|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA Bản án số: 04/2024/HNGĐ-PT Ngày 02 - 01 - 2024 V/v Xin ly hôn |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lại Thị Hiếu.
Thẩm phán: Ông Đinh Huy Hiệp, bà Đinh Thị Mai Lan.
- Thư ký phiên toà: Bà Đào Thu Hương – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Sơn La.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sơn La: Bà Phạm Minh Phương – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 27/12/2023 đến ngày 02/01/2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sơn La xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 05/2023/TLPT-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2023 về việc Xin ly hôn.
Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 177/2023/HNGĐ-ST ngày 12 tháng 9 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 06/2023/QĐ-PT ngày 29 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Ngô Văn T, sinh năm 1970; địa chỉ: Tiểu khu P, thị trấn Nông Trường M, huyện M, tỉnh Sơn La, có mặt.
Bị đơn: Bà Trần Thị K, sinh năm 1968; địa chỉ: Tiểu khu P, thị trấn Nông Trường M, huyện M, tỉnh Sơn La, có mặt.
Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Ngô Văn T.
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo nội dung đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên toà sơ thẩm nguyên đơn ông Ngô Văn T trình bày:
Ông Ngô Văn T và bà Trần Thị K kết hôn với nhau vào ngày 13 tháng 9 năm 1988. Khi kết hôn hai bên đã đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật, việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Y, tỉnh Hà Bắc.
Cuộc sống vợ chồng sống không hạnh phúc thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong lối sống. Đặc biệt là từ khi ông T gây thương tích cho bà K thì cuộc sống vợ chồng ông ngày càng căng thẳng, vợ chồng ông không thể sống được với nhau. Mâu thuẫn của vợ chồng đã được tiểu khu hoà giải nhưng không thành. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, nguyện vọng của ông T xin được ly hôn với bà Trần Thị K.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng ông T và bà K có 04 người con chung là cháu Ngô Văn H sinh ngày 03/9/1990, cháu Ngô Thị H1 sinh ngày 06/8/1993, cháu Ngô Văn H2 sinh ngày 04/11/1994, cháu Ngô Thị H3 sinh ngày 04/9/2003. Hiện nay các cháu đã trưởng thành (đủ 18 tuổi), 03 cháu lập gia đình riêng, các cháu phát triển bình thường, không thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung gồm có:
- Thửa đất số 44, tờ bản đồ số 1. Địa chỉ thửa đất: Tiểu khu P, thị trấn Nông Trường M, huyện M, tỉnh Sơn La, có diện tích là đất trồng cây lâu năm (CLN) 6.718,0 m²; Đất đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Ngô Đức T1 số vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00910/QSDĐ số 591/QĐ-UB do UBND huyện M cấp ngày 24/10/2000. Tờ bản đồ số 1, thửa số 44, diện tích sử dụng 400m² đất ở lâu dài.
- Thửa đất có tên xứ đồng T2 hát ta: Thửa đất số TĐ01, tờ bản đồ số 1, có tổng diện tích thực tế là 3459 m² là đất trồng cây lâu năm (CLN). Địa chỉ thửa đất: Tiểu khu P, thị trấn Nông Trường M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Thửa đất có tên xứ đồng T2 hát ta (Thả bò): Thửa đất số TĐ02, TĐ02, tờ bản đồ số 1, có tổng diện tích thực tế là 12.633,0 m² là đất trồng cây lâu năm (CLN). Địa chỉ thửa đất: Tiểu khu P, thị trấn Nông Trường M, huyện M, tỉnh Sơn La.
- Thửa đất có tên xứ đồng Thung Hai Cây: Thửa đất số TĐ04, tờ bản đồ số 1, có tổng diện tích thực tế là 3.298,4 m² là đất trồng cây lâu năm (CLN). Địa chỉ thửa đất: Tiểu khu P, thị trấn Nông Trường M, huyện M, tỉnh Sơn La.
03 diện tích đất trên chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với toàn bộ diện tích đất trên vợ chồng ông đang sử dụng nên đề nghị Tòa án chia cho vợ chồng ông theo quy định của pháp luật.
Đối với chiếc xe máy Dream BKS 26H2-9803 xe mua lại của Tráng L (Đăng ký mang tên Tráng Láo G) xác định trị giá là 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng), không yêu cầu định giá. Thống nhất giao cho bà K đang quản lý, sử dụng.
Đối với diện tích đất ở quê T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang về nguồn gốc đất có là của bố, mẹ ông, sau khi bố mẹ chết đi cho vợ chồng ông đứng tên đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Ngô Văn T và Trần Thị K, tại thừa số 127, tờ bản đồ 58. Địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Ông không nhất trí chia cho bà K.
Đối với 04 diện tích đất ở tiểu khu P, thị trấn Nông Trường M đã được xem xét thẩm định, định giá ông đề nghị chia đôi.
Còn đối với đất ruộng ở quê T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, được chia theo Q thì suất của bà K được chia bao nhiêu là quyền sử dụng của bà K.
Về nợ chung:
- - Đối với các khoản nợ bà Trần Thị K khai có nợ bà Trần Thị L (là chị gái ruột bà K). Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang với tổng số tiền là 405.000.000₫ (Bốn trăm linh năm triệu đồng), ông cũng không biết bà K vay số tiền này, lúc bà K vay ông không biết và ông cũng không được ký vào bất kỳ giấy tờ gì bà K vay.
- - Đối với khoản vay mà bà Trần Thị K khai là vay của bà Trần Thị T3, địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang vay số tiền là 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng), ông cũng không biết bà K vay số tiền này, lúc bà K vay ông không biết và ông cũng không được ký vào bất kỳ giấy tờ gì.
- - Đối với khoản vay mà bà Trần Thị K khai là vay của bà Trần Thị T4. Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang vay số tiền là 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng), ông cũng không biết bà K vay số tiền này, lúc bà K vay ông không biết và ông cũng không được ký vào bất kỳ giấy tờ gì.
- - Đối với khoản vay mà bà Trần Thị K khai là còn nợ của ông Bùi Văn T5, địa chỉ: Tiểu khu P, thị trấn Nông Trường M, huyện M, tỉnh Sơn La vay vào ngày 20/6/2022 số tiền là 50.000.000₫ (năm mươi triệu đồng), lãi suất là 1%/tháng, ông cũng không biết bà K nợ số tiền này, lúc bà K lấy hàng hóa ông không biết và ông cũng không được ký vào bất kỳ giấy tờ gì.
- - Đối với khoản vay mà bà Trần Thị K khai là còn nợ của bà Lê Thị T6 ở tiểu khu D, thị trấn Nông Trường M, huyện M, tỉnh Sơn La còn nợ số tiền là hơn 12.000.000đ, ông cũng không biết bà K lấy hàng hóa gì, lúc bà K lấy hàng hóa ông không biết và ông cũng không được ký vào bất kỳ giấy tờ gì.
Đối với các khoản nợ trên, ông không được vay mượn cùng bà K, nên các khoản nợ trên bà K phải tự chịu một mình
Về án phí: Ông T xin chịu theo quy định của pháp luật.
-Ý kiến trình bày của bị đơn như sau:
Bà K nhất trí về thời gian kết hôn, về con chung như ông T trình bày, nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, bà nhất trí ly hôn với ông T.
Về tài sản chung bà K trình bày có khối tài sản sau đây:
01 thửa đất số 44, tờ bản đồ số 1. Địa chỉ thửa đất: Tiểu khu P, thị trấn Nông Trường M, huyện M, tỉnh Sơn La, có diện tích là đất trồng cây lâu năm (CLN) 6.718,0 m²; Đất đã có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Ngô Đức T1 vào sổ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00910/QSDĐ só 591/QĐ-UB do UBND huyện M cấp ngày 24/10/2000. Tờ bản đồ số 1, thửa số 44, diện tích sử dụng 400m2 đất ở lâu dài hiện mang tên Ngô Văn T.
01 thửa đất có tên xứ đồng Tám Hát Ta: thửa đất số TĐ01, tờ bản đồ số 1, có tổng diện tích thực tế là 3459 m² là đất trồng cây lâu năm (CLN). Địa chỉ thửa đất: Tiểu khu P, thị trấn Nông Trường M, huyện M, tỉnh Sơn La.
01 thửa đất có tên xứ đồng Tám Hát Ta (Thả bò): thửa đất số TĐ02, tờ bản đồ số 1, có tổng diện tích thực tế là 12.633,0 m² là đất trồng cây lâu năm (CLN). Địa chỉ thửa đất: Tiểu khu P, thị trấn Nông Trường M, huyện M, tỉnh Sơn La.
01 thửa đất có tên xứ đồng Thung Hai Cây: Thửa đất số TĐ04, tờ bản đồ số 1, có tổng diện tích thực tế là 3.298,4 m² là đất trồng cây lâu năm (CLN). Địa chỉ thửa đất: Tiểu khu P, thị trấn Nông Trường M, huyện M, tỉnh Sơn La. Trong 04 diện tích đất có 03 diện tích đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với toàn bộ diện tích đất trên, bà không chia cho ông T, vì trước đây ông T đã tự ý bán 03 mảnh, trong đó có một mảnh đất thổ cư và 02 mảnh đất nương.
Đối với chiếc xe máy Dream BKS 26H2 - 9803 xe mua lại của Tráng L (Đăng ký mang tên Tráng Láo G) xác định trị giá là 4.000.000₫ (Bốn triệu đồng) không yêu cầu định giá. Bà và ông T đã thỏa thuận bà K được quyền quản lý, sử dụng.
Về phần đất ở quê thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
- + Đất ở dưới quê tại thửa số 127, tờ bản đồ 58. Địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang có diện tích là 671 m², trong đó đất ở 400m², đất vườn là 271m², đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số sổ BI 442307 mang tên Trần Thị K và Ngô Văn T. Tài sản trên đất có một ngôi nhà cấp bốn, lợp tôn lạnh.
Về ngôi nhà và đất bà K có ý kiến như sau:
Về xây dựng ngôi nhà 59,84m² này bà K xác định là nhà tình nghĩa vì bố ông mẹ T có con là Liệt sỹ, nên huyện Y, tỉnh Bắc Giang có hỗ trợ cho 40.000.000đ (Bốn mươi triệu đồng) để xây nhà, bà K có thêm vào 130.000.000₫ (Một trăm ba mươi triệu đồng).
Bà K có ý kiến về diện đất như sau, do trước đây ông T đã bán đi số đất này và bà đã phải chuộc, nên mẹ chồng bà là Nguyễn Thị B đã sang tên toàn bộ diện tích đất trên cho bà, nên là tài sản của bà.
Còn phần đất đã xây nhà thì giao cho ông T quản lý sử dụng, và ông T có trách nhiệm trả lại cho bà 130.000.000đ (Một trăm ba mươi triệu đồng) vì khi bà xây ngôi nhà này ông T đang đi cai nghiện. Nên ông T không có công sức đóng góp gì.
Về đất ruộng ở dưới quê Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang chưa được cấp Giấy chứng nhận QSDĐ, hiện nay ông T cho chị gái là Ngô Thị L1 cấy ruộng và ông T cho nữa ai thì bà không biết (theo quy định thì vợ chồng bà được chia theo khẩu theo Q, mỗi một Q là 5 sào, một sào là 360m²/sào) là xuất đất của bà được cấp, nên bà xin sử dụng, không chia cho ông T.
Về nợ chung:
- + Vay chị Trần Thị L (là chị gái ruột bà K). Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang 02 lần: Lần 01 vay 155.000.000₫ một lần vay 250.000.000₫ (hai trăm năm mươi triệu), tổng số là 405.000.000đ, mục đích vay là để mua đất nương 02 mảnh ở Tám Hát T, lúc vay không làm giấy tờ gì, lúc vay ông T cũng biết về khoản vay này.
- + Vay của em gái là Trần Thị T7. Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng), mục đích vay để tiêu dùng, sinh hoạt trong gia đình, lúc vay không làm giấy tờ gì, lúc vay ông T và các con đều biết.
- + Vay của em gái Trần Thị T4. Địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang số tiền là 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng), mục đích vay là do ông T chém ngón tay phải đi viện điều trị. Lúc vay không làm giấy tờ gì.
- + Vay của ông Bùi Văn T5. Địa chỉ: Tiểu khu P, thị trấn Nông Trường M, huyện M, tỉnh Sơn La số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) vay vào 20/6/2022, lãi suất là 1%/tháng, mục đích vay là mua phân bón, để bón cây mận, cây đào vụ năm 2022 (Thu hoạch vụ năm 2022 được 200.000.000đ, mang đi trả nợ tiền phân mấy vụ trước còn nợ).
- + Nợ tiền thịt của bà Lê Thị T6 ở chợ G1, thị trấn Nông Trường M, huyện M, tỉnh Sơn La khoảng hơn 12.000.000đ, số tiền này là bà nợ tiền thịt của bà T6 từ năm 2017, năm 2018, năm 2019 mấy năm liền không trả được.
Đối với các khoản nợ trên bà K đề nghị chia đôi.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày.
Bà Ngô Thị L1 trình bày:
Bà là chị gái ruột của ông Ngô Văn T.
Trước đây ông T và bà K sống ở thôn T, xã Đ nhưng sau đó đã chuyển lên sinh sống tại huyện M, tỉnh Sơn La đến nay, sau khi ông T, bà K lên M sinh sống có cho gia đình bà cấy sản một số ruộng đất nông nghiệp. Hiện nay gia đình vẫn đang sử dụng, mỗi năm vẫn trả bằng thóc cho ông T, bà K 20kg thóc/01 năm/01 sào. Do con gái ông T, bà K là cháu Ngô Thị H1 đến lấy.
Đối với diện tích đất nông nghiệp bà đang sử dụng của vợ chồng ông T, bà K ở xứ đồng nào và cụ thể là bao nhiêu thì bà L1 không cung cấp thông tin cho Tòa án được vì bố con ông T điện về bảo bà không được cung cấp gì về diện tích đất bà đang sử dụng cho Tòa án biết.
Việc bà K trình bày tại thời điểm chia ruộng mỗi Q là 5 sào là không đúng, bà chỉ nhớ tại thời điểm đó mỗi Q chỉ được 4 sào.
Ngoài ra các bà Ngô Thị L2, Ngô Thị R, Ngô Thị B1, Ngô Thị C, Ngô Thị D có đơn trình bày liên quan đến diện tích đất đứng tên Ngô Văn T và Trần Thị K trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trên đất đã xây 01 nhà tình nghĩa, đều có ý kiến nếu ông T, bà K ly hôn thì chỉ được chia diện tích đất ông
T, bà K đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không được chia phần diện tích đất mà ông N, bà B2 đã cho các bà.
Bà Trần Thị T7 trình bày:
Bà là chị gái của bà Trần Thị Kẻ
Khoảng tháng 3/2019 ông Ngô Văn T và bà Trần Thị K có gọi điện thoại hỏi vay tiền bà 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng), bà cũng không hỏi mục đích vay để làm gì. Hai bên cũng không thỏa thuận gì về lãi xuất và thời gian trả, số tiền đó bà đã đưa cho cháu Ngô Thị H1 là con gái của ông T bà K nhận hộ, vì là người nhà nên không lập biên bản vay tiền,
Nay ông T và bà K ly hôn bà đề nghị ông T, bà K có trách nhiệm trả cho bà số tiền đã vay.
Bà Trần Thị L trình bày:
Bà là chị gái của bà Trần Thị k.
Khoảng đầu tháng 02/2017 ông Ngô Văn T và bà Trần Thị K có gọi điện thoại hỏi vay tiền, vợ chồng bà có hỏi vay làm gì thì ông T, bà K nói là vay để đấu thầu nương. Khoảng cuối tháng 02/2017 chồng bà là ông Nguyễn Văn M trực tiếp cầm 250.000.000₫ (Hai trăm năm mươi triệu đồng) đến Ngân hàng nông nghiệp và PTNT huyện Y gửi cho ông T, bà K, Người nhận tiền là ông T, bà Trần Thị K, nhận tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện M.
Khoảng đầu năm 2018 ông T, bà K lại gọi điện thoại về hỏi vay vợ chồng bà số tiền 155.000.000đ (Một trăm năm mươi lăm triệu đồng) mục đích để mua đất ở, ngày 17/5/2018 (âm lịch) chồng bà trực tiếp mang tiền đến nhà đưa cho ông T, bà K, bà K trực tiếp ký nhận vào sổ vay tiền với nội dung dì Kẻ vay anh M 155.000.000đ. Hai bên không thỏa thuận lãi suất mà chỉ thống nhất bằng miệng khi nào có thì trả cho gia đình bà tiền gốc. Khi ông M đưa tiền có cháu Ngô Văn H2 và cháu Ngô Thị H4 là con của ông T, bà K và mấy người làm thuê chứng kiến sự việc, ông T không có mặt ở đó.
Từ đó đến nay ông T, bà K vẫn chưa trả cho gia đình được khoản nào.
Nay ông T và bà K ly hôn, bà đề nghị ông T, bà K có trách nhiệm trả cho gia đình bà số tiền đã vay số tiền gốc là 405.000.000đ và lãi của số tiền 250.000.000đ tính từ tháng 02/2017 đến tháng 12/2022 là 70 tháng với lãi suất là 1%/tháng = 175.000.000đ. Tổng số tiền ông T, bà K phải trả là 580.000.000₫ (Năm trăm tám mươi triệu đồng).
Bà Lê Thị T6 trình bày:
Bà không có họ hàng gì với bà K và ông T.
Từ năm 2017, năm 2018, năm 2019, ông T, bà K có mua thịt lợn của bà đến nay chưa trả hết.
Chốt đến năm 2019 thì bà K, ông T còn nợ bà T6 là 12.000.000đ. Việc lấy thịt ghi nợ bà đều ghi vào sổ bán hàng, không có chữ ký của ông T và bà K.
Nay ông T và bà K ly hôn, bà T6 yêu cầu ông T, bà K phải trả cho bà số nợ trên.
Ông Bùi Văn T5 trình bày:
Ông không có họ hàng gì với bà K và ông T.
Vào ngày 20/6/2022 bà K đến đặt vấn đề vay với gia đình ông 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) mục đích trả tiền phân và tiền công người làm, việc vay mượn có lập giấy vay nợ, bà K có ký xác nhận.
Nay ông T và bà K ly hôn, ông T5 yêu cầu bà K phải trả cho ông số nợ trên và lãi suất theo thỏa thuận.
Lời khai của người làm chứng.
Anh Ngô Văn H5 trình bày:
Anh là con của ông T, bà K
Theo lời khai của bà L nội dung vào ngày 17/5/2018 (âm lịch) có ông Nguyễn Văn M là chồng bà L mang tiền trực tiếp giao cho bố mẹ anh, có anh chứng kiến là không đúng. Việc bà K khai vay của vợ chồng bà L, ông M tổng số tiền là 405.000.000đ, anh em anh đều không biết gì, biệc bà K khai vay tiền để thầu, mua đất là không đúng vì từ trước đến nay gia đình anh không phải thầu đất của ai và mua đất với ai.
Tóm lại các khoản nợ mà bà K mẹ anh khai, anh đều không biết.
Đối với tài sản và nợ chung của ông T, bà K, không liên quan gì đến anh.
Anh Ngô Văn H trình bày.
Anh là con của ông T, bà K.
Theo lời khai của bà L nội dung vào ngày 17/5/2018 (âm lịch) có ông Nguyễn Văn M là chồng bà L mang tiền trực tiếp giao cho bố mẹ anh 155.000.000đ, có anh chứng kiến là không đúng.
Việc bà K khai vay của vợ chồng bà L, ông M 405.000.000đ, anh em anh đều không biết gì, biệc bà K khai vay tiền để thầu, mua đất là không đúng vì từ trước đến nay gia đình anh không phải thầu đất của ai và mua đất với ai.
Tóm lại các khoản nợ mà bà K mẹ anh khai, anh đều không biết.
Đối với tài sản và nợ chung của ông T, bà K, không liên quan gì đến anh.
Chị Ngô Thị H4 trình bày.
Chị là con của ông T, bà K.
Theo lời khai của bà L nội dung vào ngày 17/5/2018 (âm lịch) có ông Nguyễn Văn M là chồng bà L mang tiền trực tiếp giao cho bố mẹ chị, có chị và
anh H2 chứng chứng kiến là không đúng. Chị không được thấy việc ông M đưa tiền.
Việc bà K khai vay tổng số tiền là 405.000.000₫ mục đích để thầu nương và mua đất, việc này anh em chị đều không biết gì, việc bà K khai vay tiền để thầu, mua đất là không đúng vì từ trước đến nay gia đình chị không phải thầu đất của ai và mua đất với ai.
Bà K có khai vay của bà T7, bà T4 ông T5, bà T6 chị hoàn toàn không biết.
Tóm lại các khoản nợ mà bà K mẹ chị khai, chị đều không biết.
Đối với tài sản và nợ chung của ông T, bà K chị không liên quan gì đến chị.
Ông Giàng A S trình bày:
Ông không có quan hệ họ hàng gì với ông T, bà K.
Năm 1996 vợ chồng ông có cho ông T, bà K 01 thửa đất có tên xứ đồng là Khu Liền Đá, địa chỉ thửa đất Tiểu khu P, thị trấn Nông Trường M, huyện M, tỉnh Sơn La.
Nguồn gốc thửa đất vợ chồng ông cho ông T, bà K là do vợ chồng ông khai phá, lúc cho diện tích đất khoảng 2000m².
Lý do cho là vợ chồng ông T, bà K lấy thuốc chữa bệnh cho vợ ông là Tráng Thị S1.
Khi cho đất thì không làm giấy tờ gì. Đến năm 2022 bà K đến nhà ông yêu cầu ông viết giấy chuyển nhượng tặng cho bà K, nội dung như giấy chuyển nhượng là không đúng (trong giấy chuyển nhượng ghi ngày 20/8/1996) nhưng thực tế giấy chuyển nhượng được lập vào năm 2022, chữ ký trong giấy chuyển nhượng đề ngày 20/8/1996 là chữ kí và chữ viết của ông.
Việc bà K viết giấy chuyển nhượng ngày 20/8/1996 không đúng ý chí của ông S, mà bà K yêu cầu ông S kí thì ông S mới kí.
Hiện nay ông không còn liên quan gì đến diện tích đất đã cho ông T, bà K nữa.
UBND huyện M có văn bản trình bày
Phần diện tích đất của ông Ngô Văn T và bà Trần Thị K nằm trong diện tích đất 44.611.847m² thu hồi của Công ty cổ phần C3 tại xã T và thị trấn Nông Trường M trả lại theo Quyết định số 439/QĐ - UBND ngày 29/02/2016 của UBND tỉnh S về việc thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với Công ty Cổ phần C3 tại xã T và thị trấn Nông Trường M, huyện M (tại tờ bản đồ khu đất thu hồi một phần đất của Công ty Cổ phần C3, giao cho UBND huyện M và cho thuê phần đất còn lại để Công ty tiếp tục sử dụng, tờ bản đồ số 02). Hiện nay UBND huyện M đang triển khai lập phương
án sử dụng đất trình UBND tỉnh phê duyệt, trong đó có phần đất của ông T, bà K đang có tranh chấp.
Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 177/2023/HNGĐ-ST ngày 12/9/2023 của Toà án nhân dân huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La quyết định như sau:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58; khoản 3 Điều 59 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 2, 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Căn cứ điểm b Điều 24; khoản 1, 4 Điều 26; điểm a, b, e khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
- Công nhận việc thuận tình ly hôn giữa ông Ngô Văn T và bà Trần Thị K.
- Về con chung: Do các cháu Ngô Văn H, sinh ngày 03/9/1990, cháu Ngô Thị H1, sinh ngày 06/8/1993, cháu Ngô Văn H2, sinh ngày 04/11/1994, cháu Ngô Thị H4, sinh ngày 04/9/2003. Hiện nay các cháu đã trưởng thành (đủ 18 tuổi), các cháu phát triển bình thường, không thuộc trường hợp mất năng lực hành vi dân sự nên không đề cập việc giải quyết việc phải nuôi con chung sau khi ly hôn.
- Về tài sản chung:
Giao cho ông Ngô Văn T được quyền quản lý sử dụng.
01 diện tích đất 671m2 tại thửa số 127, tờ bản đồ 58. Địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, đất đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số sổ BI 442307, số vào số cấp GCN CH 00060 do UBND huyện Y cấp ngày 05/4/2012 mang tên Trần Thị K và Ngô Văn T. Trên đất có 01 căn nhà xây cấp 4, mái lợp tôn chống nóng, 01 công trình phụ gồm nhà bếp, nhà vệ sinh cấp 4, xung quanh đất xây tường bao, có cổng sắt, trên đất có 01 số cây ăn quả gồm nhãn, mít, ổi. Thửa đất có vị trí tiếp giáp như sau:
Phía Đông tiếp giáp với đường bê tông của thôn T. Phía Bắc tiếp giáp với đường bê tông của thôn T. Phía Tây tiếp giáp với đất của hộ ông Nguyễn Đức H6. Phía Nam tiếp giáp với đất của hộ ông Nguyễn Văn H7.
Trị giá là 868.995.000đ (T2 trăm sáu mươi tám triệu, chín trăm chín mươi lăm nghìn đồng). ( Có sơ đồ kèm theo).
Ông Ngô Văn T có trách nhiệm trả lại tiền chênh lệch tài sản cho bà Trần Thị K là 135.520.000đ (Một trăm ba mươi lăm triệu, năm trăm hai mươi nghìn).
Giao cho bà Trần Thị K được quyền sử dụng:
Giao cho bà Trần Thị K được quyền sử dụng 400m² đất thổ cư theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00910/QSDĐ số 591/QĐ-UB do UBND huyện M cấp ngày 24/10/2000, Tờ bản đồ số 1, thửa số 44, diện tích sử dụng
400m2 đất ở lâu dài, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Ngô Văn T. Trị giá là 64.000.000đ (Sáu mươi tư triệu đồng).
Tạm giao cho bà Trần Thị K được quyền sử dụng 01 diện tích đất 6.718,0 m² đất nằm trong tờ bản đồ số 1. Địa chỉ thửa đất: Tiểu khu P, thị trấn Nông Trường M, huyện M, tỉnh Sơn La, là đất trồng cây lâu năm (CLN) thể hiện trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00910/QSDĐ số 591/QĐ- UB do UBND huyện M cấp ngày 24/10/2000 mang tên Ngô Văn T đã được trừ đi 400m2 đất được cấp sử dụng lâu dài. Còn lại tạm giao cho bà K được quyền sử dụng diện tích đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trên diện tích đất này đã xây nhà (nhà xây sai vị trí không xây đúng với diện tích đất thổ cư được cấp) cùng toàn bộ cây ăn quả trên diện tích đất 6718,0m² – 400m² đất thổ cư, còn lại là 6318,0m².
Tài sản trên đất gồm có:
- 224 cây nhãn ghép; 07 cây nhãn chưa ghép; 14 cây bơ; 03 cây cam; 10 cây hồng; 01 cây sung chu vi trên 60cm.
- 01 nhà xây cấp bốn và toàn bộ hệ thông công trình phụ trên đất.
- - Phía Nam giáp nhà Thắm C1, đất ông Đ. Phía Tây giáp đất nhà T4. Phía Đông giáp tỉnh lộ 104. Phía Bắc giáp với đất bà V, bà Đ1.
(Có sơ đồ kèm theo bản án sơ thẩm).
Tạm giao cho bà Trần Thị K được quyền quản lý sử dụng thửa đất có tên sứ đồng T2 hát ta:
Diện tích đất là 3459 m2 thuộc thửa đất số TĐ01, tờ bản đồ số 1.
Địa chỉ thửa đất: Tại tiểu khu P, thị trấn Nông Trường M, huyện M, tỉnh Sơn La. Đất chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tài sản trên đất có 89 cây mận; 36 cây đào.
- - Phía Tây giáp đường; phía Đông giáp đất nhà T9; phía Bắc giáp đường vào khu sản xuất; phía Nam giáp đất nhà ông S2;
(Có sơ đồ kèm theo bản án sơ thẩm).
Tạm giao cho bà Trần Thị K được quyền quản lý sử dụng thửa đất có tên sử đồng T2 hát ta (khu thả bò).
Diện tích đất là 8.903,9 m², thuộc thửa số TĐ02, thuộc tờ bản đồ số 1. Địa chỉ thửa đất: Tiểu khu P, thị trấn Nông Trường M, huyện M, tỉnh Sơn La chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Tài sản trên đất gồm có: 215 cây mận; 230 cây đào.
- - Phía Đông giáp đất nhà S3, phía Tây giáp đất nhà S4; phía Bắc giáp núi; phía giáp rãnh nước.
(Có sơ đồ kèm theo bản án sơ thẩm).
Tạm giao cho bà Trần Thị K được quyền quản lý sử dụng thửa đất có tên sứ Thung Hai cây, thửa đất số TĐ04, tờ bản đồ 1. Địa chỉ thửa đất: Tiểu khu P, thị trấn Nông Trường M, huyện M, tỉnh Sơn La chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Có tổng diện tích là 3.298,4 m².
- - Tài sản trên đất có 28 cây mận; 26 cây đào;
Phía Bắc giáp rãnh nước; phía Nam giáp đường; phía Đông giáp đất nhà Chanh D1; phía Tây giáp đất nhà Thêu C2.
(Có sơ đồ kèm theo bản án sơ thẩm).
Bà Trần Thị K được quyền sử dụng 01 xe máy Drem BKS 26H 2 – 9803 (Đăng ký mang tên Tráng Láo G) trị giá chiếc xe là 4.000.000đ (Bốn triệu đồng).
Tổng trị giá tài sản là đất và tài sản trên đất là: 593.954.535 đồng (Năm trăm chín mươi ba triệu, chín trăm năm mươi tư nghìn, năm trăm ba mươi lăm đồng) + 4.000.000đ ( Bốn triệu đồng trị giá chiếc xe máy) = 597.954.535đ (Năm trăm chín mươi bảy triệu, chín trăm năm mươi tư nghìn, năm trăm ba mươi năm đồng).
"Kể từ ngày bên có quyền yêu cầu thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền phải thi hành án, bên có nghĩa vụ phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại các Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán".
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự và người phải thi hành án dân sự có quyền: Thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7,7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
* Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
* Về án phí phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 24, khoản 1 Điều 29 Nghi quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Ông Ngô Xuân T10 phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai số 0003934 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La.
* Bản án Hôn nhân gia đình phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (Ngày 02/01/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (Đã ký) Lại Thị Hiếu |
Bản án số 04/2024/HNGĐ-PT ngày 02/01/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA về xin ly hôn
- Số bản án: 04/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 02/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn và tranh chấp tài sản chung giưuã ông Ngô Văn T và bà Trần Thị K
