TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO PHONG TỈNH HÒA BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 04/2024/HNGĐ-ST
Ngày 03/01/2024.
V/v Ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO PHONG, TỈNH HÒA BÌNH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đức Thịnh.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Bá Viên và ông Đỗ Quốc Kỳ.
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Duy.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 04/2023/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 10 năm 2023 về việc "Tranh chấp ly hôn và nuôi con sau ly hôn" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2023/QĐXX - ST ngày 28 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 02/2023/QĐST-HNGĐ ngày 15/12/2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Bùi Thị B - Sinh năm 1990;(Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt);
Bị đơn: Anh Bùi Văn K - Sinh năm 1989; (vắng mặt không có lý do);
Cùng cư trú tại: Xóm Rớm K, xã TK, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện xin ly hôn ngày 03/10/2023, ý kiến tại bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Bùi Thị B trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị B và anh Bùi Văn K đăng ký kết hôn ngày 18/10/2011 tại Ủy ban nhân dân xã Yên Thượng, nay là xã TK, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn chị B và anh K về sống tại xóm Rớm K, xã TK, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc đến khoảng đầu năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân chủ yếu là do quan điểm sống không hợp nhau, thường xuyên cãi vã xúc phạm đến danh dự nhân phẩm của nhau, anh K bán tài sản trong gia đình mà không hỏi ý kiến của vợ, bỏ bê không quan tâm đến vợ con, anh K đi làm ăn xa đã 03 năm nay không mang tiền về nuôi con, hiện tại vợ chồng đã sống ly thân nhau 03 năm, không ai quan tâm đến cuộc sống của ai. Nay chị B xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn gia đình trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, đề nghị Toà án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Bùi Văn K.
Về con chung: Chị B và anh K có 01 con chung là Bùi Thành Long, sinh ngày 02/11/2011. Hiện tại cháu đang ở với chị B, sức khoẻ của cháu tốt, phát triển bình thường. Khi ly hôn chị B có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con, lý do vì cháu sống với chị từ nhỏ, do chị trực tiếp chăm sóc, anh K thường xuyên vắng nhà không quan tâm gì đến con nên không đảm bảo được việc nuôi con. Chị B chưa đề nghị anh K cấp dưỡng tiền nuôi con sau khi ly hôn.
Về con riêng: Chị Bùi Thị B có 01 con riêng là cháu Bùi Thị Thanh Hà, sinh ngày 10/10/2009. Đây là con riêng của chị Bùi Thị B nên chị B không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Trong quá trình giải quyết vụ án anh Bùi Văn K thường không có mặt tại địa phương, Toà án đã tiến hành xác minh được biết anh K đi đâu không khai báo với chính quyền địa phương, tuy nhiên anh K vẫn về qua nhà và có nhắn tin và gọi điện qua điện thoại với chị B nhưng không cho chị B biết địa chỉ anh đang ở đâu. Xét thấy đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ nên Toà án vẫn tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục chung. Toà án đã thực hiện thủ tục cấp tống đạt và niêm yết công khai văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng anh K vẫn cố tình không đến Tòa án làm việc theo Giấy triệu tập, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, nên Toà án không thể ghi nhận được lời khai của anh K.
* Qua xác minh tại chính quyền địa phương xác nhận: Mâu thuẫn vợ chồng cơ bản là do quan điểm sống không hợp nhau, anh K không quan tâm đến vợ con, bỏ đi làm ở đâu không cho ai biết dẫn đến mâu thuẫn ngày càng lớn. Hiện tại vợ chồng đã sống ly thân, anh K vẫn có hộ khẩu tại địa phương nhưng anh K đi đâu làm gì không rõ, thỉnh thoảng có về qua nhà rồi lại đi.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong tham gia phiên toà phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Từ khi thu lý đến khi xét xử, Toà án đã tuân thủ đúng các quy định trong Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên toà, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật. Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ và đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng của họ. Bị đơn không chấp hành đầy đủ và đúng quyền, nghĩa vụ tố tụng.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 51, 56, 58, 81,82, 83, 84 Luật hôn nhân gia đình;
Căn cứ Điều 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn, xử cho chị Bùi Thị B được ly hôn với anh Bùi Văn K. Về con chung: Giao cho chị B trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu Bùi Thành Long đến khi cháu Long đủ 18 tuổi. Chị B chưa yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con chung nên đề nghị HĐXX không xem xét. Về con riêng: Chị B có 01 con riêng là cháu Bùi Thị Thanh Hà, sinh ngày 10/10/2009. Đây là con riêng của chị Bùi Thị B, chị B không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên đề nghị HĐXX không xem xét.
Về tài sản chung: Chị B chưa yêu cầu giải quyết nên không đề cập giải quyết.
Về công nợ chung: Chị B xác nhận không có, không yêu cầu giải quyết nên không đề cập giải quyết.
Về án phí: Chị B phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Đề nghị tuyên quyền thăm nom, giáo dục con chung; quyền thay đổi người trực tiếp nuôi dưỡng sau ly hôn.
Đề nghị HĐXX tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Xét thấy chị Bùi Thị B khởi kiện anh Bùi Văn K là vụ án dân sự tranh chấp “ ly hôn”, căn cứ vào các biên bản xác minh và Xác nhận thông tin về nơi cư trú của chính quyền địa phương, xác nhận: Anh K có nơi cư trú tại xóm Rớm K, xã TK, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình. Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cao Phong.
Tại phiên tòa ngày 15/12/2023, nguyên đơn chị Bùi Thị B có mặt, bị đơn anh Bùi Văn K vắng mặt không có lý do lần thứ nhất, nên HĐXX hoãn phiên tòa xét xử vụ án.
Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn là chị Bùi Thị B vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ vào Khoản khoản 1 Điều 228 BLTTDS và theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong là đề nghị HĐXX tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn theo quy định của pháp luật. bị đơn anh Bùi Văn K tiếp tục vắng mặt không có lý do lần thứ 2. Vì vậy căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự và theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Phong, đề nghị HĐXX tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật. Nên HĐXX tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[2]. Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 15, ngày 18/10/2011, do UBND xã Yên Thượng nay là xã TK, huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình cấp, xác định quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thị B và anh Bùi Văn K là hợp pháp. Trong quá chung sống phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân xuất phát từ việc quan điểm sống không đồng thuận, anh K bán tài sản chung của vợ chồng mà không hỏi ý kiến vợ, không quan tâm đến vợ con, anh K bỏ đi làm ăn 03 năm nay không mang tiền về nuôi con. Qua xác minh tại chính quyền địa phương cho thấy: Anh K và chị B không hợp nhau về quan điểm sống dẫn đến vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, cái vã và xúc phạm danh dự nhân phẩm của nhau, anh K bỏ đi làm ăn xa, không quan tâm đến vợ con, hiện tại chị B và anh K đã sống ly thân nhau, cả hai không còn quan tâm gì đến cuộc sống, sinh hoạt của nhau đúng như chị B đã trình bày. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập anh K đến Tòa để hòa giải đoàn tụ nhưng anh K cố tình vắng mặt. HĐXX xét thấy: Hôn nhân giữa chị B và anh K đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Bùi Thị B.
[3]. Về con chung: Xác định chị Bùi Thị B và anh Bùi Văn K có 01 con chung là Bùi Thành Long sinh ngày 02/11/2011. Khi ly hôn chị B có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con và chưa đề nghị anh K cấp dưỡng tiền nuôi con sau khi ly hôn. Xét nguyện vọng của chị B HĐXX xét thấy có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu của chị B, giao cho chị Bùi Thị B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Bùi Thành Long, sinh ngày 02/11/2011 cho đến khi cháu Long đủ 18 tuổi. Chị B chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung, nên anh K chưa phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con. Về con riêng: Chị Bùi Thị B có 01 con riêng là cháu Bùi Thị Thanh Hà, sinh ngày 10/10/2009. Đây là con riêng của chị Bùi Thị B, chị B không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Căn cứ vào các Điều 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình, sau khi ly hôn cha mẹ vẫn có quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.
[4]. Về tài sản chung: Chị Bùi Thị B chưa yêu cầu Tòa giải quyết. Nên HĐXX không xem xét giải quyết.
[5]. Về công nợ chung: Chị B xác nhận không có công nợ chung. Nên HĐXX không xem xét.
Anh Bùi Văn K vắng mặt không có lời khai về tài sản chung và công nợ chung nên HĐXX không xem xét.
[6]. Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 107 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH10 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Chị Bùi Thị B phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng:
- Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 271, khoản 1, khoản 3 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH10 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bùi Thị B.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị B được ly hôn với anh Bùi Văn K.
- Về con chung: Giao cho chị Bùi Thị B trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu Bùi Thành Long, sinh ngày 02/11/2011 cho đến khi cháu Long đủ 18 tuổi. Anh Bùi Văn K chưa phải đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung.
Hai bên có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai có quyền cản trở, nhưng không được lạm dụng quyền thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con của người đang trực tiếp nuôi con.
Vì quyền lợi về mọi mặt của con, khi có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con, việc cấp dưỡng nuôi con hoặc hạn chế quyền của cha mẹ đối với con chưa thành niên.
2.1. Về con riêng: Chị Bùi Thị B có 01 con riêng là cháu Bùi Thị Thanh Hà, sinh ngày 10/10/2009. Đây là con riêng của chị Bùi Thị B, chị B không yêu cầu Tòa án giải quyết. Nên HĐXX không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị Bùi Thị B chưa yêu cầu Tòa giải quyết. Nên HĐXX không xem xét giải quyết.
- Về công nợ chung: Chị B xác nhận không có công nợ chung. Nên HĐXX không xem xét.
- Về án phí: Chị Bùi Thị B phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm được đối trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số: 0003054, ngày 06 tháng 10 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản sao bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hòa Bình; - TAND tỉnh Hòa Bình; - VKSND huyện Cao Phong; - THADS huyện Cao Phong; - UBND xã TK; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Đức Thịnh |
Bản án số 04/2024/HNGĐ-ST ngày 03/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO PHONG, TỈNH HÒA BÌNH về ly hôn
- Số bản án: 04/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO PHONG, TỈNH HÒA BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Bùi Thị Bịnh được ly hôn với anh Bùi Văn Biên
