|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - LÀO CAI Bản án số 04/2026/HNGĐ- ST Ngày 07 tháng 01 năm 2026 Về việc “ Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - LÀO CAI
T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Đỗ Thị Lựa
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Duy Bình; 2. Ông Vũ Thanh Nguyên.
Thư ký phiên tòa: Ông Tráng Kháy Phìn - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 – Lào Cai tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 01 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Lào Cai tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 101/2025/TLST- HNGĐ ngày 08 tháng 10 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐXX ST- HNGĐ ngày 01/12/2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2025/QĐST- HNGĐ ngày 17/12/2025 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Lò Mùi L, sinh năm 1996. Địa chỉ: Thôn Thi, xã Chiềng Ken, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt có lý do.
- Bị đơn: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1989. Địa chỉ: Thôn Thi, xã Chiềng Ken, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt không có lý do.
- Người làm chứng: Anh Nguyễn Văn Hoàng, sinh năm 1987. Địa chỉ: Thôn Phúng, xã Chiềng Ken, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, lời khai và các tài liệu, chứng cứ kèm theo của chị Lò Mùi L trình bày, có Y cầu: Ngày 23/9/2013, chị đăng ký kết hôn với anh Hoàng Văn T tại UBND Chiềng Ken, huyện Văn Bàn - Nay là xã Chiềng Ken, tỉnh Lào Cai. Hạnh phúc được khoảng 07 năm đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do chị và anh T bất đồng quan điểm, phong cách lối sống. Tuy nhiên, anh T hứa sửa chữa nên chị tiếp tục hàn gắn chỉ được một thời gian ngắn lại tiếp tục phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên điều qua tiếng lại, cãi chửi nhau làm rạn nứt tình cảm. Chị tìm cách hàn gắn vợ chồng bằng cách nhường nhịn, khuyên nhủ nhiều lần nhưng anh T vẫn giữ nguyên phong cách uống rượu dẫn đến không làm chủ bản thân, chửi mắng, đe dọa chị. Mâu thuẫn giữa chị và anh T đã bị rạn nứt, không có cách nào hàn gắn tình cảm, gay gắt vào tháng 01/2025, nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã kéo dài, không hạnh phúc nên chị bỏ về nhà cha mẹ sinh sống. Trong thời gian này anh T đã hàn gắn bằng cách điện thoại, nhắn tin bảo chị về hàn gắn tình cảm. Tuy nhiên, chị không còn tình cảm với anh T, anh T níu kéo vì con để kéo dài thời gian không cần thiết tính đến nay ly thân khoảng 01 năm nên chị không có thai với anh T. Nay chị xác định, không còn tình cảm, không còn cách nào hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu không được Tòa chấp nhận Y cầu khởi kiện của chị, chị tiếp tục sống ly thân, nhất định không đoàn tụ vợ chồng với anh T. Đề nghị được ly hôn với anh Hoàng Văn T.
Về con: Chị và anh T có 01 con chung là cháu Hoàng Thị Kiều O, sinh ngày 18/01/2014, còn anh T có 02 con riêng là Hoàng Văn A, sinh ngày 14/6/2005; cháu Hoàng Văn Y, sinh ngày 16/9/2006, các cháu có sức khỏe phát triển tốt. Các con riêng của anh T đã trưởng T. Hiện cháu O đang do anh T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Nay, đề nghị Tòa giải quyết giao cháu O cho anh T tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi con cùng anh T để nuôi cháu O mỗi tháng 1.000.000đ/tháng đến khi đủ 18 tuổi.
Về tài sản - vay nợ: Chị Lò Mùi L xác định, chị vẫn giữ nguyên Y cầu khởi kiện. Chị không đề nghị Tòa giải quyết.
Bị đơn anh Hoàng Văn T trình bày: Anh công nhận chị L trình bày về thời gian kết hôn, lý do mâu thuẫn vợ chồng, thời gian sống ly thân phần trên là đúng chị L bỏ đi không sống cùng anh từ tháng 06/2025 không quan tâm đến anh. Mặc dù vậy, anh vẫn còn Y thương, muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, mục đích đoàn tụ thì anh chưa tìm ra được cách nào để chị L về chung sống xây dựng hạnh phúc với anh. Anh đề nghị Tòa giải quyết cho anh đoàn tụ vợ chồng với chị Lò Mùi L. Nếu chị L cương quyết không về chung sống cùng anh, anh đề nghị giải quyết theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa; căn cứ kết quả việc tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của kiểm sát viên; căn cứ các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1] Về Tố tụng: Theo đơn khởi kiện và các chứng cứ kèm theo chị Lò Mùi L Y cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn. Xét thấy, bị đơn anh Hoàng Văn T có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi cư trú tại thôn Thi, xã Chiềng Ken, tỉnh Lào Cai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8- Lào Cai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2025).
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lò Mùi L và anh Hoàng Văn T tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 23/9/2013 tại Uỷ ban nhân dân xã Chiềng Ken, huyện Văn Bàn - Nay là xã Chiềng Ken, tỉnh Lào Cai. Hạnh phúc được khoảng 07 năm đến năm 2023 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm, lối sống, thường xuyên điều qua tiếng lại, gay gắt nhất vào tháng 01/2025 chị L bỏ về nhà bố mẹ đẻ sống. Xét lý do chị L không nhất trí đoàn tụ vợ chồng xuất phát từ tình cảm đối với anh T không còn, chị cho rằng nếu không được Tòa chấp nhận Y cầu khởi kiện thì chị tiếp tục sống ly thân, nhất định không đoàn tụ vợ chồng với anh T. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh T đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử cần áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận Y cầu khởi kiện của chị L đề nghị được ly hôn với anh Hoàng Văn T.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 107, Điều 110 Luật hôn nhân gia đình. Khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 229 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận Y cầu khởi kiện của nguyên đơn xử: Chị Lò Mùi L được ly hôn với anh Hoàng Văn T. Quan hệ hôn nhân giữa chị Lò Mùi L và anh Hoàng Văn T chấm dứt kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Giao cháu Hoàng Thị Kiều O, sinh ngày 18/01/2014 cho anh Hoàng Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi đủ 18 tuổi. Chị Lò Mùi L có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi cháu Hoàng Thị Kiều O mỗi tháng 1.000.000đ/tháng cùng anh Hoàng Văn T cho đến khi cháu O đủ 18 tuổi.
- Về án phí: Miễn án phí phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo định kỳ cho cho chị Lò Mùi L và anh Hoàng Văn T.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Lào Cai (1); - VKSND khu vực 8 – Lào Cai(2); - Nguyên đơn ( 01); - Bị đơn ( 01); - Phòng THA Dân sự khu vực 8(1); - UBND xã Chiềng Ken( 1); - Lưu HS vụ án ( 02 ). |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Lựa |
Bản án số 04/2026/HNGĐ- ST ngày 07/01/2026 của Toà án nhân dân khu vực 8 - Lào Cai về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 04/2026/HNGĐ- ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/01/2026
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân khu vực 8 - Lào Cai
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
