TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 04/2024/DS-PT Ngày 09/01/2024 "V/v tranh chấp quyền sử dụng đất" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Hoài Thủy;
Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Luật;
Ông Trần Việt Trung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Trinh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thúy – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 01 năm 2024, tại Phòng xét xử số 03 - Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 74/2023/TLPT-DS ngày 08 tháng 11 năm 2023 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp về thừa kế tài sản”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2023/DS-ST ngày 21 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 78/2023/QĐ-PT ngày 05 tháng 12 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 177/2023/QĐ-PT ngày 19 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Lê Thị T; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
- - Bị đơn: Bà Phan Thị Hồng L; địa chỉ: Số nhà A đường P, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; địa chỉ: Thôn A, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị.
- Người đại diện: Ông Lê Cảnh B - Phó Chủ tịch UBND xã T; có mặt.
- - Ông Lê Bá Chiến T1; địa chỉ: Tổ D, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- - Bà Lê Thị D; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
- - Bà Lê Thị T2; địa chỉ: Tổ D, phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai.; có đơn xin xét xử vắng mặt.
- - Bà Lê Thị H; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; có mặt.
- - Ông Lê Bá H1; địa chỉ: Thôn B, xã T, thành phố P, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.
- - Ông Lê Bá D1, ông Lê Bá Đ; cùng địa chỉ: Số nhà A đường P, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của ông Lê Bá D1 và ông Lê Bá Đ: Bà Phan Thị Hồng L; địa chỉ: Số nhà A đường P, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng; có mặt.
- - Ông Lê Mậu T3; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; có đơn xin xét xử vắng mặt.
Người kháng cáo – Bị đơn: Bà Phan Thị Hồng L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 03/11/2022, biên bản hòa giải ngày 02/8/2022, ý kiến trình bày khác trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm bà Lê Thị T trình bày:
Bà Lê Thị C, sinh năm 1906 có chồng là ông Lê Cảnh L1, sinh năm 1909 là vợ chồng. Vợ chồng bà C và ông L1 sinh được hai người con là Lê Thị T và Lê Thị H2. Ông L1 qua đời khi bà T và bà H2 còn nhỏ nên chỉ có ba mẹ con bà C sống với nhau. Không có đất làm nhà ở nên bà C xin đất của thôn làm nhà và sinh sống tại Đ, thôn B, xã T là xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị từ khoảng năm 1960. Sau này nhà nước có chủ trương kê khai, đăng ký ruộng đất thì mẹ bà T được kê khai chủ sử dụng đất tên là Lê Thị C. Theo hồ sơ địa chính, thửa đất mẹ bà T làm nhà có tên là Lê Thị C, diện tích là 1.470 m², thửa đất số 48A, tờ bản đồ số 6 tại Sổ mục kê của Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, có vị trí như sau: Phía Nam giáp đường liên thôn; phía Bắc giáp đất ông Lê Mậu N; phía Đông giáp đất bà Lê Thị B1; phía Tây giáp đất ông Lê Cảnh T4. Khoảng vào năm 1983, người em họ gọi mẹ bà T bằng cô tên là Lê Bá Y, không có đất làm nhà nên xin nhờ mẹ bà T làm một ngôi nhà cấp 4 trên phần đất nói trên để vợ chồng ông Y sinh sống. Ông Y có vợ là bà Phan Thị Hồng L. Bà L sống cùng ông Y trong căn nhà làm trên đất của mẹ bà T. Năm 1996 ông Lê Bá Y chết, mẹ bà T là bà Lê Thị C cũng chết vào năm 1996, ông Lê Bá Y chết trước mẹ bà T ba ngày. Sau khi ông Lê Bá Y chết, bà Phan Thị Hồng L sống ở đó khoảng hai năm. Vào năm 1998, bà L đưa con cái đi ở nơi khác, nay bà L sống ở Đà Nẵng. Bà L không còn nhu cầu sử dụng ngôi nhà này nửa từ năm 1998 cho đến nay. Hiện nay ngôi nhà của ông Y và bà L đã hư hỏng toàn bộ, không còn sử dụng được nửa. Ngày 01/8/2012 chị gái của bà T là bà Lê Thị H2 chết. Di sản mẹ bà T để lại là một ngôi nhà cấp 4, diện tích
35m², hiện nay đã xuống cấp, trị giá còn lại khoảng 20.000.000 đồng gắn liền với mảnh vườn có diện tích 1.470 m², có trị giá 80.000.000 đồng. Tổng trị giá cả nhà và đất mẹ bà T để lại có giá trị 100.000.000 đồng. Bà T là con gái còn lại duy nhất của bà Lê Thị C, nhiều năm qua bà T đã cố gắng làm các thủ tục giấy tờ để được công nhận quyền thừa kế di sản trên của mẹ bà T nhưng vẫn chưa hoàn thành vì lý do có tranh chấp với bà Phan Thị Hồng L, vợ của ông Lê Bá Y. Đối với bà Phan Thị L không có quan hệ gì với gia đình bà T vì lý do trước đây ông Lê Bá Y xin ở nhờ, nay ông Y đã chết, bà L là vợ ông Y không có nhu cầu sử dụng đất từ năm 1998 cho đến nay. Tài sản ông Y làm ra trên phần đất của mẹ bà T đã hư hỏng hoàn toàn nên không giao đất cho bà L sử dụng. Phần đất này để tạo ra của cải thờ cúng cha mẹ của bà T, nay bà T đã già, nhà của mẹ bà T ở trước đây đã xuống cấp, cần tu sửa để làm nhà thờ tự cho mẹ bà T và ông bà tổ tiên. Cha, mẹ, chồng của bà C đều chết trước bà C. Vì vậy, bà Lê Thị T đề nghị Tòa án giải quyết: Công nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 48A, tờ bản đồ số 6, diện tích 1448m² (nay có số thửa 317, tờ bản đồ số 19) ở Đ, thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị là di sản của bà Lê Thị C. Giao cho bà Lê Thị T và những người thừa kế của bà Lê Thị H2 gồm ông Lê Bá Chiến T1, bà Lê Thị D, bà Lê Thị T2, bà Lê Thị H và ông Lê Bá H1 quản lý, sử dụng và liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở gắn liền với đất theo quy định của pháp luật.
Tại văn bản trình bày ý kiến và đơn phản tố ngày 25/11/2022, tờ trình ngày 03/6/2023, phiên hòa giải ngày 02/8/2023 và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn bà Phan Thị Hồng L trình bày:
Theo sổ mục kê năm 1993, thửa đất 48A tờ bản đồ số 6, có diện tích 1470m² (Hệ tọa độ HN72) ở Đ, thôn B, chủ sử dụng là bà Lê Thị C đã sử dụng từ trước năm 1975. Nguồn gốc thửa đất này trước 1975 là của ông Lê Bá M (cha ruột bà Lê Thị C) tạo lập. Đến năm 1985, ông Lê Bá Y cháu nội ông Lê Bá M lập gia đình được bà C cho ông Lê Bá Y và vợ ông Y là bà Phan Thị Hồng L về làm nhà ở chung trên thửa đất này. Ngày 20/10/1996, bà C làm giấy chuyển quyền thừa kế đất cho cháu là ông Lê Bá Y được toàn quyền sử dụng 1270 m². Việc làm này đã được ông Lê Xuân T5 – Nguyên là Phó Chủ tịch UBND xã T (cũ) xác nhận là đúng sự thật. Ngày 03/11/1996, chồng bà L là ông Lê Bá Y bị tai nạn đột ngột chết, ba ngày sau tức là ngày 04/11/1996 bà Lê Thị C cũng chết. Ngày 26/4/1997, hai người con gái của bà C là bà Lê Thị H2 và Lê Thị T gửi đơn đến UBND xã cho rằng thửa đất trên là của mẹ bà H2 và bà T, nên dẫn đến tranh chấp đất đai kéo dài và không làm được thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Từ năm 1997 đến năm 2005, tranh chấp giữa bà L với bà T và bà H2 liên tục xảy ra, Ủy ban nhân dân xã T cũ đã liên tục tiến hành
hòa giải tranh chấp nhưng không thành. Bà L cho rằng mặc dù chồng bà L là ông Lê Bá Y đã chết nhưng bà L là vợ của ông Y và các con ông Y vẫn được xem xét để giải quyết thủ tục đất đai theo quy định của pháp luật và bà L không tranh chấp gì với bà T và bà H2. Vì vậy, bà L đề nghị Tòa án giải quyết nếu Giấy nhượng thừa kế đất của bà Lê Bá Thị C1 lập ngày 20/10/1996 được UBND xã T xác nhận ngày 30/10/1996 là có hiệu lực thì công nhận cho bà Phan Thị Hồng L được quyền sử dụng toàn bộ diện tích đất theo kết quả đo đạc là 1448m², thửa số 48 tờ bản đồ số 06, tại đội 6, thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị là hợp pháp. Nếu Giấy nhượng thừa kế đất của bà Lê Bá Thị C1 lập ngày 20/10/1996 được UBND xã T xác nhận ngày 30/10/1996 vô hiệu thì giao toàn bộ thửa đất đang tranh chấp cho bà T và các con của bà H2 chứ không chia thửa đất trên ra làm hai hoặc ba phần để phân chia cho các bên đang tranh chấp như ý kiến của các con của bà H2.
Tại công văn số 08/CV-UBND ngày 13/01/2023, UBND xã T trình bày: UBND xã T không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T và không có tài liệu gì cung cấp cho Tòa án.
Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 23/11/2022, phiên hòa giải ngày 02/8/2023 và tại phiên tòa sơ thẩm, bà Lê Thị H trình bày: Di sản thừa kế là quyền sử dụng đất 1448m² của bà Lê Thị C1 chết để lại bà H có nguyện vọng nhận phần di sản thừa kế của bà C1 thừa kế lại cho bà Lê Thị H2 (bà H2 là mẹ của bà H). Liên quan đến giấy nhượng thừa kế đất lập ngày 20/10/1996 được UBND xã T xác nhận ngày 30/10/1996 là do ông Y viết và bảo bà C1 lăn tay để gửi sang Mỹ xin tiền của em bà C1 đang ở Mỹ. Sau khi bà C1 lăn tay vào tờ giấy này thì vợ chồng bà L đưa đến UBND xã T ký xác nhận. Theo bà H giấy nhượng thừa kế đất do bà C1 lập ngày 20/10/1996 không có giá trị, vì lúc đó bà C1 đã già yếu, ốm đau, không còn minh mẩn, khi nhớ khi quên nên không thể nhận thức được các vấn đề trong giấy nhượng thừa kế do ông Y lập ra. Các con của bà C1 không biết và không đồng ý. Trên thửa đất này bà H có canh tác trồng rau màu một thời gian, sau đó bà H không trồng nữa và giao lại cho các con của bà T sử dụng. Bà H đồng ý chia thửa đất có diện tích là 1448m2 ra làm ba phần, trong đó giao cho bà L một phần, giao cho bà T một phần, phần còn lại là những người thừa kế của bà Lê Thị H2, gồm Lê Bá Chiến T1, Lê Thị D, Lê Thị T2, Lê Thị H và Lê Bá H1. Nếu bà L không đồng ý thì đề nghị Tòa án xác định quyền sử dụng đất 1448m2, thửa số 48 tờ bản đồ số 06, tại đội 6, thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị là di sản của bà C1 và giao toàn bộ thửa đất này cho những người thừa kế của bà C1 quản lý, sử dụng.
Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 26/11/2022 và tại phiên tòa, bà Lê Thị D trình bày: Di sản thừa kế là quyền sử dụng đất là 1448m² của bà Lê Thị C1 chết để lại bà
D có nguyện vọng nhận phần di sản thừa kế của bà C1 thừa kế lại cho bà Lê Thị H2 (bà H2 là mẹ của bà D). Nay mẹ bà D đã chết nên bà D có nguyện vọng nhận phần thừa kế của mẹ bà D từ bà ngoại bà D để lại. Giấy nhượng thừa kế đất lập ngày 20/10/1996 được UBND xã T xác nhận ngày 30/10/1996 là do ông Y viết ra và bảo bà C1 lăn tay để gửi sang Mỹ xin tiền của em bà C1 đang ở Mỹ. Sau khi bà C1 lăn tay vào tờ giấy này thì vợ chồng bà L đưa đến UBND xã T ký xác nhận. Theo bà D giấy nhượng thừa kế đất do bà C1 lập ngày 20/10/1996 không có giá trị vì lúc đó bà C1 đã già yếu, ốm đau, không còn minh mẫn, khi nhớ khi quên nên không thể nhận thức được các vấn đề trong giấy nhượng thừa kế do ông Y lập ra. Các con của bà C1 không biết và không đồng ý. Bà D đồng ý chia thửa đất có diện tích là 1448m2 ra làm ba phần, trong đó giao cho bà L một phần, giao cho bà T một phần, phần còn lại là những người thừa kế của bà Lê Thị H2, gồm: Lê Bá Chiến T1, Lê Thị D, Lê Thị T2, Lê Thị H và Lê Bá H1. Nếu bà L không đồng ý thì đề nghị Tòa án xác định quyền sử dụng đất 1448m2, thửa số 48 tờ bản đồ số 06, tại đội 6, thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị là di sản của bà C1 và giao toàn bộ thửa đất này cho những người thừa kế của bà C1 quản lý, sử dụng.
Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 25/11/2022 của ông Lê Bá Chiến T1; văn bản trình bày ý kiến ngày 26/11/2022 của ông Lê Bá H1; văn bản trình bày ý kiến ngày 26/11/2022 của bà Lê Thị T2 đều trình bày: đề nghị Tòa án chia thửa đất có diện tích là 1448m² của bà Lê Thị C1 ra làm ba phần, trong đó giao cho bà L một phần, giao cho bà T một phần, phần còn lại là những người thừa kế của bà Lê Thị H2, gồm Lê Bá Chiến T1, Lê Thị D, Lê Thị T2, Lê Thị H và Lê Bá H1. Do điều kiện ở xa nên họ đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt.
Tại phiên hòa giải ngày 02/8/2023 và tại phiên tòa, ông Lê Mậu T3 trình bày: Đối với thửa đất 1448m² thuộc thửa đất số 48A, tờ bản đồ số 6 tại sổ mục kê của Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thời gian trước đây ông T3 trồng lúa và hoa màu. Từ năm 2016 đến nay ông T3 trồng tràm, sau đó ông T3 đã khai thác và trồng mới, hiện nay số cây tràm ông T3 đang trồng khoảng được 08 tháng tuổi. Quá trình sử dụng đất nhà nước có thu ở ông T3 một số loại thuế và phí sử dụng đất, ông T3 nộp tiền mặt tại đội F, thôn B, xã T.
Tại đơn phản tố và đề nghị ý kiến độc lập ngày 01/01/2023 ông Lê Bá D1 và ông Lê Bá Đ đều trình bày: Năm 1996, ba của ông D1 và ông Đ là ông Lê Bá Y chết. Năm 1998, nhà của ông Y và bà L bị hư hỏng nên bà L đưa ông D1 và ông Đ lên sống tại nhà ông, bà ngoại ở khu vực B, khu phố G, phường B, thị xã Q. Năm 2000, bà L về xây một căn nhà cấp 4 làm nơi thờ tự và chốn đi về chăm sóc đất vườn để tạo thêm thu nhập. Năm 2005, bà Lê Thị T xâm chiếm vào đất vườn do có quyết định của
UBND xã T phân chia đất cho bà T. Bà L đã làm đơn gửi nhiều cơ quan từ xã đến huyện để giải quyết nhưng không lấy lại được đất. Mặc dù ông Y là ba của ông D1 và ông Đ đã chết nhưng mẹ và anh em ông D1 và ông Đ có đủ điều kiện đề nghị Tòa xem xét công nhận cho gia đình ông D1 và ông Đ được quyền sử dụng 1270m² đất thuộc thửa đất số 48A, tờ bản đồ 06, ở đội F, thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị là hợp pháp.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2023/DS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị quyết định:
Căn cứ khoản 5, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, các Điều 147, 157, 158, 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 131, 136, 146, 655 của Bộ luật Dân sự năm 1995; Điều 73 Luật Đất đai 1993; Điều 28 Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ; khoản 1, 3, 5 mục A phần III; khoản 1, 2, 3 mục B phần III Thông tư số: 1411/TT-CC ngày 03/10/1996 của Bộ Tư pháp; khoản 2 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Tăng . Công nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 48A, tờ bản đồ số 6, diện tích 1448m² (nay số thửa 317, tờ bản đồ số 19) ở đội F, thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị là di sản của bà Lê Thị C1. Giao cho bà Lê Thị T và những người thừa kế của bà Lê Thị H2 gồm ông Lê Bá Chiến T1, bà Lê Thị D, bà Lê Thị T2, bà Lê Thị H và ông Lê Bá H1 quản lý, sử dụng và liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở gắn liền với đất theo quy định của pháp luật (có sơ đồ hiện trạng thửa đất kèm theo bản án).
- Thửa đất có vị trí: phía Bắc giáp mương nước và đất của ông Lê Minh H3; phía Nam giáp đường khu vực; phía Tây giáp đất bà Trần Thị P và một phần giáp mương nước; phía Đông giáp đất ông Lê Mậu N và đất ông Lê Minh H3.
- - Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Phan Thị Hồng L về việc đề nghị Tòa án công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 1448m², thửa đất số 48A tờ bản đồ số 6 (nay số thửa 317, tờ bản đồ số 19) tại Đội 6, thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị cho bà Phan Thị Hồng L là hợp pháp.
- - Buộc bà Phan Thị Hồng L phải tháo dỡ ngôi nhà của bà L đã xây dựng trên đất của bà Lê Thị C1 vào năm 2000, có diện tích là 28 m² và 01 am thờ, 01 giếng nước để khôi phục lại tình trạng ban đầu.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về phần chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 28/9/2023, bị đơn bà Phan Thị Hồng L kháng cáo toàn bộ Bản án sơ thẩm số 28/2023/DS-ST ngày 21/9/2023 của TAND huyện Triệu Phong, đề nghị TAND tỉnh Quảng Trị công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích 1.270m2, thửa đất số 48A, tờ bản đồ số 06 theo giấy nhượng thừa kế đất lập ngày 20/10/1996 mà bà C1 đã chuyển giao cho chồng bà L là ông Lê Bá Y.
Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo; bị đơn giữ nguyên ý kiến của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của người tham gia tố tụng và phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán cấp phúc thẩm đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý phúc thẩm cho đến trước khi mở phiên tòa. Trình tự thủ tục thời hạn được đảm bảo. Việc chuyển hồ sơ cho VKS nghiên cứu đúng quy định tại Điều 285, 286. 287, 290, 292 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Người tham gia tố tụng thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng khoản 1 Điều 308 BLTTDS năm 2015 không chấp nhận kháng cáo của bị đơn giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 28/2023/DS-ST ngày 21/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
Về án phí: Bị đơn phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Xác định quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Lê Thị T khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn bà Phan Thị Hồng L công nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất thửa đất số 48A, tờ bản đồ số 6, diện tích 1448m² (nay có số thửa 317, tờ bản đồ số 19) ở Đ, thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị là di sản của bà Lê Thị C1. Giao cho bà Lê Thị T và những người thừa kế của bà Lê Thị H2 gồm ông Lê Bá Chiến T1, bà Lê Thị D, bà Lê Thị T2, bà Lê Thị H và ông Lê Bá H1 quản lý, sử dụng và liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục
cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở gắn liền với đất theo quy định của pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ "Tranh chấp quyền sử dụng đất và tranh chấp về thừa kế tài sản” là chưa chính xác mà phải là quan hệ “Tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Triệu Phong theo quy định tại khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự là đúng pháp luật.
[1.2] Về thời hạn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị đơn bà Phan Thị Hồng L được thực hiện trong thời hạn kháng cáo, đảm bảo nội dung, hình thức theo quy định, bà L là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí phúc thẩm nên được Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
[1.3] Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn về việc công nhận quyền sử dụng thửa đất số 48A, tờ bản số 6, diện tích 1448m² (nay có số thửa 317, tờ bản đồ số 19) ở đội F, thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị thuộc quyền sử dụng của bà Phan Thị Hồng L là không đúng quy định của pháp luật mà đây chỉ là ý kiến của bị đơn.
[1.4] Đối với các đương sự vắng mặt tại phiên tòa phúc thẩm: Hội đồng xét xử thấy các đương sự đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai do đó căn cứ điểm b khoản Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt họ.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn:
[2.1] Về căn cứ pháp lý: Thửa đất số 48A, tờ bản đồ số 6, diện tích 1.470m², địa chỉ thửa đất: Đội 6, thôn B, xã T được kê khai, đăng ký, lập bản đồ địa chính năm 1994 theo Nghị định 64-CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ và quy chủ cho bà Lê Thị C1 tại sổ mục kê của Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị vào năm 1997. Nguồn gốc thửa đất được nguyên đơn và bị đơn thừa nhận do bà C1 sử dụng từ trước năm 1975.
- Quá trình sử dụng đất, bà C1 cùng với hai con là bà T và bà H2 sống trên thửa đất này, khi bà T và bà H2 đi lấy chồng thì bà C1 sống một mình trên thửa đất này. Sau khi bà C1 chết (04/11/1996) thì các con của bà T và bà H2 trồng màu, trồng lúa, trồng tràm trên thửa đất này từ đó đến nay.
- Năm 1985, ông Lê Bá Y (chồng bà L) xin bà C1 làm nhà ở trên đất của bà C1. Sau khi ông Y chết (01/11/1996), năm 1998 do lũ lụt nên bà L đưa các con lên sống tại khu vực B, Phường B, thị xã Q sau đó vào Đà Nẵng sinh sống. Năm 2000, bà L xây dựng một ngôi nhà trên thửa đất tranh chấp để thờ tự ông Y và các con của bà L, ông Y. Theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ ngôi nhà này bỏ hoang từ năm 2000 đến nay, ngôi nhà đã xuống cấp. Như vậy, từ năm 1998 đến nay, bà L và các con của
bà L không sinh sống trên thửa đất và không đăng ký, kê khai quyền sử dụng đất đối với thửa đất tranh chấp.
- Theo kết quả xác minh tại UBND xã T và lời trình bày của bà L: Bản đồ địa chính cũng như Sổ mục kê thì ông Lê Bá Y cũng như bà Phan Thị Hồng L không có tên đăng ký kê khai để quy chủ đối với thửa đất này cho ông Y và bà L.
- Đối với giấy nhượng quyền do bà C1 lập ngày 20/10/1996: Bà C1 không biết chữ nên theo quy định tại Điều 655 Bộ luật Dân sự 1995, tại Điều 28 Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 thì khi chứng thực di chúc đối với người không biết chữ thì phải có hai người làm chứng. Mặt khác, giấy nhượng quyền lập ngày 20/10/1996, ngày 30/10/1996 mới đưa đến UBND huyện T xác nhận là không đúng quy định của pháp luật. Tại thời điểm bà C1 thực hiện chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất cho ông Y thì bà C1 chưa được cấp giấy CNQSD đất. Do đó, giấy nhượng quyền ngày 20/10/1996 không có hiệu lực pháp luật.
Từ những phân tích trên, việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là đúng quy định của pháp luật. Do đó, không có cơ sở để chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí: Kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Bị đơn bà Phan Thị Hồng L có đơn xin miễn án phí với lý do là người cao tuổi, nên căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội miễn án phí cho bà Phan Thị Hồng L.
[4] Về chi phí tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ theo quy định của pháp luật.
[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Phan Thị Hồng L, giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 28/2023/DS-ST ngày 21/9/2023 của TAND huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
Căn cứ khoản 5, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, các Điều 147, 157, 158, 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 131, 136, 146, 655 của Bộ luật Dân sự năm 1995; Điều 73 Luật Đất đai 1993; Điều 28 Nghị định số 31/CP ngày 18/5/1996 của Chính phủ;
khoản 1, 3, 5 mục A phần III; khoản 1, 2, 3 mục B phần III Thông tư số:1411/TT-CC ngày 03/10/1996 của Bộ Tư pháp; khoản 2 Điều 24, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị Tăng . Công nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 48A, tờ bản đồ số 6, diện tích 1448m2 (nay số thửa 317, tờ bản đồ số 19) ở Đ, thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị là di sản của bà Lê Thị C1. Giao cho bà Lê Thị T và những người thừa kế của bà Lê Thị H2 gồm ông Lê Bá Chiến T1, bà Lê Thị D, bà Lê Thị T2, bà Lê Thị H và ông Lê Bá H1 quản lý, sử dụng và liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở gắn liền với đất theo quy định của pháp luật (có sơ đồ hiện trạng thửa đất kèm theo bản án).
Thửa đất có vị trí: phía Bắc giáp mương nước và đất của ông Lê Minh H3; phía Nam giáp đường khu vực; phía Tây giáp đất bà Trần Thị P và một phần giáp mương nước; phía Đông giáp đất ông Lê Mậu N và đất ông Lê Minh H3.
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Phan Thị Hồng L về việc đề nghị Tòa án công nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 1448m², thửa đất số 48A tờ bản đồ số 6 (nay số thửa 317, tờ bản đồ số 19) tại Đội 6, thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị cho bà Phan Thị Hồng L là hợp pháp.
- Buộc bà Phan Thị Hồng L phải tháo dỡ ngôi nhà của bà L đã xây dựng trên đất của bà Lê Thị C1 vào năm 2000, có diện tích là 28 m² và 01 am thờ, 01 giếng nước để khôi phục lại tình trạng ban đầu.
- Về án phí và chi phí tố tụng:
- - Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm và phúc thẩm cho bị đơn bà Phan Thị Hồng L.
- - Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Buộc bà Phan Thị Hồng L phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ số tiền là 4.226.000 đồng (bốn triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn đồng), số tiền này nguyên đơn bà Lê Thị T đã tạm nộp nên bà L phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà T số tiền 4.226.000 đồng (bốn triệu hai trăm hai mươi sáu nghìn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có
quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.
Những phần của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Hoài Thủy |
Bản án số 04/2024/DS-PT ngày 09/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất
- Số bản án: 04/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp di sản thừa kế là quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 09/01/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Thị T - Phan Thị Hồng L tranh chấp quyền sử dụng đất
