờ bản đồ số 8 tại làng P, N, C, tỉnh Gia Lai. Đối với “cam kết đập bỏ nhà, lấp giếng và hầm rút giải phóng mặt bằng” không phải là điều kiện quyết định ảnh hưởng đến việc giao kết hợp đồng. Trong khi cam kết này không thể hiện cụ thể thời điểm bên A phải thực hiện. Sau khi ký kết hợp đồng chuyển nhượng hai bên có thể thỏa thuận rõ hơn về thời điểm bên A đập bỏ nhà, lấp giếng và hầm rút giải phóng mặt bằng, cũng như thỏa thuận về thời điểm bên B giao tiền cho bên A.
Xét về mặt lỗi trong hợp đồng đặt cọc, đến thời hạn ký kết hợp đồng chuyển nhượng bên ông T đã đồng ý ký hợp đồng chuyển nhượng nhưng bà N lại không chấp nhận ký hợp đồng chuyển nhượng với lý do ông T chưa đập bỏ nhà, lấp giếng và hầm rút giải phóng mặt bằng. Trong quá trình đề nghị giao kết hợp đồng ông T đã đưa ra nhiều phương án thể hiện thiện chí của ông T trong việc bàn giao mặt bằng có thể được giải quyết nếu các bên đều có thiện chí. Như vậy, nguyên nhân dẫn đến việc hợp đồng chuyển nhượng không được ký kết là do bà N không đồng ý nhận chuyển nhượng. Còn lý do bà N không ký hợp đồng như đã phân tích ở trên thì cam kết này không ảnh hưởng đến việc hai bên ký kết hợp đồng.
Ngoài ra, trong quá trình xét xử bà N không cung cấp được tài liệu, chứng cứ nào thể hiện ông T có lỗi trong việc hợp đồng không được ký kết. Vì ông T, bà H không có lỗi trong việc ký kết hợp đồng chuyển nhượng nên kháng cáo của nguyên đơn cho không có căn cứ, không thể chấp nhận.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Do Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm bị kháng cáo nên người kháng cáo phải chịu tiền án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 điều 308; của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử :
- Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 15/2023/DS -ST ngày 11 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai.
-Áp dụng Điều 3, Điều 117, Điều 328 và Điều 404 của Bộ luật Dân sự năm 2015
1.1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị N, cụ thể như sau:
- - Không chấp nhận yêu cầu tuyên bố hủy hợp đồng đặt cọc ngày 07/5/2022, giữa bà Nguyễn Thị N với ông Trần Ngọc T và bà Nguyễn Thị H.
- - Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N về việc yêu cầu buộc ông Trần Ngọc T và bà Nguyễn Thị H phải trả lại số tiền đã đặt cọc là 90.000.000 đồng
1.2. Án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Trần Ngọc T và bà Nguyễn Thị H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
- - Bà Nguyễn Thị N phải chịu 4.800.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào 5.000.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001230 ngày 23 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai. Trả lại cho bà Nguyễn Thị N số tiền tạm ứng án phí còn thừa là 200.000 đồng
- Án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí số 0001430 ngày 14-9-2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai. Bà N đã nộp đủ.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa Lê Văn Hà |
Bản án số 04/2024/DS-PT ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Số bản án: 04/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 04/01/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng đặt cọc, sang lấp mặt bằng
