|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK TÔ TỈNH KON TUM Bản án số: 04/2025/HSST Ngày 27-02-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK TÔ, TỈNH KON TUM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Minh Huy
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Mai Yến và bà Phạm Thị Hiền
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Tú - Thư ký Toà án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô, tỉnh Kon Tum tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại điểm cầu Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô và điểm cầu Nhà tạm giữ Công an huyện Đ xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 01/2025/HSST ngày 16 tháng 01 năm 2025, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 02/2025/QĐXXST-HS, ngày 14 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên A T; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày 01/02/2002 tại Kon Tum; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Xơ Đăng; tôn giáo: Công giáo; trình độ học vấn: 0/12; nghề nghiệp: Không; nơi cư trú: Thôn K, xã Đ, huyện N, tỉnh Kon Tum; con ông A J và bà Y P (đều đã chết); gia đình bị cáo có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình.
Tiền án: 02 tiền án: Bản án số 06/2022/HSST ngày 25/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi tuyên phạt bị cáo 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự; Bản án số 06/2023/HSST ngày 11/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô tuyên phạt bị cáo 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự với tình tiết tăng nặng là “Tái phạm”; tiền sự: Không; nhân thân: xấu; hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh K. Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên A K; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; sinh ngày 17/02/2006 tại Kon Tum; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Xơ Đăng; tôn giáo: Công giáo; trình độ học vấn: 4/12; nghề nghiệp: Không; nơi cư trú: Thôn K, xã Đ, huyện N, tỉnh Kon Tum; con ông A J và bà Y P (đều đã chết); gia đình bị cáo có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ năm trong gia đình; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 17/3/2021 tại Quyết định số 01/2021/QĐ-TA của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Hồi quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng với thời gian chấp hành 24 tháng đối với A K; bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ Công an huyện N từ 14/9/2024 đến 23/9/2024, bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ từ ngày 24/9/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1. Anh Trịnh Văn H, sinh năm 1993
Địa chỉ: E G, phường N, thành phố K, tỉnh Kon Tum. Có mặt.
2. Chị Hoàng Trương Cầu D, sinh năm 1971
Địa chỉ: Thôn N, xã Đ, huyện N, tỉnh Kon Tum. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Hoàng Thị Mỹ T1 và anh Lê Hồng S
Địa chỉ: C D, phường D, thành phố K, tỉnh Kon Tum.
Có đơn xin vắng mặt.
1. Anh Nguyễn Nhật T2, sinh năm 1987
Địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum.
Có đơn xin vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vụ thứ nhất: Vào khoảng 16 giờ, ngày 19/05/2024, A K đi từ N xuống Đ với mục đích để trộm cắp tài sản. Khi đến thị trấn Đ, A K đi bộ vào hướng xã P, đến thôn Đ thì phát hiện nhà anh Trịnh Văn H khóa cửa ngoài và không có người ở nhà, A K liền lén lút bẻ cửa sắt sau nhà để chui vào bên trong. Tại phòng khách, A K phát hiện có 01 (một) xe mô tô BKS: 82K7-0241 có cắm sẵn chìa khóa, kiểm tra thấy có giấy đăng ký xe mô tô trong cốp nên đã dắt xe ra rồi điều khiển về nhà của mình tại huyện N. Về nhà gặp anh ruột là A T, A K đã nói với A T biết xe mô tô BKS: 82K7-0241 mình vừa lấy trộm được tại huyện Đ, có cả giấy tờ xe. A T nghe vậy thì rủ A K đi thành phố K để cầm cố chiếc xe trên lấy tiền tiêu xài nhưng A K không đồng ý. Đến sáng ngày 21/05/2024, A K rủ A T mang chiếc xe đến tiệm cầm đồ tại C D, phường D, thành phố K để cầm cố, A K đi vào gặp chị Hoàng Thị Mỹ T1, là người quản lý nói rằng muốn cầm cố xe mô tô BKS: 82K7-0241. Chị T1 có hỏi nguồn gốc xe mô tô này thì A K nói dối rằng xe mô tô trên là của A K và muốn cầm cố với số tiền 6.000.000 (sáu triệu) đồng để có tiền đi làm ăn xa, khi có tiền sẽ quay lại chuộc. A T thấy vậy nên cũng đứng ở ngoài nói với chị T1 rằng đó là xe mô tô của A K mới mua để cho chị T1 tin tưởng. Sau khi cầm xe cả hai về lại huyện N, A K đưa cho A T 4.500.000 đồng (bốn triệu năm trăm ngàn đồng), A K giữ lại 1.500.000 đồng (một triệu năm trăm ngàn đồng) số tiền trên cả hai đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 14/KL-ĐGTS ngày 20/9/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Đ kết luận xe mô tô nhãn hiệu Sirius BKS 82K7- 0241 màu xanh trị giá 5.600.000 đồng (năm triệu sáu trăm ngàn đồng).
Vụ thứ hai: Ngày 14/9/2024, A K đến Công an huyện N tự thú về hành vi phạm tội như sau: Vào chiều ngày 20/6/2024, A T nói với A K trên xã Đ, huyện N có nhà người dân thường xuyên khóa cửa, không có người ở nhà nên đã rủ A K đi trộm cắp tài sản. A K đồng ý và A T đã điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius, màu đen (không rõ biển số, A T khai mượn của A N) chở A K đến nhà chị Hoàng Trương Cầu D tại thôn C, xã Đ, huyện N. A T dẫn A K đi đến sát cửa sổ bên trái căn nhà thấy song sắt cửa sổ đã bị rỉ sét nên cùng nhau dùng tay bẻ gãy, A K chui qua lỗ cửa sổ vào trong nhà rồi mở cửa phía sau để A T vào. Sau đó cả hai chia nhau ra lục lọi, A K đã lấy được một sợi dây chuyền kèm mặt bằng vàng, 15.000 đồng gồm nhiều tờ tiền có mệnh giá 1.000 đồng và có mệnh giá 2.000 đồng trong con heo đất. A T lấy được một bó hoa được làm từ nhiều tờ tiền 20.000 đồng với tổng cộng 500.000 đồng, một con heo đất có 400.000 đồng. Khoảng 15 giờ chiều ngày 21/06/2024, A K và A T cùng nhau đi bán sợi dây chuyền đã lấy trộm cho tiệm V của anh Nguyễn Nhật T2 (địa chỉ tại Tổ dân phố B, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum) được 4.500.000 đồng. A T chia cho A K số tiền 3.000.000 đồng. Còn về chiếc xe mô tô thì A T đã trả lại cho A N.
Tại Kết luận số 2067/KL-KTHS ngày 18/9/2024 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng gửi giám định có kim loại vàng (A), hàm lượng kim loại vàng là 61,0%, khối lượng mẫu là 4,44gam; 01 (một) mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng gửi giám định có kim loại vàng (A), hàm lượng kim loại vàng là 61,0%, khối lượng mẫu là 1,16gam (tính cả phần mặt dây chuyền và phần móc nối).
Bản Kết luận định giá tài sản số 05/KL-ĐGTS ngày 02/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự tỉnh Kon Tum kết luận: 01 sợi dây chuyền có kim loại vàng (A) trị giá 5.869.726 đồng (năm triệu, tám trăm sáu chín ngàn, bảy trăm hai sáu đồng); 01 (một) mặt dây chuyền có kim loại vàng (A) trị giá 1.752.901 (một triệu, bảy trăm năm hai ngàn chín trăm linh một đồng).
Bản Cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 16/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô truy tố bị cáo A K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo A T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự và tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 323 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo A K từ 15 đến 21 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo A T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo A T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của cả hai tội buộc bị cáo A T phải chấp hành là 05 đến 06 năm tù.
- Về trách nhiệm dân sự:
Không ai có yêu cầu gì đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về vật chứng:
01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng; hàm lượng kim loại vàng là 61,0%, khối lượng là 4,44gam; 01 (một) mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng có kim loại vàng (Au), hàm lượng kim loại vàng là 61,0%, khối lượng là 1,16gam.
01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS biển kiểm soát 82K7-0241 màu sơn: xanh, có số máy 3S41-0117737, số khung RLC3S4106Y011737, xe đã qua sử dụng.
Xét thấy việc xử lý vật chứng không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp nên đề nghị không đề cập.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định
Những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa không có ý kiến gì.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin lỗi bị hại và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô, N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Lê Hồng S, chị Hoàng Thị Mỹ T1, anh Nguyễn Nhật T2 vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có đơn xin vắng mặt và không có yêu cầu gì, xét không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, vì vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định:
Vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 19/5/2024 tại thôn Đ, thị trấn Đ, huyện Đ là do A K thực hiện. Lợi dụng việc anh Trịnh Văn H vắng nhà, A K đã lén lút đột nhập trộm cắp xe 01 mô tô nhãn hiệu Sirius, biển kiểm soát 82K7-0241 trị giá 5.600.000 đồng (năm triệu sáu trăm ngàn đồng).
Đối với hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có là do A T thực hiện. Sau khi biết rõ A K trộm cắp chiếc xe máy của anh Trịnh Văn H mang về để tại nhà, A T đã khởi xướng đi cầm cố xe lấy tiền tiêu xài, khi được A K đồng ý, cả hai đã cùng nhau đi tiêu thụ bằng cách xuống thành phố K cầm cố cho chị Hoàng Thị Mỹ T1 lấy 6.000.000 đồng, cả hai chia nhau tiêu xài cá nhân hết.
Vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 20/6/2024 tại thôn C, xã Đ, huyện N là do A T và A K cùng thực hiện. Trước đó A T đã để ý nhà chị Hoàng Trương Cầu D hay khóa cửa, không có người ở nhà nên đã lên ý định rủ A K đi trộm cắp. Ngày 20/6/2024, A T lấy xe máy chở A K đến địa điểm là nhà chị D, cả hai lén lút đột nhập vào nhà lấy đi 915.000 (chín trăm mười lăm nghìn) đồng tiền mặt, 01 sợi dây chuyền kèm mặt bằng vàng trị giá 7.622.627 đồng, tổng giá trị tài sản trộm cắp là 8.537.627 đồng, sau đó cả hai mang bán sợi dây chuyền lại cho anh Nguyễn Nhật T2 với giá 4.500.000 (bốn triệu năm trăm ngàn đồng), cả hai chia nhau tiêu xài cá nhân hết.
Như vậy, A K đã 02 lần thực hiện hành vi phạm tội trộm cắp tài sản, tổng giá trị tài sản trộm cắp là 14.137.627 đồng (mười bốn triệu một trăm ba bảy ngàn sáu trăm hai bảy đồng).
Đối với A T, đã có 02 tiền án chưa được xóa án tích, tại bản án số 06/2023/HSST ngày ngày 11/4/2023, A T bị Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô tuyên 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết tăng nặng là “Tái phạm”, chưa được xóa án tích bị cáo lại tiếp tục phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Do đó lần phạm tội này của A T thuộc trường hợp “Tái phạm nguy hiểm”.
Vì vậy, Cáo trạng số 01/CT-VKS ngày 16/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đăk Tô truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản đã viện dẫn là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
- - Hai bị cáo đều có nhân thân xấu.
- - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo A K phải chịu tình tiết tăng tặng là “Phạm tội nhiều lần” quy định điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; bị cáo A T không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
- - Tình tiết giảm nhẹ: 02 Bị cáo đều thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với A K đã đến Công an huyện N tự thú về hành vi trộm cắp tài sản tại nhà chị Hoàng Trương Cầu D cùng với A T nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tính chất, vai trò, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo:
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị tại nhiều địa phương nơi các bị cáo phạm tội.
Đối với vụ trộm cắp tài sản tại nhà anh Trịnh Văn H là do một mình A K thực hiện; vụ trộm cắp tại nhà chị Hoàng Trương Cầu D là do A T khởi xướng, rủ rê A K, sau đó cả hai cùng thực hiện. Ngoài ra A T còn thực hiện hành vi tiêu thụ tài sản do A K phạm tội mà có.
Các bị cáo đều là người thành niên, khỏe mạnh nhưng không làm ăn lương thiện mà chơi bời lêu lổng, thường xuyên trộm cắp và bán tài sản trộm cắp để có tiền tiêu xài. Trong thời gian ngắn, cả hai thực hiện nhiều hành vi phạm tội ở các địa phương khác nhau, thể hiện thái độ bất chấp, coi thường pháp luật nên cần thiết phải cách ly hai bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để biết ăn năn hối cải, giáo dục trở thành công dân có ích cho xã hội.
Hai bị cáo đều có nhân thân xấu, đối với A K, năm 2021 đã bị đưa đi giáo dưỡng thời gian 24 tháng; A T đã nhiều lần bị đi chấp hành hình phạt tù, đều chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm nhiều tội đều thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Ngoài ra, trước khi bị Tòa án nhân dân huyện Đăk Tô đưa ra xét xử hôm nay, ngày 30/12/2024, bị cáo A T đã bị Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum xử phạt 03 năm tù cùng về tội Trộm cắp tài sản. Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của A T là nghiêm trọng, nguy hiểm hơn A K nên hình phạt áp dụng đối với bị cáo phải nghiêm khắc, nặng hơn A K.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không ai có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 (một) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng, hàm lượng kim loại vàng là 61,0%, khối lượng là 4,44gam; 01 (một) mặt dây chuyền bằng kim loại màu vàng có kim loại vàng (Au), hàm lượng kim loại vàng là 61,0%; tổng khối lượng là 1,16gam của chị Hoàng Trương Cầu D.
Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại SIRIUS, biển kiểm soát 82K7-0241 màu sơn: xanh, có số máy 3S41-0117737, số khung RLC3S4106Y011737, xe đã qua sử dụng của anh Trịnh Văn H.
Xét thấy việc xử lý vật chứng không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N, Đ đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử không đề cập.
[7] Về hình phạt bổ sung:
Hai bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, đang bị tạm giam nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[8] Về các vấn đề khác:
- - Đối với đối tượng tên A N, là người cho A T mượn xe, sau đó A T lấy xe chở A K đi trộm cắp nhưng A T không nhớ biển số xe. Cơ quan điều tra đã xác minh tại xã B, huyện N, tỉnh Kon Tum theo lời khai của A T nhưng không có thông tin nên Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.
- - Đối với anh Nguyễn Nhật T2 là người đã mua lại sợi dây chuyền kèm mặt bằng vàng do A T và A K trộm cắp; đối với chị Hoàng Thị Mỹ T1 là người đã nhận cầm cố chiếc xe mô tô BKS: 82K7-0241 vào ngày 21/5/2024 do A K trộm cắp. Anh T2 và chị T1 đều không biết đây nguồn gốc tài sản do các bị cáo phạm tội mà có nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét.
- - Đối với anh Hoàng Văn C là người mua lại chiếc xe A Kao cầm cố từ chị Hoàng Thị Mỹ T1, anh Nguyễn Văn Q là người mua lại chiếc xe từ anh C. Khi anh Trịnh Văn H phát hiện và lấy lại xe từ anh Q, chị Hoàng Thị Mỹ T1 đã trả lại số tiền mua xe cho anh Q. Anh C và anh Q không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về án phí:
Các bị cáo phải chịu án hình sự sơ thẩm theo quy định.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
- Tuyên bố bị cáo A K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Tuyên bố bị cáo A T phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
2. Về hình phạt:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm g, khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
- Căn cứ khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt của hai tội danh buộc bị cáo A T phải chấp hành là 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.
Xử phạt bị cáo A K 16 (mười sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (14/9/2024).
Xử phạt bị cáo A T 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt bị cáo A T 03 (ba) năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
3. Về án phí:
Căn cứ khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Mỗi bị cáo A K, A T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo:
Các bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (27/02/2025). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc khi bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Minh Huy |
Bản án số 04/2025/HSST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK TÔ, TỈNH KON TUM về vụ án hình sự về tội trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 04/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐĂK TÔ, TỈNH KON TUM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: A Kao TCTS, A Thao TCTS, Tiêu thụ TS
