TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 04/2025/HS-ST Ngày 28-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Hưng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Y Ker Bkông - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số 05/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025, đối với các bị cáo:
- Nguyễn Anh T; sinh ngày 21/11/1998, tại huyện L, tỉnh Đắk Lắk;
Nơi cư trú: thôn N, xã Đ, huyện L, Đắk Lắk; nghề nghiệp: thợ sửa xe; học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khoa Anh T1 và bà Nguyễn Thị Thanh T2; có vợ, chưa có con; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: chưa từng bị xử lý hành chính, xử lý hình sự; có mặt.
- Trần Đức T3; sinh ngày 13/11/1991 tại huyện L, tỉnh Đắk Lắk;
Nơi cư trú: thôn N, xã Đ, huyện L, Đắk Lắk; nghề nghiệp: giáo viên; học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đức C và bà Đặng Thị N có vợ và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2017, con nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân chưa từng bị xử lý hành chính, xử lý hình sự; có mặt.
- Nguyễn Minh Quân V; sinh ngày 27/11/1995, tại huyện L, tỉnh Đắk Lắk;
Nơi cư trú: tổ dân phố H, TT L, huyện L, Đắk Lắk; nghề nghiệp: thợ điện lạnh; học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn B và bà Nguyễn Thị Â, có vợ và 01 con sinh năm 2019; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: Bản án số 13/2014/HSST ngày 01/07/2014 của Tòa án nhân dân huyện Lắk xử phạt bị cáo 18 tháng cải tạo không giam giữ về tội Cố ý gây thương tích; ngày 08/03/2016, chấp hành xong hình phạt, án phí và các quyết định khác và đã được xóa án tích; có mặt.
- Huỳnh Thạnh; sinh ngày 17/03/1994, tại: huyện L, tỉnh Đắk Lắk;
Nơi cư trú: tổ dân phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: làm nông; học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính; nam; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; con ông Huỳnh L và bà La Thị M; có vợ và 02 con, con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2020; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: chưa từng bị xử lý hành chính, xử lý hình sự; có mặt.
- Nguyễn Chí L1; sinh ngày 09/08/1987, tại: thị xã P, tỉnh Quảng Ngãi;
Nơi cư trú: tổ dân phố H, TT L, huyện L, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: lao động tự do; học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; tiền án, tiền sự: không; con ông Nguyễn B và bà Nguyễn Thị Â; có vợ và 01 con sinh năm 2015; nhân thân: Bản án số 13/2014/HSST ngày 01/07/2014 của Tòa án nhân dân huyện Lắk xử phạt bị cáo 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng về tội Cố ý gây thương tích; ngày 01/01/2016, chấp hành xong hình phạt, án phí và các quyết định khác trong bản án nên đã được xóa án tích; có mặt.
- Trần Minh Q; sinh ngày 11/11/1995, tại huyện L, tỉnh Đắk Lắk;
Nơi cư trú: buôn P, xã Đ, huyện L, Đắk Lắk; nghề nghiệp: buôn bán; học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; tiền án, tiền sự: không; con ông Trần Phương Đ và bà Nguyễn Thị H; có vợ và 01 con sinh năm 2016; nhân thân: chưa từng bị xử lý hành chính, xử lý hình sự; có mặt.
- Nguyễn Huy H1; sinh ngày 10/09/1994, tại huyện L, tỉnh Đắk Lắk;
Nơi cư trú: tổ dân phố H, TT L, huyện L, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: lái xe; học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; tiền án: không; tiền sự: không; con ông Nguyễn Đình S và bà Ngô Thị Thanh H2; chưa có vợ, con; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Nguyễn Khoa Anh T1, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện L, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt;
- Bà Ngô Thị Thanh H2, sinh năm 1965; địa chỉ: TDP H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đắk Lắk; có mặt;
- Chị Lê Thị Vân A, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện L, tỉnh Đắk Lắk; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 23 giờ 30 phút ngày 22/12/2024, Nguyễn Anh T, Trần Đức T3, Nguyễn Minh Quân V, Huỳnh T4, Nguyễn Chí L1, Trần Minh Q và Nguyễn Huy H1 đang đánh bài xì lác ăn tiền tại nhà ông Nguyễn Khoa Anh T1 ở tổ dân phố A, thị trấn L, huyện L bị Công an huyện L phát hiện, bắt giữ và lập biên bản quả tang đồng thời thu giữ số tiền đánh bạc là 6.190.000 đồng cùng bộ bài tú lơ khơ 52 lá, 01 vỏ bao thuốc lá Sài Gòn G dùng để kê bộ bài; ngoài ra còn thu giữ 12.000.000 đồng trong người của Trần Minh Q.
Qua điều tra, xác định: Sau khi cùng ăn nhậu tại nhà anh Lê Quý Trường G1 ở tổ dân phố A, thị trấn L, đến khoảng 21 giờ 30 phút ngày 22/12/2024, Nguyễn Anh T, Trần Đức T3, Nguyễn Chí L1, Nguyễn Minh Quân V và Huỳnh T4 cùng về ngồi chơi uống nước tại nhà ông Nguyễn Khoa Anh T1 (bố của T). Tại đây, V khởi xướng việc chơi bài, T hưởng ứng, đề nghị chơi bài xì lác và được cả nhóm đồng ý. Ngay sau đó, T đi mua bộ bài tú lơ khơ, L1 nhặt 01 vỏ bao thuốc lá S màu bạc ở trước sân để kê bài và cả nhóm cùng chơi bài xì lác ăn tiền tại phòng khách nhà ông T1. Trong lúc chơi, T làm cái và chia ván bài đầu tiên, cứ 03 ván sẽ đổi cái một lần theo ngược chiều kim đồng hồ theo thứ tự từ Tinh đến L1, T4, V, T3; nếu người nào không đủ tiền làm cái thì sẽ chuyển cho người tiếp theo. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, có thêm Trần Minh Q, Nguyễn Huy H1 cùng đến ngồi chơi, uống nước, ăn mỳ tôm và ngồi xem nhóm của T chơi bài; sau đó khoảng 30 - 45 phút, H1 và Q cùng tham gia. Số tiền các bị cáo đưa vào đánh bạc gồm: của T 300.000 đồng, L1 3.000.000 đồng; V 40.000 đồng; T4 700.000 đồng, T3 1.000.000 đồng; H1 1.000.000 đồng và Q 150.000 đồng; tổng cộng 6.190.000 đồng.
Số tiền 12 triệu đồng thu giữ của Trần Minh Q không sử dụng vào mục đích đánh bạc nên Q đã được trả lại số tiền này.
Quyết định truy tố số 05/QĐ-VKS ngày 11/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lắk truy tố các bị cáo tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như Quyết định truy tố các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 25 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; khoản 1, 3 Điều 35; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, đề nghị Tòa án xử phạt tiền đối với bị cáo T từ 25 đến 30 triệu đồng, bị cáo T3 từ 20 đến 25 triệu đồng, bị cáo T4 từ 20 đến 25 triệu đồng, bị cáo Q từ 20 đến 25 triệu đồng và bị cáo H1 từ 20 đến 25 triệu đồng;
Căn cứ khoản 1 Điều 321; khoản 1, 3 Điều 35; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự đề nghị Tòa án xử phạt tiền đối với bị cáo V, bị cáo L1 mỗi bị cáo từ 25 đến 30 triệu đồng.
Áp dụng điểm a, b khoản 2 và điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu, tiêu hủy các công cụ để thực hiện hành vi phạm tội đánh bạc, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc là 6.190.000 đồng.
Tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội như Quyết định truy tố đã nêu; các bị cáo không có ý kiến tranh luận với Đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Tòa án xem xét, xử phạt các bị cáo ở mức thấp nhất mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã được nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì về trách nhiệm dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra; phù hợp với biên bản phạm tội quả tang, các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, diễn biến hành vi của các bị cáo đã thực hiện; phù hợp với vật chứng đã thu được tại hiện trường ... từ đó, Tòa án có đủ cơ sở xác định:
Vào lúc 23 giờ 30 phút ngày 22/12/2024, trong lúc các bị cáo T, L1, V, T4, T3, H1 và Q đang cùng chơi bài xì lác ăn tiền thì bị Công an huyện L phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 6.190.000 đồng tại phòng khách nhà ông Trần Khoa Anh T5 tại tổ dân phố A, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đắk Lắk.
Hành vi chơi bài “xì lác” thắng, thua bằng tiền của Nguyễn Anh T, Trần Đức T3, Nguyễn Minh Quân V, Huỳnh T4, Nguyễn Chí L1, Trần Minh Q và Nguyễn Huy H1 với tổng số tiền đánh bạc là 6.190.000 đồng của các bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc”; tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự:
“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
[3] Hành vi đánh bạc của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự, an toàn công cộng. Các bị cáo là người có đủ năng lực pháp luật hình sự, có khả năng nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép bị Nhà nước ta nghiêm cấm nhưng chỉ vì ham vui, thích sát phạt nhau bằng tiền mà các bị cáo đã không tuân thủ pháp luật, cố ý đánh bạc trái phép để thu lợi bất chính nên cần phải có hình phạt phù hợp là phạt tiền đủ để có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo đồng thời nhằm răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
Các bị cáo đã cố ý cùng thực hiện tội đánh bạc là đồng phạm nhưng ở mức độ giản đơn, các bị cáo đều với vai trò thực hành; ngoài ra, bị cáo V là người khởi xướng, bị cáo T là người cổ xúy và tích cực chuẩn bị, tìm kiếm công cụ chính để đánh bạc; bị cáo L1 tham gia đánh bạc với số tiền lớn nhất, vai trò của bị cáo T, V, L1 là tương đương nhau và tích cực hơn nên cần có mức xử phạt cao hơn các bị cáo khác trong vụ án.
Các bị cáo thực hiện hành vi đánh bạc để thu lợi bất chính; tuy nhiên, khả năng thu lợi nhỏ, hơn nữa các bị cáo đều là người làm nghề lao động lương thiện, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo T, T3, T4, Q, H1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng.
Riêng bị cáo V, bị cáo L1 trước đây đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”; theo Bản án số 13/2014/HSST ngày 01/07/2014 của Tòa án nhân dân huyện Lắk; bị cáo V bị xử phạt 18 tháng cải tạo không giam giữ; đến ngày 08/03/2016, chấp hành xong hình phạt, án phí và các quyết định khác trong bản án; bị cáo L1 bị xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng; đến ngày 01/01/2016, chấp hành xong hình phạt chính, án phí và các quyết định khác trong bản án. Như vậy, tại thời điểm phạm tội đánh bạc ngày 22/12/2024, bị cáo V, bị cáo L1 được coi như chưa bị kết án vì đều thuộc trường hợp đương nhiên được xóa án tích và thuộc trường hợp phạm tội lần đầu theo quy định tại khoản 1 Điều 69, điểm a khoản 2 Điều 70 của Bộ luật hình sự; điểm d khoản 2 Điều 2 của Nghị quyết số 01/2018/NQ-HĐTP ngày 24/4/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
Do đó, tất cả các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về vật chứng của vụ án: 01 (một) bộ bài tây loại 52 lá, đã qua sử dụng; 01 vỏ bao thuốc lá SAIGON Silver màu bạc là công cụ đã sử dụng vào việc thực hiện hành vi phạm tội, giá trị sử dụng không đáng kể nên cần tịch thu để tiêu hủy; số tiền 6.190.000 (Sáu triệu một trăm chín mươi nghìn) đồng là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a, b khoản 2 và điểm a, b Khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[5] Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Anh T, Trần Đức T3, Nguyễn Minh Quân V, Huỳnh T4, Nguyễn Chí L1, Nguyễn Huy H1 và Trần Minh Q phạm tội “Đánh bạc”;
Căn cứ khoản 1 Điều 321; khoản 1, 3 Điều 35; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh T 25 triệu đồng; Trần Đức T3 20 triệu đồng, Nguyễn Minh Quân V 25 triệu đồng; Huỳnh T4 20 triệu đồng, Nguyễn Chí L1 25 triệu đồng; Nguyễn Huy H1 20 triệu đồng và Trần Minh Q 20 triệu đồng.
Không xử phạt hình phạt bổ sung;
- Áp dụng điểm a, b khoản 2 và điểm a, b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên:
- - Tịch thu, nộp vào ngân sách nhà nước tổng số tiền 6.190.000 (Sáu triệu một trăm chín mươi nghìn) đồng được niêm phong trong phong bì có chữ ký của những người liên quan thu giữ tại chiếu bạc (hiện đang ký gửi tại Kho bạc nhà nước huyện L); trong đó, từng số tiền của mỗi bị cáo như sau: của T 300.000 đồng, L1 3.000.000 đồng; V 40.000 đồng; T4 700.000 đồng, T3 1.000.000 đồng; H1 1.000.000 đồng và Q 150.000 đồng.
- - Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) bộ bài tây loại 52 lá, đã qua sử dụng; 01 vỏ bao thuốc lá SAIGON Silver màu bạc;
- Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 22 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Bùi Văn Hưng |
Bản án số 04/2025/HS-ST ngày 28/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK về đánh bạc (gambling)
- Số bản án: 04/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Đánh bạc (Gambling)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẮK, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vào lúc 23 giờ 30 phút ngày 22/12/2024, trong lúc các bị cáo Tính, Linh, Vương, Thạnh, Thắng, Hùng và Quang đang cùng chơi bài xì lác ăn tiền thì bị Công an huyện Lắk phát hiện, bắt quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền 6.190.000 đồng tại phòng khách nhà ông Trần Khoa Anh Thư tại tổ dân phố 1, thị trấn Liên Sơn, huyện Lắk, tỉnh Đắk Lắk. Hành vi chơi bài “xì lác” thắng, thua bằng tiền của Nguyễn Anh Tính, Trần Đức Thắng, Nguyễn Minh Quân Vương, Huỳnh Thạnh, Nguyễn Chí Linh, Trần Minh Quang và Nguyễn Huy Hùng với tổng số tiền đánh bạc là 6.190.000 đồng của các bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc”; tội phạm và hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự:
