Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 6 – NGHỆ AN

AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/KDTM - ST

Ngày: 30/9/2025

Về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 - NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Công Hưng

Các hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Bá Tấn – Ông Nguyễn Đình Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Tình - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 6 - Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Nghệ An tham gia phiên tòa: Ông Chu Văn Khoa - Chức vụ : Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 6 – Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 04/2025/TLST-KDTM ngày 04 tháng 7 năm 2025 về tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST - DS ngày 29 tháng 8 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 28/2025/QĐST-KDTM ngày 15 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Công ty TNHH Đ2

Địa chỉ: P606 T Tòa nhà S, đường N, phường T, thành phố Hà Nội

Đại diện theo pháp luật: Bà Lương Huyền C - Chức vụ: Giám đốc

Đại diện theo ủy quyền: Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố H (Tên viết tắt H2)

Địa chỉ trụ sở chính: B N, phường S, thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu Đ - Chức vụ: Tổng Giám đốc

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Mạnh H – Chức vụ: Giám đốc H2 - Phòng G - Chi nhánh N2;

Ông Nguyễn Mạnh H ủy quyền lại cho: Bà Lưu Lê Thùy D – Chuyên viên xử lý nợ - Phòng giao dịch Quán H – H2.(Có mặt)

- Bị đơn: Bà Lê Thị H1 - Sinh năm: 1978; Ông Trần Văn L - Sinh năm: 1976; Có cùng địa chỉ tại: Xóm B, xã B, tỉnh Nghệ An.(Vắng mặt lần 2 tại phiên toà không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 12 tháng 05 năm 2025 của nguyên đơn Công ty TNHH Đ2 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Bà Lê Thị H1 và ông Trần Văn L đã ký kết với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H – Chi nhánh N2 Hợp đồng tín dụng số 17998/21MB/HĐTD ngày 10/08/2021 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 17998/21MB/HĐTD/KUNN02 ngày 10/08/2022, cụ thể: Số tiền vay: 2.000.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai tỷ đồng); Thời hạn vay: 12 tháng, kể từ ngày 11/08/2022 đến ngày 10/08/2023; Mục đích sử dụng vốn: Bổ sung vốn lưu động kinh doanh hàng tạp hóa; Lãi suất trong hạn: 11,6%/năm. Lãi suất này được cố định trong suốt thời hạn vay. Lãi suất quá hạn: Bằng 150 % Lãi suất cho vay trong hạn, áp dụng đối với dư nợ gốc quá hạn kể từ thời điểm chuyển nợ quá hạn; Lãi suất chậm trả lãi: 10%/năm và có thể được H2 điều chỉnh theo quy định của H2 trên cơ sở phù hợp với quy định của N3 trong từng thời kỳ;

Tài sản bảo đảm cho các khoản vay trên là:

- Tài sản thứ nhất: Toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 201, tờ bản đồ số 58 địa chỉ: C (Nay là xóm B), xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 993158, Số vào sổ cấp GCN CH 01762 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp ngày 23/05/2017.

- Tài sản thứ hai: Toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 202, tờ bản đồ số 58 địa chỉ: C (Nay là xóm B), xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 01763, Số vào sổ cấp GCN CH 01762 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp ngày 23/05/2017.

Tài sản được thế chấp tại H2 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 17998/21MB/HĐBĐ (Số công chứng 2768, quyển số 08/2021/TP/CC-SCC/HĐGD) ngày 10/08/2021 giữa bên thế chấp là bà Lê Thị H1 và ông Trần Văn L với bên nhận thế chấp là H2 chi nhánh N2 tại Văn phòng C1, tỉnh Nghệ An. Tài sản đã được chứng nhận đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật.

Trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng nêu trên, bà Lê Thị H1 và ông Trần Văn L mới trả cho H2 với tổng số tiền 425.268.038 đồng (Trong đó: Nợ gốc: 250.000.000 đồng, L1 trong hạn là: 175.177.391 đồng, L1 quá hạn là: 90.647 đồng) và kể từ ngày 10/08/2023 đến nay bà Lê Thị H1 và ông Trần Văn L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho H2. Khi khoản vay của bà Lê Thị H1 và ông Trần Văn L phát sinh nợ quá hạn, H2 đã gửi thông báo và nhiều lần làm việc yêu cầu bà Lê Thị H1 và ông Trần Văn L trả nợ cho Ngân hàng nhưng bà Lê Thị H1 và ông Trần Văn L vẫn cố tình chây ỳ không thanh toán theo các điều khoản đã ký với Ngân hàng.

Ngày 13/12/2023, Ngân hàng H2 đã bán toàn bộ khoản nợ của bà Lê Thị H1 và ông Trần Văn L cho Công ty TNHH Đ2 theo Hợp đồng mua bán nợ số: 086.12.2023/HĐMBN ngày 13/12/2023 và Phụ lục đính kèm giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H – Chi nhánh N2 với Công ty TNHH Đ2. Theo đó Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H – Chi nhánh N2 đồng ý bán và Công ty TNHH Đ2 đồng ý mua (các) khoản nợ của khách hàng vay là bà Lê Thị H1 và ông Trần Văn L, cụ thể như sau: Toàn bộ khoản nợ phát sinh theo Hợp đồng tín dụng số 17998/21MB/HĐTD ngày 10/08/2021 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 17998/21MB/HĐTD/KUNN02 ngày 10/08/2022.

Căn cứ vào quy định của pháp luật, Công ty TNHH Đ2 kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H phát sinh từ Hợp đồng tín dụng số 17998/21MB/HĐTD ngày 10/08/2021, Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận số nợ 17998/21MB/HĐTD/KUNN02 ngày 10/08/2022 và các biện pháp bảo đảm kèm theo. Trong đó, có quyền thực hiện khởi kiện khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm tại Tòa án theo quy định pháp luật.

Quá trình xử lý khoản vay, Công ty TNHH Đ2 đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu bà Lê Thị H1 và ông Trần Văn L thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản vay cho Công ty TNHH Đ2 tuy nhiên bà Lê Thị H1, ông Trần Văn L không thực hiện. Tạm tính đến ngày 30/9/2025, bà Lê Thị H1, ông Trần Văn L còn nợ Công ty TNHH Đ2 với tổng số tiền là: 2.629.213.468đ(Hai tỷ sáu trăm hai mươi chín triệu hai trăm mười ba nghìn bốn trăm sáu mươi tám đồng); Trong đó: Nợ gốc là: 1.750.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn là: 46.822.610 đồng; Nợ lãi quá hạn và lãi chậm trả lãi là: 832.390.858 đồng. Nay Công ty TNHH Đ2 yêu cầu Tòa án buộc bà Lê Thị H1, ông Trần Văn L phải có nghĩa vụ thanh toán cho Công ty TNHH Đ2 số tiền trên.

Đề nghị Tòa án tiếp tục cho tính lãi theo đúng thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ của khoản vay cho đến ngày bà Lê Thị H1, ông Trần Văn L thực tế thanh toán hết nợ cho Công ty TNHH Đ2.

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật mà bà Lê Thị H1, ông Trần Văn L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Công ty TNHH Đ2 thì Công ty TNHH Đ2 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ cho Công ty TNHH Đ2, cụ thể: Thửa đất số 201, tờ bản đồ số 58 địa chỉ: C (Nay là xóm B), xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 993158, Số vào sổ cấp GCN CH 01762 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp ngày 23/05/2017 cho ông Trần Văn L, bà Lê Thị H1 và Thửa đất số 202, tờ bản đồ số 58 địa chỉ: C (Nay là xóm B), xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 01763, Số vào sổ cấp GCN CH 01762 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp ngày 23/05/2017 cho ông Trần Văn L, bà Lê Thị H1. Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 17998/21MB/HĐBĐ (Số công chứng 2768, quyển số 08/2021/TP/CC-SCC/HĐGD) ngày 10/08/2021 giữa bên thế chấp là bà Lê Thị H1 và ông Trần Văn L với bên nhận thế chấp là H2 chi nhánh N2 tại Văn phòng C1, tỉnh Nghệ An.

Trường hợp tài sản bảo đảm sau khi kê biên, phát mại không đủ trả nợ, thì bà Lê Thị H1 và ông Trần Văn L vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho Công ty TNHH Đ2 bằng nguồn thu và các tài sản hợp pháp khác cho đến trả hết các khoản nợ.

Quá trình xem xét thẩm định tại chổ đối với tài sản đảm bảo cho khoản vay cụ thể như sau:

*Về đất đai: Sau khi tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, đo vẽ, kiểm tra thực địa đối với Thửa đất số 201, tờ bản đồ số 58 có diện tích 285.8m² (đất ở) và Thửa đất số 202, tờ bản đồ số 58 diện tích 200m² (đất ở) thì các cạnh và diện tích của 02 thửa đất không thay đổi so với hồ sơ kỹ thuật đất và bản vẽ được mô tả trong 02 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo đại diện Ủy ban nhân dân xã B, tỉnh Nghệ An và cán bộ phòng kinh tế Ủy ban nhân dân xã B cho biết, đất sử dụng đúng mục đích, không có tranh chấp với các hộ tiếp giáp liền kề.

* Về tài sản: Tài sản gắn liền với 02 thửa đất là do vợ chồng bà Lê Thị H1 và ông Trần Văn L xây dựng gồm: 01(Một) nhà cấp bốn 03 gian chiều dài 11m, chiều rộng 6m, diện tích là 66m². Hệ thống mái tôn tráng kẽm trước hai nhà có tổng diện tích 117.06m². 01(Sân) lát gạch men chống trơn có tổng diện tích 122m². 01(Một) nhà bếp và nhà ăn lợp mái tôn xốp chống nóng có tổng diện tích 74.62m². 01(Một) nhà tắm + nhà vệ sinh tự hủy đổ trần phía bên phải nhà cấp bốn ba gian có diện tích 16m². Hệ thống cổng gồm: 02 (Hai) trụ cổng có kích thước 0.5m x 0.5m x 2.6m, tổng chiều dài 02 trụ là 5.2m; Phía trên 02 trụ cổng có đổ mái bê tông có chiều dài 4.8m, chiều rộng 1m, diện tích 4.8m². 02(Hai) cánh cổng hàn bằng thép hộp có chiều cao 2.5m, có tổnh chiều rộng hai cánh là 3.08m, có tổng diện tích là 7.7m². Hệ thống tường bao của thửa đất xây bằng táp lô có chiều dài 24.9m, chiều cao 1.4m, tổng diện tích là 34.86m².

Bị đơn bà Lê Thị H1 có đến Tòa án làm việc bà thừa nhận hợp đồng vay, số tiền vay, lãi suất vay, Hợp đồng thế chấp, tài sản thế chấp của vợ chồng đúng như đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày nhưng do không thoả thuận được với đại diện theo uỷ quyền của Nguyên đơn về việc xin giảm số tiền phải trả nên bà H1 không ký bất kỳ một văn bản nào khi làm việc với Tòa án.

Bị đơn ông Trần Văn L đã được Tòa án triệu tập hợp nhưng vắng mặt tại các buổi làm việc và tại phiên tòa nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến và xem xét đến nguyện vọng của ông L để lưu tại hồ sơ vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 6 – Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật và quan điểm giải quyết vụ án:

Về phần thủ tục tố tụng: Về thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thu thập đầy đủ chứng cứ. Tại phiên toà hôm nay Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng và đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc tống đạt các văn bản cho các đương sự tham tố tụng thực hiện đúng quy định bảo đảm quyền lợi nghĩa vụ của họ. Thành phần Hội đồng xét xử đúng theo quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Việc chấp hành pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn Công ty TNHH Đ2 đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình; Bị đơn bà Lê Thị H1, ông Trần Văn L không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình. Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng nhưng đến nay bà H1, ông L vẫn vắng mặt. Do vậy, Tòa án xét xử vụ án vắng mặt bà H1, ông L là có căn cứ và đúng theo quy định của Pháp luật.

Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 30, 39, 147, 227, 228 và 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điều 35 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025;

Căn cứ các Điều 280, 299, 303, 308, 317, 319, 321, 323, 357, 365, 450, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ – HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Căn cứ Nghị định số 21/2021/NĐ - CP ngày 19/3/2021 của Chính Phủ quy định thi hành bộ luật dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Đ2
  2. Buộc bà Lê Thị H1, ông Trần Văn L phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Công ty TNHH Đ2 toàn bộ số tiền nợ gốc và nợ lãi tạm tính đến ngày 30/9/2025 theo Hợp đồng tín dụng số 17998/21MB/HĐTD ngày 10/08/2021 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 17998/21MB/HĐTD/KUNN02 ngày 10/08/2022 đã ký kết là: 2.629.213.468 đồng (Trong đó: Nợ gốc là: 1.750.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn là: 46.822.610 đồng; Nợ lãi quá hạn và lãi chậm trả lãi là: 832.390.858 đồng).

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật nếu bà Lê Thị H1, ông Trần Văn L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ cho Công ty TNHH Đ2 thì Công ty TNHH Đ2 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ cho Công ty TNHH Đ2, cụ thể là tài sản sau: Thửa đất số 201, tờ bản đồ số 58 địa chỉ: C (Nay là xóm B), xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 993158, Số vào sổ cấp GCN CH 01762 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp ngày 23/05/2017 cho ông Trần Văn L, bà Lê Thị H1 và Thửa đất số 202, tờ bản đồ số 58 địa chỉ: C (Nay là xóm B), xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 01763, Số vào sổ cấp GCN CH 01762 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp ngày 23/05/2017 cho ông Trần Văn L, bà Lê Thị H1. Theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 17998/21MB/HĐBĐ (Số công chứng 2768, quyển số 08/2021/TP/CC-SCC/HĐGD) ngày 10/08/2021 giữa bên thế chấp là bà Lê Thị H1 và ông Trần Văn L với bên nhận thế chấp là H2 chi nhánh N2 tại Văn phòng C1, tỉnh Nghệ An.

Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp nêu trên sẽ được thanh toán toàn bộ nợ trong theo Hợp đồng tín dụng số 17998/21MB/HĐTD ngày 10/08/2021 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 17998/21MB/HĐTD/KUNN02 ngày 10/08/2022, nếu không đủ trả nợ thì đề nghị cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản khác của bị đơn để trả nợ cho nguyên đơn. Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp sau khi trả nợ mà vẫn còn dư thì bà H1, ông L được nhận lại số dư đó.

Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn tự nguyện chịu chi phí tố tụng xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp nên đề nghị không xem xét

Về án phí: Buộc bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật tranh chấp: Tranh chấp giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H – Chi nhánh N2 và bà Lê Thị H1, ông Trần Văn L – Địa chỉ: Xóm B, xã B, tỉnh Nghệ An là tranh chấp kinh doanh thương mại thuộc thẩm quyền(Tranh chấp Hợp đồng tín dụng, thế chấp), bị đơn có địa chỉ tại: xã B, tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền của Toà án nhân dân Khu vực 6 – Nghệ An theo quy định tại khoản 1 Điều 30, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về việc vắng mặt của bị đơn:

Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng yêu cầu ông L, bà H1 có mặt tại tòa án để giải quyết, nhưng ông L không chấp hành, không hợp tác, còn bà H1 có đến Tòa án làm việc nhưng do không thoả thuận được với Đại diện theo uỷ quyền của Nguyên đơn, nên bà H1 đã không viết, không ký bất kỳ một văn bản nào do Toà án soạn thảo. Do đó Tòa án đã lập biên bản theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự làm cơ sở để giải quyết vụ án.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Giấy triệu tập phiên tòa lần thứ nhất đối với các đương sự. Tại phiên tòa lần thứ nhất nguyên đơn có mặt, bị đơn ông Trần Văn L, bà Lê Thị H1 vắng mặt không có lý do, Hội đồng xét xử đã quyết định hoãn phiên tòa trong đó đã ấn định về thời gian tiếp tục xét xử vụ án. Tòa án tiếp tục tống đạt, hợp lệ Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy báo tham gia phiên tòa lần thứ hai cho ông L, bà H1. Tại phiên tòa lần thứ hai, bị đơn tiếp tục vắng mặt không có lý do, căn cứ điểm căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đối với bị đơn ông Trần Văn L, bà Lê Thị H1.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Về yêu cầu thanh toán nợ đối với Hợp đồng tín dụng:

Ngày 10/08/2021, bà Lê Thị H1, ông Trần Văn L ký với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H – Chi nhánh N2 Hợp đồng tín dụng số 17998/21MB/HĐTD ngày 10/08/2021 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 17998/21MB/HĐTD/KUNN02 ngày 10/08/2022.

Quá trình thực hiện hợp đồng, bà Lê Thị H1, ông Trần Văn L đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ như đã cam kết. Do đó đến ngày 10/08/2023 khoản nợ của Hợp đồng tín dụng số 17998/21MB/HĐTD ngày 10/08/2021 đã chuyển sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 10/08/2023 bà Lê Thị H1, ông Trần Văn L đã trả được cho Ngân hàng TMCP V số tiền nợ gốc: 250.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 175.177.391 đồng, N lãi quá hạn: 90.647 đồng; Tổng là: 425.268.038 đồng.

Ngày 13/12/2023 Ngân hàng H2 đã bán toàn bộ khoản nợ của bà Lê Thị H1 và ông Trần Văn L cho Công ty TNHH Đ2 theo Hợp đồng mua bán nợ số: 086.12.2023/HĐMBN ngày 13/12/2023 và Phụ lục đính kèm giữa Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H – Chi nhánh N2 với Công ty TNHH Đ2. Theo đó Ngân hàng H2 đã chuyển toàn bộ quyền sở hữu, quyền, quyền lợi, lợi ích của Ngân hàng H2 đối với toàn bộ khoản nợ của khách hàng vay là bà Lê Thị H1 và ông Trần Văn L cho Công ty TNHH Đ2 theo Hợp đồng tín dụng số 17998/21MB/HĐTD ngày 10/08/2021 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 17998/21MB/HĐTD/KUNN02 ngày 10/08/2022. Căn cứ vào quy định của pháp luật, Công ty TNHH Đ2 kế thừa toàn bộ quyền, nghĩa vụ của Ngân hàng H2, bao gồm quyền khởi kiện, quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ trả nợ, quyền xử lý tài sản bảo đảm cho đến khi giải quyết xong toàn bộ khoản nợ.

Tính đến ngày xét xử(ngày 30/09/2025) bà H1, ông L còn nợ Ngân hàng H2 số tiền: Nợ gốc: 1.750.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 46.822.610 đồng; Nợ lãi quá hạn và lãi chậm trả: 832.390.858 đồng. Tổng nợ là: 2.629.213.468 đồng.

[2.1] Xét thấy: Hợp đồng tín dụng số: 17998/21MB/HĐTD ngày 10/08/2021 giữa bà Lê Thị H1, ông Trần Văn L và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H – Chi nhánh N2 được lập thành văn bản, về hình thức của hợp đồng tuân thủ theo quy định tại Điều 119 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 98 Luật các tổ chức tín dụng 2010. Các bên tham gia ký kết có đủ năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự, việc ký kết hoàn toàn tự nguyện, mục đích vay vốn không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Thỏa thuận về lãi suất, phương thức trả nợ phù hợp với Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng và Nghị quyết 01/2019/NQ – HĐTP. Do đó, Hợp đồng tín dụng hợp pháp, phát sinh quyền nghĩa vụ đối với các bên. Quá trình thực hiện hợp đồng, bà H1, ông L vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 10/08/2023, tạm tính đến ngày 30/09/2025 bà H1, ông L còn nợ số tiền nợ gốc: 1.750.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 46.822.610 đồng; Nợ lãi quá hạn và lãi chậm trả: 832.390.858 đồng. Tổng nợ là: 2.629.213.468 đồng. Việc vi phạm này là căn cứ phát sinh trách nhiệm trả nợ của bà H1, ông L theo Điều 466 BLDS.

[2.2] Về Hợp đồng thế chấp tài sản: Để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ, ông Trần Đình Đ1 và bà Nguyễn Thị N1 đã thế chấp tài sản là: Thửa đất số 201, tờ bản đồ số 58 địa chỉ: C (Nay là xóm B), xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 993158, Số vào sổ cấp GCN CH 01762 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp ngày 23/05/2017 cho ông Trần Văn L, bà Lê Thị H1 và Thửa đất số 202, tờ bản đồ số 58 địa chỉ: C (Nay là xóm B), xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 01763, Số vào sổ cấp GCN CH 01762 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp ngày 23/05/2017 cho ông Trần Văn L, bà Lê Thị H1. Hợp đồng thế chấp được lập thành văn bản đều dựa trên cơ sở tự nguyện, các bên tham gia ký kết có đủ năng lực hành vi dân sự, không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội và được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật. Hợp đồng thế chấp phù hợp với Điều 317, 319 Bộ luật Dân sự 2015. Do đó, hợp đồng này hợp pháp, phát sinh hiệu lực ràng buộc, là cơ sở để xử lý tài sản bảo đảm khi nghĩa vụ vay không được thực hiện.

[2.3] Về Hợp đồng mua bán nợ: Sau khi bà H1, ông L vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng H2 ký Hợp đồng mua bán nợ số: 086.12.2023/HĐMBN ngày 13/12/2023 và Phụ lục hợp đồng mua bán nợ kèm theo, chuyển nhượng toàn bộ khoản nợ của khách hàng vay là bà Lê Thị H1 và ông Trần Văn L theo Hợp đồng tín dụng số 17998/21MB/HĐTD ngày 10/08/2021 và Đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 17998/21MB/HĐTD/KUNN02 ngày 10/08/2022 cho Công ty TNHH Đ2. Các hợp đồng này được lập thành văn bản, các bên đều là pháp nhân có quyền kinh doanh mua bán nợ, nội dung phù hợp với quy định pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó, Công ty TNHH Đ2 là chủ thể hợp pháp kế thừa quyền, nghĩa vụ liên quan đến khoản nợ, do vậy Công ty TNHH Đ2 có quyền khởi kiện yêu cầu bà H1, ông L thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết.

[2.4] Về tính hợp pháp của yêu cầu khởi kiện: Bà H1, ông L vi phạm nghĩa vụ trả nợ với số tiền nợ gốc và nợ lãi tổng cộng là: 2.629.213.468 đồng, vì vậy Công ty TNHH Đ2 yêu cầu Tòa án buộc bà H1, ông L trả nợ là có căn cứ pháp luật để chấp nhận.

[2.5]. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn tự nguyện chịu chi phí tố tụng xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản thế chấp nên miễn xét.

[2.6]. Về án phí: Yêu cầu của Nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn là ông Trần Văn L, bà Lê Thị H1 phải chịu án phí KDTM theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, trả lại cho Nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí 40.865.000 đồng đã nộp.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các khoản 1 Điều 30, 39, 147, 227, 228 và 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; điều 35 Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025;

Căn cứ các Điều 280, 299, 303, 308, 317, 319, 321, 323, 357, 365, 450, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 13 Nghị quyết 01/2019/NQ – HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Căn cứ Nghị định số 21/2021/NĐ - CP ngày 19/3/2021 của Chính Phủ quy định thi hành bộ luật dân sự về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự. Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Đ2.

  1. Buộc bà Lê Thị H1, ông Trần Văn L phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Công ty TNHH Đ2 tổng số tiền nợ gốc và nợ lãi tạm tính đến ngày 30/9/2025 là: 2.629.213.468đ(Hai tỷ sáu trăm hai mươi chín triệu hai trăm mười ba nghìn bốn trăm sáu mươi tám đồng), trong đó: Nợ gốc: 1.750.000.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 46.822.610 đồng; Nợ lãi quá hạn và lãi chậm trả: 832.390.858 đồng.
  2. Về xử lý tài sản bảo đảm: Trường hợp bà Lê Thị H1, ông Trần Văn L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Công ty TNHH Đ2 có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là: Thửa đất số 201, tờ bản đồ số 58 địa chỉ: C (Nay là xóm B), xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 993158, Số vào sổ cấp GCN CH 01762 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp ngày 23/05/2017 cho ông Trần Văn L, bà Lê Thị H1 và Thửa đất số 202, tờ bản đồ số 58 địa chỉ: C (Nay là xóm B), xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH 01763, Số vào sổ cấp GCN CH 01762 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh N cấp ngày 23/05/2017 cho ông Trần Văn L, bà Lê Thị H1.

    Những người sinh sống, quản lý, sử dụng các tài sản, công trình trên thửa đất thế chấp nêu trên có nghĩa vụ bàn giao cho cơ quan có thẩm quyền để thi hành án theo Luật thi hành án dân sự.

    Số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của bà Lê Thị H1, ông Trần Văn L đối với Công ty TNHH Đ2. Nếu số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ thanh toán toàn bộ khoản nợ thì Công ty TNHH Đ2 có quyền yêu cầu xử lý các tài sản khác thuộc sở hữu của bà Lê Thị H1, ông Trần Văn L để thu hồi đủ số tiền còn thiếu để trả nợ cho Công ty TNHH Đ2.

    Sau khi ông Trần Văn L, bà Lê Thị H1 hoàn thành nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Phát triển Thành phố H – Chi nhánh N2 có nghĩa vụ trả lại giấy tờ về tài sản thế chấp cho ông Trần Văn L, bà Lê Thị H1.

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp trong Hợp đồng tín dụng các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

  3. Về án phí: Bị đơn bà Lê Thị H1, ông Trần Văn L phải chịu án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm là 84.584.269đ(T mươi bốn triệu năm trăm tám mươi bốn nghìn hai trăm sáu chín đồng).

    Trả lại cho Công ty TNHH Đ2 tiền tạm ứng án phí số tiền 40.865.000đ(Bốn mươi triệu tám trăm sáu mươi lăm nghìn nghìn đồng) đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An (nay là Phòng thi hành án dân sự Khu vực 6 - Nghệ An) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006797 ngày 20/06/2025.

  4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

    Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

  5. Về vấn đề thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008 ( sửa đổi bổ sung 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6; Điều 7; Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008( sửa đổi bổ sung năm 2014).Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008 (sửa đổi bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

- Các đương sự;

- VKSND Khu vực 6 - NA;

- Thi hành án dân sự khu vực 6;

- TAND tỉnh Nghệ An;

- Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Công Hưng

9

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/KDTM - ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – NGHỆ AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 04/2025/KDTM - ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 6 – NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Công ty TNHH Đ2 với Lê Thị H1 và Trần Văn L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger