Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/KDTM-PT

Ngày 14-4-2025

V/v: Tranh chấp hợp đồng

thuê bãi đậu đỗ xe.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thưởng.

Các Thẩm phán: Bà Trần Thị Hồng.

Ông Lê Văn Hà.

- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Mỹ Nga - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Bà Nguyễn Thị Thanh

Bình - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong các ngày 09 và 14 tháng 4 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 15/2024/TLPT-KDTM ngày 25 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng thuê bãi đậu đỗ xe”.

Do Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số: 36/2024/KDTM-ST ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 182/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 12 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 14/2025/QĐPT-DS ngày 10-01-2025, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty cổ phần T1; địa chỉ: Lô I, đường N, Khu C, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn T; địa chỉ: Số B đường P, tổ G, phường H, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

  2. Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T2, địa chỉ: Số A đường N, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai.

    Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Đình H, chức vụ: Giám đốc; địa chỉ: Số A đường N, phường D, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

  3. Người kháng cáo: Bị đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Trình bày của đương sự:

Nguyên đơn Công ty cổ phần T1 trình bày: Công ty cổ phần T1 (viết tắt là: Công ty T1) trước đây là Công ty cổ phần T2 sau là Công ty cổ phần T3. Ngày 24-12-2013, Công ty T1 và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T2 (viết tắt là: Công ty T2) ký Hợp đồng số 157/HĐ - CT về việc thuê bãi đậu đỗ xe vận chuyển hành khách bằng taxi và các Phụ lục hợp đồng số 01/PL - HĐ ngày 25-4-2014, số 02/PL - HĐ ngày 02-10-2015, số 01/PL - HĐ ngày 22-4-2016 và số 01/PL - HĐ ngày 05-5-2021.

Năm 2022, thông qua ủy quyền cho Bến xe G, Công ty T1 đã ký với Công ty T2 về việc cho thuê bãi đậu đỗ xe vận chuyển hành khách bằng taxi gồm Hợp đồng kinh tế số 75/2022 - HĐKT ngày 17-5-2022, Hợp đồng thuê bãi đỗ xe số 10/2023-HĐTBĐX ngày 01-01-2023 và Hợp đồng thuê bãi đỗ xe số 034/2024 - HĐTBĐX ngày 01-01-2024.

Tại các Biên bản đối chiếu công nợ ngày 02-6-2024, Công ty T2 còn nợ Công ty T1 tiền thuê là 1.383.000.000 đồng. Mặc dù, Công ty T1 đã nhiều lần yêu cầu Công ty T2 thanh toán công nợ nhưng đến nay quá hạn cam kết theo Giấy xác nhận nợ và cam kết trả nợ (lần 3) ngày 01-5-2024 nhưng Công ty T2 vẫn chưa thanh toán dứt điểm khoản nợ trên. Đến thời điểm khởi kiện, Công ty T2 còn nợ tổng gốc và lãi là 2.955.739.046 đồng trong đó nợ gốc 1.383.000.000 đồng và nợ lãi với lãi suất 12% theo cam kết trả nợ, nợ lãi chậm trả theo Bộ luật dân sự 2015 là 10%/năm (khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015) là 1.572.739.046 đồng.

Ngày 12-9-2024, Công ty T1 gửi đơn sửa đổi một phần yêu cầu khởi kiện về phần lãi suất (giữ nguyên yêu cầu trả nợ gốc), buộc Công ty T2 phải trả cho Công ty T1 tiền lãi do chậm thanh toán tạm tính đến ngày 13-9-2024 là: 486.512.254 đồng và tiếp tục tính lãi đối với tiền nợ gốc chưa trả lãi suất 12%/năm và lãi chậm thanh toán với lãi suất theo quy định tại Điều 306 Luật thương mại là 14,1%/năm trên số nợ gốc chưa thanh toán đến thời điểm xét xử và lãi suất kể từ thời điểm sau ngày xét xử cho đến khi thi hành xong toàn bộ nghĩa vụ.

Bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T2 trình bày: Công ty T2 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Công ty T1 về yêu trả lãi suất, mà thừa nhận hiện nay Công ty T2 còn nợ Công ty T1 số nợ gốc là 1.383.000.000 đồng, vì:

  • Thứ nhất: Ông Nguyễn Đình H - Giám đốc Công ty T2 chưa gặp được người có thẩm quyền của Công ty T1 để hòa giải; bản thân ông H đã liên hệ nhiều lần nhưng Công ty T1 không gặp mặt, trao đổi mà tiến hành việc khởi kiện.
  • Thứ hai: Đây là hợp đồng kinh tế, quan hệ kinh doanh chứ không phải bên Công ty T2 vay tiền của Công ty T1. Hợp đồng kinh tế không có thỏa thuận trả lãi khi trễ hạn.
  • Thứ ba: Công ty T2 cam kết bán tài sản trả nợ nhưng trong tình trạng vợ chồng ly hôn, việc bán tài sản hoặc ngân hàng lại gặp khó khăn nhưng Công ty T1 vẫn ép buộc Công ty T2 trả nợ.
  • Thứ tư: Có bản xác nhận công nợ hàng tháng trong đó không tính lãi.
  • Thứ năm: Việc khởi kiện này cũng không phù hợp vì các bên đối tác chưa gặp nhau để đi đến thỏa thuận cuối cùng.

2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm:

Tại Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số: 36/2024/KDTM-ST ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

Áp dụng các Điều: 117, 398, 401, 468, 472, 481 Bộ luật dân sự 2015; khoản 2 Điều 3, Điều 6, Điều 306 Luật Thương mại hợp nhất năm 2019;

Căn cứ Điều 4, Điều 5; khoản 1 Điều 30; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các Điều: 97, 186, 227, 244, 266, 273,146, 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; và Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần T1. Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T2 thanh toán cho Công ty cổ phần T1 số tiền nợ gốc và nợ lãi là: 1.889.554.916 đồng.

Ngoài ra, Tòa án sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu án phí sơ thẩm, lãi suất chậm trả, quyền kháng cáo của các đương sự.

3. Về kháng cáo: Ngày 29 tháng 10 năm 2024, bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T2 kháng cáo, không chấp nhận toàn bộ tiền lãi phát sinh mà Tòa án cấp thẩm đã tuyên.

Nguyên đơn không kháng cáo; Viện Kiểm sát không kháng nghị.

4. Tại phiên tòa phúc thẩm:

Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

Bị đơn giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến như sau: Về việc tuân theo pháp luật của người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của người kháng cáo trong hạn luật định và đã nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét kháng cáo của bị đơn là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T2, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Về tiền nợ gốc: Nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận tính đến ngày 31-5-2024, bị đơn là Công ty T2 còn nợ Công ty T1 số tiền dịch vụ thuê bãi đậu đỗ xe với số tiền là 1.383.000.000 đồng theo Biên bản đối chiếu công nợ lập ngày 02-6-2024. Đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh. Tòa án cấp sơ thẩm buộc bị đơn trả nợ số tiền dịch vụ còn nợ nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị đơn về lãi suất thấy rằng: Biên bản đối chiếu công nợ ghi ngày 02-6-2024 là thời điểm 2 bên ký đối chiếu công nợ cuối cùng. Như vậy, kể từ ngày 03 tháng 6 năm 2024, Công ty T2 phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền nêu trên cho Công ty T1, nhưng đến nay Công ty T2 chưa thanh toán nên Công ty T2 phải trả tiền lãi suất cho Công ty T1 kể từ ngày tiếp theo của ngày 2 bên đối chiếu công nợ cuối cùng. Tiền lãi suất trên số nợ gốc được tính từ ngày 03-6-2024 cho đến ngày xét xử sơ thẩm, được quy định tại Điều 306 Luật Thương mại; Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTPngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm và Án lệ số 09 ngày 17 tháng 10 năm 2016 của Tòa án nhân dân tối cao. Theo đó, mức lãi suất được tính trên nợ gốc chậm trả theo lãi suất nợ quá hạn trung bình của ít nhất 03 Ngân hàng tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả.

Căn cứ vào các văn bản của 3 Ngân hàng là: Văn bản số 104/2024/LPBank.GL ngày 05 tháng 8 năm 2024 của Ngân hàng L; số 895/NHNo.GL - KHQL ngày 02 tháng 8 năm 2024 của Ngân hàng A và số 931/GLA - KT ngày 02 tháng 8 năm 2024 của Ngân hàng V. Do đó lãi suất nợ quá hạn trung bình của 03 ngân hàng là 14,1%/ năm tương ứng với 1,175%/tháng và 0,04%/ngày.

Thời gian chậm trả tính từ ngày 03-6-2024 đến ngày xét xử sơ thẩm 04-10-2024 (124 ngày) số tiền lãi là: 66.247.595 đồng.

Về tiền lãi chậm thi hành án: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm thì kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án là Công ty T2 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.

Từ những nhận định trên, Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty T2, sửa bản án sơ thẩm về phần lãi suất. Buộc Công ty T2 phải trả cho Công ty Al SeVen số tiền gốc 1.383.000.000 đồng và tiền lãi suất 66.247.595 đồng, tổng cộng là 1.449.247.595 đồng.

[3] Án phí kinh doanh, thương mại:

Công ty T1 phải chịu án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm đối với phần yêu cầu trả lãi suất không được Tòa án chấp nhận.

Công ty T2 phải chịu án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm tương ứng với phần nghĩa vụ trả tiền cho Công ty T1.

Công ty T2 không phải chịu án phí kinh doanh, thương mại phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự;

  1. Chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T2.
  2. Sửa một phần Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số: 36/2024/KDTM-ST ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai về phần lãi suất.

    Áp dụng các Điều: 117, 401, 468, 472, 481 của Bộ luật dân sự; Điều 306 Luật Thương mại;

    Căn cứ các Điều: 147, 148 của Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:

    2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần T1.

    Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T2 phải trả cho Công ty cổ phần T1 số tiền là: 1.449.247.595 đồng (trong đó, tiền gốc: 1.383.000.000 đồng, tiền lãi suất: 66.247.595 đồng).

    Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong khoản tiền nêu trên, bên phải thi hành án là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T2 còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  3. Án phí kinh doanh, thương mại:

    Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T2 phải chịu 55.477.428 đồng án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm.

    Buộc Công ty cổ phần T1 phải chịu 20.810.586 đồng án phí kinh doanh, thương mại sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền 45.557.390 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai số 000269 ngày 06-8-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku. Trả lại cho Công ty cổ phần T1 số tiền chênh lệch về án phí là: 24.746.804 đồng.

    Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T2 không phải chịu án phí kinh doanh, thương mại phúc thẩm; trả lại cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T2 số tiền 2.000.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo Biên lai số 000752 ngày 11 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Pleiku.

  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - TAND thành phố Pleiku;
  • - VKSND thành phố Pleiku;
  • - Chi cục THA dân sự thành phố Pleiku;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, Toà DS, VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa

Trần Văn Thưởng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/KDTM-PT ngày 14/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp hợp đồng thuê bãi đậu đỗ xe

  • Số bản án: 04/2025/KDTM-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê bãi đậu đỗ xe
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/04/2025
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận một phần kháng cáo của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên T2 Sửa một phần Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số: 36/2024/KDTM-ST ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai về phần lãi suất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger