Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HS-ST

Ngày: 04/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng;

Thẩm phán phiên toà: Ông Võ Nguyên Tùng;

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Võ Chùm, ông Nguyễn Ngọc Uyên và ông Nguyễn Hồng Thái.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Lê Trung Nghĩa – Kiểm sát viên trung cấp và bà Trần Thị Hải Y – Kiểm sát viên sơ cấp giúp việc cho Kiểm sát viên Trung cấp.

Ngày 04 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên tòa công khai để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 67/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 12 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

1. Trần Văn T; Sinh ngày 29 tháng 11 năm 1990, tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: thôn B, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Thợ hồ; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Trần Văn T1, sinh năm 1969 và bà: Lê Thị Q, sinh năm 1971; Có vợ Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1993 và 01 con, sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/4/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. Có mặt.

2. Lê Ngọc D; Sinh ngày 06 tháng 3 năm 1989, tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: thôn L, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; Giới tính: nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Lê Văn D1, sinh năm 1962 và bà Võ Thị C, sinh năm 1963; Vợ: Nguyễn Thị Thu H (đã ly hôn) và 02 con, lớn sinh năm 2011 và nhỏ sinh năm 2017. Tiền án, tiền sự: không. Nhân thân: Ngày 27/6/2017 bị Công an huyện T, tỉnh Phú Yên xử phạt vi phạm hành chính 500.000 đồng về hành vi dùng tay đánh người khác, đã

chấp hành xong. Bị can bị bắt tạm giam từ ngày 09/4/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh P. Có mặt.

· Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn T: Ông Nguyễn Hương Q1 - Luật sư Công ty L2, thuộc Đoàn luật sư tỉnh P. Có mặt.

· Người bào chữa cho bị cáo Lê Ngọc D: Bà Trần Thị Như T2 - Luật sư Văn phòng L3, thuộc Đoàn luật sư tỉnh P. Có mặt.

- Bị hại: Bùi Thái L, sinh năm 1994; Nơi cư trú: thôn B, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.

Đại diện theo uỷ quyền của bị hại Bùi Thái L: Ông Bùi C1, sinh năm 1967; bà Võ Thị Bạch T3, sinh năm 1963; bà Lê Thị H1, sinh năm 1996; anh Bùi Minh T4, sinh năm 1984; Đồng trú tại: thôn B, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; đều có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: chị Nguyễn Thị Hồng V, sinh năm 1993; Nơi cư trú: thôn B, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Bùi Thị Diệu L1, sinh năm 1987; Nơi cư trú: thôn B, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
  2. Lê Ngọc V1, sinh năm 1991; Nơi cư trú: thôn B, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
  3. Phạm Thị Thu H2, sinh năm 1987; Nơi cư trú: thôn B, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
  4. Cao Thanh T5, sinh năm 1974; Nơi cư trú: thôn B, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
  5. Hồ Thanh H3, sinh năm 1989; Nơi cư trú: thôn B, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.
  6. Nguyễn Ngọc D2, sinh năm 1987; Nơi cư trú: thôn C, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trưa ngày 03/12/2023, vợ chồng ông Bùi C1 và bà Võ Thị Bạch T3 cùng các con là anh Bùi Minh T4và anh Bùi Thái L; anh Nguyễn Ngọc D2, chị Nguyễn Thị Hồng V và một số người khác ăn nhậu và hát nhạc tại nhà ông C1 ở thôn B, xã A, huyện T.

Khoảng 15 giờ 00 phút cùng ngày, Trần Văn T đến nhà ông C1 để tìm chị Nguyễn Thị Hồng V (vợ T) thì thấy anh T4 đang hát cùng chị V và dùng tay đụng chạm vào vai của chị V nên T bực tức, về nhà lấy 01 cây gậy baton bằng kim loại bỏ vào túi quần và 01 cây rựa rồi điều khiển xe quay lại nhà ông C1 tìm đánh anh T4 nhưng không gặp, T đi đến nhà Lê Ngọc D kể lại sự việc cho D nghe, D lấy rựa

của T để ở nhà D rồi điều khiển xe mô tô chở T đến nhà ông C1. Khi chạy vào sân nhà ông C1, thấy anh T4 đang ngồi nhậu ở sân, T cầm gậy baton chạy đến đánh 01 cái trúng vai trái anh T4, anh T4 bỏ chạy, T được anh Nguyễn Ngọc D2 can ngăn ra ngoài cổng. Lê Ngọc D đến nói chuyện rồi dùng tay đánh vào mặt anh T4, anh T4 dùng tay đánh lại và cả hai ôm vật xuống đất thì được mọi người can ngăn. T cầm gậy baton chạy đến đánh 01 cái trúng tay trái anh T4 thì bà T3 đẩy T ra, T tiếp tục cầm gậy baton tiến đến đánh về phía anh T4, bà T3 đưa tay lên thì bị trúng vào cổ tay phải gây thương tích. Lê Ngọc D nhặt đoạn cây tre đánh về phía những người can ngăn thì được ông C1 đẩy ra phía ngoài cổng, T cầm gậy baton đánh 01 cái trúng vào trán ông C1 gây thương tích. T nhìn thấy anh L đang ôm can ngăn anh T4 ở phía trong cổng thì cầm gậy baton chạy đến đánh mạnh 02 cái từ trên xuống trúng vào đầu anh L. Anh T4 ôm anh L lùi vào phía trong thì T cầm gậy đánh 01 cái trúng vào hông trái anh T4 và 01 cái trúng vào vai phải của anh L. Sau đó, Lê Ngọc D lấy xe mô tô điều khiển chở T bỏ đi; anh L được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh B cấp cứu; ông C1 và bà T3 đến Trung tâm y tế huyện T điều trị thương tích.

Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 87 ngày 08/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Bùi Thái L tại thời điểm giám định là 77%, do vật tày tác động.

Các Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 40, 41 và 43 ngày 03/02/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Võ Thị Bạch T3 tại thời điểm giám định là 01%, của Bùi Minh T4 là 00%, của Bùi C1 là 06%.

Ông Bùi C1, bà Võ Thị Minh T6 và anh Bùi Minh T4 có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 04/CT-VKSPY-P1 ngày 30/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố các bị cáo Trần Văn T và Lê Ngọc D về tội Giết người theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo vẫn khai nhận tội như đã khai tại Cơ quan điều tra; thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố là đúng.

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội, vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như nội dung bản Cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên các bị cáo Trần Văn T và Lê Ngọc D phạm tội “Giết người”;

Về hình phạt: Áp dụng điểm n Khoản 1 Điều 123; Điểm b, s Khoản 1, 2 Điều 51; Điều 54; Điều 15; Khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự; phạt:

Bị cáo Trần Văn T từ 10 năm đến 11 năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 09/4/2024.

Bị cáo Lê Ngọc D từ 06 năm đến 07 năm tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 09/4/2024.

Về trách nhiện dân sự: Bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xét giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS; Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) cái rựa dài 73,5cm gồm phần cán bằng gỗ dài 47,5cm và phần lưỡi bằng kim loại dài 26cm; 01 (một) cây gậy baton bằng kim loại màu vàng có phần cán được bọc cao su màu đen, chiều dài khi gấp gọn là 24cm, chiều dài khi kéo ra là 62,5cm; 03 (ba) đoạn thanh tre bị gãy kích thước (29x2)cm; (28x2,3); (54x2,4)cm; Chất máu nâu thẫm được thấm trên tăm bông.

Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn T trình bày: Về tội danh, không có ý kiến gì. Tuy nhiên, sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường số tiền 400.000.000đ và được bị hại xin gảim nhẹ hình phạt; gia đình bị cáo có bác ruột có công cách mạng nên đề nghị hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp hơn Kiểm sát viên đề nghị.

Người bào chữa cho bị cáo Lê Ngọc D trình bày: Về tội danh, không có ý kiến gì. Tuy nhiên, xét bị cáo D tham gia với vai trò giúp sức, bị cáo D không trực tiếp gây thương tích cho bị hại; sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tác động gia đình bồi thường số tiền 100.000.000đ và được bị hại xin gảim nhẹ hình phạt; bị cáo có mẹ và bà ngoại có công cách mạng, được tặng huân chương kháng chiến; hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo là lao động chính nên đề nghị hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp hơn Kiểm sát viên đề nghị cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.2] Tại phiên toà, vắng mặt những người làm chứng. Nhưng xét thấy, những người này đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử, không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án. Do đó, chấp nhận ý kiến của các bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại và Kiểm sát viên, căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về nội dung: Sau khi tổng hợp, kiểm tra, đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện mọi chứng cứ đã thu thập được về vụ án, thấy rằng: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa đều phù hợp với nhau; phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm phạm tội, phù hợp với vật chứng thu giữ, các bản kết luận giám định và tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 03/12/2023, tại thôn B, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên, do ghen tuông vô cớ, Trần Văn T và Lê Ngọc D thống nhất tạo điều kiện để T dùng gậy baton đánh mạnh 02 cái vào vùng đầu của anh Bùi Thái L, anh L được đưa đi cấp cứu kịp thời nên không nguy hiểm đến tính mạng nhưng bị tổn thương cơ thể tỷ lệ 77%. Hành vi của các bị cáo có tính chất côn đồ nên bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố các bị cáo Trần Văn T, Lê Ngọc D về tội “Giết người” theo điểm n Khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng tội.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khoẻ của bị hại trái pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an – an toàn xã hội tại địa phương, nên cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo và cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, xét các bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “phạm tội chưa đạt”, được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 500.000.000 đồng (Thông 400.000.000 đồng, D 100.000.000 đồng) và được đại diện theo uỷ quyền của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo T đã đến cơ quan công an đầu thú; có Bác ruột là người có công cách mạng, tham gia dân công hoả tuyến; bị can D tham gia và hoàn thành nghĩa vụ quân sự; có mẹ, ông và bà ngoại có công với cách mạng. Các bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo T có nhân thân tốt, bị cáo D thực hiện với vai trò thứ yếu nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên xử phạt các bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật quy định để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà an tâm cải tạo, trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.

[4] Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Các bị cáo đã bồi thường cho bị hại

500.000.000đ. Bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường thêm khoản thiệt hại nào khác nên không xét giải quyết.

[5] Về xử lý vật chứng: 01 (một) cái rựa dài 73,5cm gồm phần cán bằng gỗ dài 47,5cm và phần lưỡi bằng kim loại dài 26cm; 01 (một) cây gậy baton bằng kim loại màu vàng có phần cán được bọc cao su màu đen, chiều dài khi gấp gọn là 24cm, chiều dài khi kéo ra là 62,5cm; 03 (ba) đoạn thanh tre bị gãy kích thước (29x2)cm; (28x2,3); (54x2,4)cm; Chất máu nâu thẫm được thấm trên tăm bông;; không sử dụng được và là vật trực tiếp liên quan đến tội phạm, không còn giá trị sử dụng, nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên tịch thu tiêu hủy theo Điểm a, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vật chứng vụ án có đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.

[6] Về án phí: Các bị cáo Trần Văn T, Lê Ngọc D bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn T, Lê Ngọc D phạm tội “Giết người”;

1. Về hình phạt: Áp dụng điểm n Khoản 1 Điều 123; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Khoản 1 Điều 54; Điều 15; Khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự; Xử phạt:

Bị cáo Trần Văn T – 09 (Chín) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 09/4/2024.

Bị cáo Lê Ngọc D – 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 09/4/2024.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm a, Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cái rựa dài 73,5cm gồm phần cán bằng gỗ dài 47,5cm và phần lưỡi bằng kim loại dài 26cm; 01 (một) cây gậy baton bằng kim loại màu vàng có phần cán được bọc cao su màu đen, chiều dài khi gấp gọn là 24cm, chiều dài khi kéo ra là 62,5cm; 03 (ba) đoạn thanh tre bị gãy kích thước (29x2)cm; (28x2,3); (54x2,4)cm; Chất máu nâu thẫm được thấm trên tăm bông;;

Vật chứng đều có đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/01/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh P với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.

3. Về án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Các bị cáo Trần Văn T, Lê Ngọc D mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

- Tòa án nhân dân cấp cao (1);

- VKSND cấp cao (1);

- VKSND tỉnh (2);

- PV 06 (1);

- PC 01 (1);

- Sở tư pháp (1);

- Cục THA tỉnh;

- Bị cáo;

- Người tham gia tố tụng;

- P.KTNV;

- Lưu AV, HS;

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Việt Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/HS-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về vụ án hình sự về tội giết người

  • Số bản án: 04/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Giết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T và đp
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger