|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 04/2024/HS-ST Ngày: 05-01-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Trường Chinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Bé Hai.
2. Bà Nguyễn Thị Phượng.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Lợi - là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Thanh Sang - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 01 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2023/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 63/2023/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 60/2023/HSST-QĐ ngày 15 tháng 12 năm 2023, đối với:
Các bị cáo:
1. Nguyễn Văn L - sinh ngày 23/12/1955 tại Đồng Tháp; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: Ấp D, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh, Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm vườn; Trình độ học vấn: 01/12; Con ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị Đ; Vợ tên: Võ Thị H; Có 09 người con, con lớn nhất sinh năm 1975, con nhỏ nhất sinh năm 2000.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Tạm giữ, tạm giam: Không.
- Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
2. Võ Thị S - sinh ngày 07/04/1957 tại Đồng Tháp; Giới tính: Nữ; Nơi cư trú: Khóm T, phường A, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp;
- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Bán vé số; Con ông Trần Văn H1 và bà Võ Thị H2; Chồng tên: Nguyễn Văn T; Có 03 người con đã trưởng thành và đã có gia đình riêng.
- Tiền sự: Vào ngày 13/01/2023, bị Công an huyện L, tỉnh Đồng Tháp ra quyết định xử phạt hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền, đã nộp phạt xong.
- Tiền án: Có 01 tiền án, ngày 06/6/1998, bị Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù về tội Chứa mại dâm, chưa nộp án phí hình sự sơ thẩm với số tiền 50.000 đồng và chưa nộp phạt số tiền 1.000.000 đồng.
- Tạm giữ, tạm giam: Không; Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
3. Lâm Thị H3 - sinh ngày 09/09/1973 tại Đồng Tháp; Giới tính: Nữ; Nơi cư trú: Ấp D, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.
- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ học vấn: 01/12; Con ông Lâm Văn V (chết) và bà Nguyễn Thị H4; Chồng tên Lâm Văn Bé T1; Có 02 người con, con lớn sinh năm 2000, con nhỏ sinh năm 2003.
- Tiền án, Tiền sự: Không.
- Tạm giữ, tạm giam: Không.
- Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
4. Nguyễn Thị Ngọc T2 - sinh ngày 26/9/1983 tại Đồng Tháp; Giới tính: Nữ; Nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp;
- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 04/12; Con ông Nguyễn Văn S1 và bà Trần Thị L1; Chồng tên: Cao Minh T3; Có 02 người con, con lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2009.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Tạm giữ, tạm giam: Không
- Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Các bị cáo Nguyễn Văn L, Võ Thị S, Lâm Thị H3 và Nguyễn Thị Ngọc T2 bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 04/3/2023, Nguyễn Văn L rủ Lâm Thị H3, Nguyễn Thị Ngọc T2, Võ Thị S vào nhà của Nguyễn Văn Bé T4 con ruột L, địa chỉ tại ấp D, xã M, huyện C đánh bài tứ sắc ăn thua bằng tiền thì tất cả đồng ý và thỏa thuận nếu người nào tới trước mà tới trơn thì 03 người còn lại mỗi người sẽ chung số tiền 10.000 đồng, nếu tới quan thì 03 người còn lại mỗi người sẽ chung 20.000 đồng cho người tới trước. Cả 4 người chơi đến khoảng 16 giờ cùng ngày thì bị Công an xã M, huyện C bắt quả tang. Tang vật thu giữ trên chiếu bạc gồm số tiền 6.810.000 đồng (trong đó thu giữ số tiền trên chiếu bạc của bị cáo L là 1.600.000 đồng, của H3 là 3.200.000 đồng, của T2 là 1.910.000 đồng, của bị cáo S là 100.000 đồng), 01 bộ bài từ sắc, 01 chiếc chiếu dùng đánh bạc và 01 điện thoại hiệu OPPO màu xanh của bị cáo T2. Sau đó, hồ sơ được chuyển đến Công an huyện C xử lý theo thẩm quyền.
Tại Cáo trạng số 50/CT-VKSHCL ngày 18/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh đã truy tố các bị cáo Nguyễn Văn L, Võ Thị S, Lâm Thị H3 và Nguyễn Thị Ngọc T2 về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
* Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo, đồng thời đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả, hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:
- Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn L, Võ Thị S, Lâm Thị H3 và Nguyễn Thị Ngọc T2 cùng phạm tội “Đánh bạc”.
- Về hình phạt:
- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, Điều 51, Điều 17, Điều 36, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L với mức án từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.
- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Võ Thị S với mức án từ 06 tháng tù đến 09 tháng tù.
- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, Điều 51, Điều 17, Điều 36, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Lâm Thị H3 với mức án từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.
- Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, Điều 51, Điều 17, Điều 36, Điều 58 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T2 từ 06 tháng đến 09 tháng cải tạo không giam giữ.
- Về trách nhiệm dân sự: Không.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 và điểm a, b khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh tuyên xử:
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 6.810.000 đồng là số tiền dùng đánh đánh bạc.
- Tịch thu, tiêu hủy 01 bộ bài từ sắc và 01 chiếc chiếu dùng để đánh bạc (Vật chứng trên là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội)
- Trả cho bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T2 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO màu xanh.
* Các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát và Luận tội của Kiểm sát viên. Các bị cáo không ai tranh luận với quan điểm luận tội của kiểm sát viên. Lời nói sau cùng, các bị cáo xin đều xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Văn L, Võ Thị S, Lâm Thị H3 và Nguyễn Thị Ngọc T2 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng số 50/CT-VKSHCL ngày 18/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cao Lãnh là đúng với hành vi của các bị cáo. Vào khoảng 15 giờ đến 16 giờ 15 phút ngày 04/03/2023, các bị cáo Nguyễn Văn L, Võ Thị S, Lâm Thị H3 và Nguyễn Thị Ngọc T2 đã thực hiện hành vi đánh bạc ăn thu bằng tiền với hình thức đánh tại tứ sắc tại nhà của anh Nguyễn Văn Bé T4 (con của bị cáo L) ngụ tại ấp D, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp thì bị bắt quả tang và thu giữ trên chiếu bạc tổng số tiền là 6.810.000 đồng.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đã xâm phạm trực tiếp tới tình hình an ninh trật tự công cộng ở địa phương nơi xảy ra vụ án, ảnh hưởng tới cuộc sống của chính mỗi gia đình và nếp sống văn minh của xã hội vì đây được xem là một tệ nạn xã hội. Khi thực hiện tội phạm, các bị cáo là người đã thành niên, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình và có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định. Bản thân các bị cáo biết rõ hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật, nhưng vì tư lợi bản thân, lười biếng lao động, muốn sát phạt nhau để kiếm tiền một cách nhanh chóng nên các bị cáo đã thực hiện hành vi như đã nêu trên, chứng tỏ hành vi phạm tội của các bị cáo là cố ý và tội phạm đã hoàn thành. Do đó, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành một công dân tốt, có ý thức chấp hành pháp luật, đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.
[4] Lời khai nhận tội của các bị cáo là hoàn toàn phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng cùng với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
[5] Với những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử kết luận hành vi phạm tội của các bị cáo Nguyễn Văn L, Võ Thị S, Lâm Thị H3 và Nguyễn Thị Ngọc T2 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự.
[6] Trong vụ án này, các bị cáo đã cùng tham gia thực hiện tội phạm nhưng không có sự cấu kết chặt chẽ với nhau, không có sự phân công, bàn bạc, sắp đặt vai trò cụ thể cho nhau và cũng không chịu sự điều khiển của người nào nên đây được xem là dạng đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên, xét về hành vi, tính chất, mức độ và hậu quả trong việc phạm tội của từng bị cáo có khác nhau cho nên cần xem xét đối với từng bị cáo.
[7] Đối với bị cáo Nguyễn Văn L là người đã chủ động rủ các bị cáo tham gia đánh bài tứ sắc ăn thua bằng tiền nên bị cáo phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án. Các bị cáo khác gồm Võ Thị S, Lâm Thị H3, Nguyễn Thị Ngọc T2 mặc dù biết hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố tình thực hiện nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm là đồng phạm với vai trò thực hành trong vụ án.
[8] Riêng bị cáo Võ Thị S đã bị Công an huyện L, tỉnh Đồng Tháp ra quyết định xử phạt hành chính với số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền vào 13/01/2023, đã nộp phạt xong ngày 06/02/2023. Tuy nhiên, đến ngày 04/3/2023 thì bị cáo lại tiếp tục có hành vi đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền. Chứng tỏ việc xử lý hành chính là chưa đủ sức răn đe đối với bị cáo nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian cải tạo, sửa chữa bản thân trở thành một công dân có ý thức chấp hành pháp luật.
[9] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Nguyễn Văn L, Lâm Thị H3, Nguyễn Thị Ngọc T2 không có tình tiết tăng nặng. Đối với bị cáo Võ Thị S đã từng bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên xác định hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật hình sự, do đó cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Võ Thị S.
[10] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo L2, H3 và T2 phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử cần xem xét áp dụng các tình tiết nêu trên để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
[11] Xét thấy các bị cáo Nguyễn Văn L, Lâm Thị H3, Nguyễn Thị Ngọc T2 có địa chỉ rõ ràng cùng với các tình tiết giảm nhẹ nêu trên nên không cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo thường trú giám sát, giáo dục cũng đủ để cho bị cáo rèn luyện, sửa chữa để trở thành người tốt, có ý thức chấp hành pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng thêm Điều 36 Bộ luật hình sự để xem xét xử phạt các bị cáo Nguyễn Văn L, Lâm Thị H3 và Nguyễn Thị Ngọc T2 bằng hình thức cải tạo không giam giữ.
[12] Theo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật hình sự, trong thời gian chấp hành án phải khấu trừ một phần thu nhập của các bị cáo từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Tuy nhiên, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không có căn cứ để khấu trừ thu nhập của các bị cáo. Xét thấy các bị cáo H3, T2 có đủ sức khỏe nên cần áp dụng khoản 4 Điều 36 Bộ luật hình sự để buộc bị cáo thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ, thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần. Riêng bị cáo Nguyễn Văn L thuộc trường hợp người cao tuổi, đang có bệnh trong người, khả năng lao động bị hạn chế nên không cần thiết áp dụng khoản 4 Điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo L.
[13] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo.
[14] Về trách nhiệm dân sự: Không có.
[15] Về xử lý vật chứng:
- Đối với số tiền 6.810.000 đồng thu giữ tại chiếu bạc là tiền mà các bị cáo dùng để đánh bạc nên cần tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước.
- Đối với 01 bộ bài từ sắc và 01 chiếc chiếu dùng để đánh bạc là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu, tiêu hủy.
- - Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh là tài sản của bị cáo T2, không liên quan gì đến vụ án nên cần phải trả lại cho bị cáo T2.
[16] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
[17] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát huyện C về tội danh, khung hình phạt, mức hình phạt và các vấn đề khác là có căn cứ và phù hợp nên chấp nhận.
[18] Trong vụ án này, các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc tại nhà anh Nguyễn Văn Bé T4 (là con của bị cáo L), thời điểm này anh T4 đi làm ở xa nên không biết. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét đối với anh T4.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 36, Điều 58 của Bộ luật hình sự.
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Đánh bạc”.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nhận được Quyết định thi hành án và Bản án.
- - Giao bị cáo Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp để giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 38, Điều 58 của Bộ luật hình sự.
- - Tuyên bố bị cáo Võ Thị S phạm tội “Đánh bạc”.
- - Xử phạt bị cáo Võ Thị S 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 36; Điều 58 của Bộ luật hình sự.
- - Tuyên bố bị cáo Lâm Thị H3 phạm tội “Đánh bạc”.
- - Xử phạt bị cáo Lâm Thị H3 09 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nhận được Quyết định thi hành án và Bản án.
- - Giao bị cáo Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp để giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- - Buộc bị cáo thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.
- - Bị cáo phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 36; Điều 58 của Bộ luật hình sự.
- - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T2 phạm tội “Đánh bạc”.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T2 09 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp nhận được Quyết định thi hành án và Bản án.
- - Giao bị cáo Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp để giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh Đồng Tháp trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
- - Buộc bị cáo thực hiện một số công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Thời gian lao động phục vụ cộng đồng không quá 04 giờ trong một ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.
- - Bị cáo phải thực hiện những nghĩa vụ quy định tại Luật thi hành án hình sự.
- Về hình phạt bổ sung: Không.
- Về trách nhiệm dân sự: Không.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu, sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 6.810.000 đồng (sáu triệu tám trăm mười nghìn đồng) được cho vào phong bì có dòng chữ CÔNG AN HUYỆN CAO LÃNH TỈNH ĐỒNG THÁP được dán kín có chữ ký ghi họ tên của Nguyễn Cao L3, Đào Văn S2 (chưa kiểm tra chất lượng bên trong phong bì).
- - Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) chiếc chiếu đã qua sử dụng (dùng để đánh bạc); 01 (một) bộ bài tứ sắc, đã qua sử dụng được dán kín niêm phong có chữ ký ghi họ tên Võ Thị S, Lâm Thị H3, Nguyễn Thị Ngọc T2, Nguyễn Văn L.
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị Ngọc T2 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh, đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong được cho vào phong bì có dòng chữ CÔNG AN HUYỆN CAO LÃNH CÔNG AN XÃ MỸ LONG được dán kín có đóng hình dấu tròn màu đỏ của Công an xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp và có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Thị Ngọc T2.
- (Vật chứng trên đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/11/2023).
- Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 21 và khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Lâm Thị H3 và Nguyễn Thị Ngọc T2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Nguyễn Văn L và bị cáo Võ Thị S được miễn nộp tiền án phí do thuộc trường hợp người cao tuổi.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Trường Chinh |
Bản án số 04/2024/HS-ST ngày 05/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tội đánh bạc (khoản 1 điều 321 bộ luật hình sự)
- Số bản án: 04/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc (Khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/01/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Le phạm tội “Đánh bạc”. - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Le 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Mỹ Long, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp nhận được Quyết định thi hành án và Bản án. - Tuyên bố bị cáo Võ Thị Sáu phạm tội “Đánh bạc”. - Xử phạt bị cáo Võ Thị Sáu 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án. - Tuyên bố bị cáo Lâm Thị Hạnh phạm tội “Đánh bạc”. - Xử phạt bị cáo Lâm Thị Hạnh 09 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Mỹ Long, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp nhận được Quyết định thi hành án và Bản án. - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Thắm phạm tội “Đánh bạc”. - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Thắm 09 tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã Bình Thạnh, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp nhận được Quyết định thi hành án và Bản án.
