|
.TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN TỈNH QUẢNG NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 04/2025/HS-ST Ngày: 28-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Mai Loan.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lưu Văn Thành.
- Bà Nguyễn Thị Tám.
Thư ký phiên tòa: bà Hồ Thị Hoàng Sa – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: ông Trần Hoàng Vũ, Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 01/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2025 và Thông báo thay đổi hình thức xét xử vụ án ngày 25/02/2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Huỳnh Anh T, sinh ngày 25/6/2002; nơi sinh: huyện D, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: khối phố M, thị trấn N, huyện D, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn T1 và bà Huỳnh Thị Mỹ L; bị cáo chưa có chồng con; tiền sự: không; tiền án: ngày 29/7/2022, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 82/2022/HS-ST, chấp hành xong vào ngày 15/9/2024. Nhân thân: ngày 28/11/2019, bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 123/2019/HS-ST, chấp hành xong; ngày 14/5/2020, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 40/2020/HS-ST, đã chấp hành xong. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 22/10/2024, chuyển tạm giam ngày 28/10/2024. Có mặt.
- Bị hại: anh Nguyễn Trường S, sinh năm 1970. Có mặt
Địa chỉ: thôn B, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: anh Văn Phú B, sinh năm 1982. Vắng mặt
Địa chỉ: khối phố M, thị trấn N, huyện D, tỉnh Quảng Nam.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 21/10/2024, bị cáo T điều khiển xe mô tô biển số 43D1-384.78 đi từ nhà đến huyện Q tìm nhà nào sơ hở trong việc quản lý tài sản để trộm cắp tài sản. Khi đến thôn B, xã Q, huyện Q, bị cáo T điều khiển xe đi trên đường bê tông, nhìn thấy bà Lương Thị Hồng V đang đứng trước nhà nên giả vờ hỏi “có bé H ở nhà không”, bà V trả lời “không có” nên bị cáo T tiếp tục điều khiển xe đi trên đường bê tông. Khoảng 17 giờ 54 phút cùng ngày, khi đến đoạn nhà anh Nguyễn Trường S, bị cáo T điều khiển xe mô tô đi qua khỏi cổng nhà anh S một đoạn rồi dừng xe lại, xuống xe đi bộ vào cổng nhà anh S, vừa đi vừa quan sát, không thấy ai nên đi thẳng vào hiên nhà, đến vị trí cửa “phòng lồi” bên trái (theo hướng đi từ ngoài vào), bị cáo nhìn thấy trên giường, gần cửa phòng có để 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A95 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S nên dùng tay cầm 02 điện thoại trên rồi đi nhanh ra vị trí để xe mô tô, điều khiển xe về nhà. Trên đường đi về, bị cáo T dừng xe lại kiểm tra điện thoại thì thấy trong ốp lưng điện thoại OPPO A3S có kẹp 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 02 đô la (Mỹ), bị cáo T vứt tờ tiền mệnh giá 02 đô la (không nhớ vị trí) sau đó về nhà. Sáng ngày 22/10/2024, anh S báo cáo Công an xã Q 1 vụ việc mất trộm các tài sản nêu trên. Khoảng 19 giờ 40 phút ngày 22/10/2024, bị cáo T đến Công an xã Q để tự thú về hành vi trộm cắp tài sản của mình.
Tại Kết luận định giá tài sản số 46/KL-HĐĐGTS ngày 24/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện Q kết luận: 01 (một) điện thoại di động OPPO A95, màu đen, số Imei: 860541057087456 có giá trị là 2.799.500 đồng; 01 (một) điện thoại di động OPPO A3S, màu đen, bị nứt màn hình, số Imei: 865720043943072, số máy: CPH1853 có giá trị là 250.700 đồng; 01 (một) ốp lưng điện thoại nhựa, màu trắng, kích thước 15,5cm x 7,5cm có giá trị 0 đồng; 01 (một) thẻ sim Viettel 4G, số thuê bao 0357605379 có giá trị 35.000 đồng; 01 tờ tiền mệnh giá 02 đô la Mỹ có giá trị 50.380 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá là 3.135.580 đồng.
Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A95, màu đen, đã qua sử dụng, số IMEI:860541057087456; 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A3S, màu đen, đã qua sử dụng, bị nứt màn hình, số IMEI: 865720043943072; số máy: CPH1853; 01 (một) ốp lưng điện thoại nhựa, màu trắng, kích thước 15,5 cm x7,5 cm; 01 (một) nón bảo hiểm, màu đen, có chữ NIKE trên nón; 01 (một) tờ tiền polyme, mệnh giá 500.000đ, số seri: QA15432186; 01 (một) thẻ sim Viettel 4G, số thuê bao 0357605379; 01 (một) xe mô tô, biển số 43D1-384.78, nhãn hiệu Nouvo, màu đen – xám - bạc; 01 (một) áo mưa tiện lợi màu xanh da trời; 01 (một) đôi dép màu trắng, trên quai dép có chữ DUWA FASHION.
Tại Cáo trạng số 03/CT-VKSQS ngày 06 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam đã truy tố bị cáo Nguyễn Huỳnh Anh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố bị cáo tại Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”; căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo mức án từ 18 đến 24 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu nên không xem xét.
Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đề nghị Hội đồng xét xử: tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo mưa tiện lợi màu xanh da trời; 01 (một) đôi dép màu trắng, trên quai dép có chữ DUWA FASHION, 01 (một) nón bảo hiểm, màu đen, có chữ NIKE trên nón; tiếp tục tạm giữ 01 (một) xe mô tô, biển số 43D1-384.78, nhãn hiệu Nouvo, màu đen – xám – bạc để điều tra, xử lý.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam.
Bị cáo nói lời sau cùng: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy những người này đã có lời khai tại hồ sơ vụ án và sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 292 và 299 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tiến hành xét xử vắng mặt họ tại phiên tòa.
[2]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3]. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Huỳnh Anh T đã khai nhận hành vi phạm tội, đối chiếu với lời khai của người tham gia tố tụng khác, với tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án là phù hợp nên Hội đồng xét xử kết luận:
Vào khoảng 17 giờ 45 phút ngày 21/10/2024, bị cáo T điều khiển xe mô tô, biển số 43D1-384.78, nhãn hiệu Nouvo, màu đen – xám - bạc đi từ nhà đến khu vực huyện D để trộm cắp tài sản. Khoảng 17 giờ 54 phút cùng ngày, bị cáo đến nhà anh S lén lút trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A95, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A3S kèm ốp lưng, số tiền 500.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 02 đô la Mỹ, tổng giá trị tài sản trộm cắp được 3.135.580 đồng.
Hội đồng xét xử đủ cơ sở khẳng định: bị cáo T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Vì vậy, Cáo trạng số 03/CT-VKSQS ngày 06 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam và quan điểm luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4]. Xét tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: quyền sở hữu tài sản của mọi công dân được pháp luật công nhận và bảo vệ. Tại thời điểm phạm tội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng với bản chất lười lao động, thích hưởng thụ, bị cáo lợi dụng sự sơ hở và mất cảnh giác của người khác để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân và ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với tính chất, hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
[5]. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
Bị cáo có nhân thân xấu. Bị cáo có một tiền án: ngày 29/7/2022, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 82/2022/HS-ST, chấp hành xong vào ngày 15/9/2024. Nhân thân: ngày 28/11/2019, bị Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 123/2019/HS-ST; ngày 14/5/2020, bị Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 40/2020/HS-ST.
Về tình tiết tăng nặng: bị cáo chấp hành xong hình phạt tù của bản án số 82/2022/HS-ST của Tòa án nhân dân quận Thanh Khê vào ngày 15/9/2024, chưa được xóa án tịch, tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Do đó, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ: quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo tự thú. Tại phiên tòa, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo khi lượng hình nhưng phải áp dụng Điều 38 Bộ luật Hình sự, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo học tập, cải tạo trở thành người công dân tốt.
Xét đề nghị về mức hình phạt của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn từ 18 đến 24 tháng thì thấy: tài sản mà bị cáo trộm cắp có giá trị 3.135.580 đồng, bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên Hội đồng xét xử không chấp nhận đề nghị về mức hình phạt của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Sơn.
[6]. Về trách nhiệm dân sự: bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7]. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo mưa tiện lợi màu xanh da trời; 01 (một) đôi dép màu trắng, trên quai dép có chữ DUWA FASHION, 01 (một) nón bảo hiểm, màu đen, có chữ NIKE trên nón; tiếp tục tạm giữ 01 (một) xe mô tô, biển số 43D1-384.78, nhãn hiệu Nouvo, màu đen – xám – bạc để điều tra, xử lý.
[8]. Những vấn đề khác trong vụ án:
- Đối với hành vi của anh Văn Phú B: anh B giao xe mô tô cho bị cáo để đi làm, anh B không biết bị cáo sử dụng xe làm phương tiện đi trộm cắp tài sản nên không có cơ sở để xử lý anh B.
- Đối với xe mô tô, biển số 43D1-384.78, nhãn hiệu Nouvo, màu đen – xám - bạc: qua xác minh người đứng tên trên giấy đăng ký xe là ông Nguyễn Á, sinh năm 1976, trú tại phường X, quận T, thành phố Đà Nẵng. Ông Á đã bán xe này cho cửa hành xe máy Hà Long, số A, đường N, thành phố Đà Nẵng. Đến nay, không có cửa hàng này tại địa chỉ trên. Anh B khai xe này anh mua lại của một cửa hàng ở thành phố Đà Nẵng vào năm 2021. Anh không nhớ tên cửa hàng, số tiền mua xe. Hiện anh đã mất giấy tờ mua bán xe. Do đó cần tiếp tục tạm giữ xe mô tô, biển số 43D1-384.78, nhãn hiệu Nouvo, màu đen – xám - bạc để điều tra, xử lý sau.
[9]. Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[10]. Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 332 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173, các điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; các Điều 106, 136, 260, 268, 269, 292, 299, 331, 332 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Huỳnh Anh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Huỳnh Anh T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ (ngày 22/10/2024).
2. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo mưa tiện lợi màu xanh da trời; 01 (một) đôi dép màu trắng, trên quai dép có chữ DUWA FASHION, 01 (một) nón bảo hiểm, màu đen, có chữ NIKE trên nón;
- Tiếp tục tạm giữ 01 (một) xe mô tô, biển số 43D1-384.78, nhãn hiệu Nouvo, màu đen – xám – bạc để điều tra, xử lý.
(Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Quế Sơn theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/01/2025).
3. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
4. Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (28-02-2025). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mai Loan |
Bản án số 04/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 04/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ SƠN, TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Huỳnh Anh T phạm tội trộm cắp tài sản
