TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do- Hạnh phúc |
Bản án số: 04/2025/HSST Ngày: 24 – 02 – 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Xuân Hoàng
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Toàn
- Ông Nguyễn Xuân Tào
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Cẩm Thạch, Thư ký Tòa án nhận dân huyện Kỳ Anh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hoành, Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kỳ Anh xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 04/2025/HSST ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/XXHSST – HS, ngày 13/02/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên bị cáo: Chu Văn T; giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không.
Sinh ngày: 05 tháng 3 năm 1988, tại xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An; nơi đăng ký HKTT và chổ ở: Thôn H, xã K (nay là tổ dân phố H, thị trấn K), huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hoá: Lớp 06/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; chức vụ, đảng phái: Quần chúng; con ông: Chu Văn H; con bà: Võ Thị L; vợ: Nguyễn Thị P; con: Có một đứa, sinh năm 2015; tiền sự, tiền sự: Không; biện pháp ngăn chặn đã áp dụng: Bị cáo Chu Văn T bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/10/2024 tại xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa
Bị hại:
- Ông Nguyễn Chiến T1 – sinh năm 1983; nơi cư trú: Thôn H, xã K (nay là tổ dân phố H, thị trấn K), huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do (Có mặt)
- Bà Nguyễn Thị P – sinh năm 1986; nơi cư trú: Thôn H, xã K (nay là tổ dân phố H, thị trấn K), huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do (Có mặt)
- Ông Nguyễn Văn H1 – sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn H, xã K (nay là tổ dân phố H, thị trấn K), huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do (Có mặt)
- Ông Lê Thanh P1 – sinh năm 1982; nơi cư trú: Thôn H, xã K (nay là tổ dân phố H, thị trấn K), huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do (Vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Ngọc N – sinh năm 1952; nơi cư trú: Thôn H, xã K (nay là tổ dân phố H, thị trấn K), huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do (Vắng mặt)
- Ông Nguyễn Văn L1 – sinh năm 1963; nơi cư trú: Thôn H, xã K (nay là tổ dân phố H, thị trấn K), huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do (Vắng mặt)
- Bà Nguyễn Thị H2 – sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn H, xã K (nay là tổ dân phố H, thị trấn K), huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do (Có mặt)
- Ông Nguyễn Văn T2 – sinh năm 1959; nơi cư trú: Thôn H, xã K (nay là tổ dân phố H, thị trấn K), huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; nghề nghiệp: Lao động tự do (Có mặt)
Người tham gia tố tụng khác:
Người làm chứng:
- Ông Nguyễn Văn L2 – sinh năm 1969; nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt)
- Ông Trần Ngọc M – sinh năm 1976; nơi cư trú: Tổ dân phố H, thị trấn K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh(Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 02/9/2024, Chu Văn T đi uống rượu về thì xẩy ra mâu thuẩn với vợ mình là chị Nguyễn Thị P tại nhà riêng của vợ chồng, ở thôn H, xã K (nay là tổ dân phố H, thị trấn K), huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, sau đó T lấy bình ga loại 13 kilogam của gia đình dùng để nấu ăn xả khí G ra đe doạ chị Nguyễn Thị P đốt nhà mình. Thấy vậy chị P chạy sang nhà anh Nguyễn Chiến T1, sinh năm 1983 hàng xóm nhờ đến can ngăn T thì thấy có một số người đang ngồi uống rượu trong nhà anh T1, nên chị P đi vào gặp anh T1 nói với anh T1 về việc chồng mình lấy bình Gas ra định đốt nhà, nên anh T1 mượn xe mô tô biển kiểm soát 38F9-4205 của ông Trần Ngọc N1, sinh năm 1952, trú cùng thôn đến nhà anh T1 chơi rồi đi đến nhà T dựng ở ngoài cổng, đi bộ vào trong sân nhà gọi T, nhưng không thấy trả lời mà chỉ nghe mùi khí G, một lúc sau T xách theo một chiếc bình Gas loại 13 Kilogam và trên tay cầm chiếc bật lửa đi ra sân. Thấy vậy anh T1 bỏ chạy ra ngoài đường, sau đó T mang theo bình G và bật lửa đi ra ngoài đường liên thôn, cách cổng nhà khoảng 10 mét rồi đặt bình Gas xuống đường dùng tay mở khoá bình Gas để cho khí G bốc ra ngoài và dùng bật lửa châm, đốt vào vị trí khoá bình G làm ngọn lửa bốc cháy lên, nên T chạy vào nhà lấy chiếc chăn ra dập lửa nhưng không được. Lúc này có một số người dân đến xem trong đó có anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1959, trú cùng thôn (Bố vợ T). Bức xúc về việc vợ mình gọi hàng xóm và bố vợ đến, nên T đẩy chiếc xe mô tô biển kiểm soát 38F9-4205 của ông Trần Ngọc N1 do anh Nguyễn Chiến T1 mượn đi đến nhà T vào ngọn lửa ở bình ga đang bốc cháy làm chiếc xe mô tô cùng với xăng của xe mô tô cháy và ngọn lửa ngày càng bốc lớn lên. Tiếp đó T đi vào sân nhà mình thấy chiếc xe mô tô biển kiểm soát 38H4-4264 của ông Nguyễn Văn T2, bố vợ T trước đó vợ mình mượn về đi chưa trả lại cho ông T2, nên T đẩy chiếc xe mô tô ra và bỏ vào ngọn lửa đang cháy nhằm huỷ hoại hai chiếc xe mô tô. Do trong hai chiếc xe mô tô có xăng nên ngọn lửa ngày càng cháy lớn hơn và cháy lan sang các thanh gỗ Lim của anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1988 và gỗ Mít của anh Lê Thanh P1, sinh năm 1982, trú cùng thôn để ở bên cạnh. Hậu quả làm xe mô tô biển kiểm soát 38F9-4205 của ông Trần Ngọc N1 và xe mô tô biển kiểm soát 38H4-4264 của anh Nguyễn Văn T2 cùng với 0,08 m³ gỗ Tali (Lim) của anh Nguyễn Văn H1, 0,27 m³ gỗ Mít của anh Lê Thanh P1 cháy hoàn toàn không sử dụng được thiệt hại về tài sản với tổng trị giá 6.460.000 đồng (Sáu triệu bốn trăm sáu mươi nghìn đồng). Cùng ngày anh Nguyễn Văn L1, thôn trưởng thôn Hồ Vân G1, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh báo cáo sự việc với Công an xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, sau đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh triệu tập lên làm việc. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K Chu Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Theo kết luận định giá tài sản số 59/KL-HĐĐG ngày 01/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện K thì chiếc xe mô tô nhãn hiệu Wave, màu đỏ, biển kiểm soát 38F-4205, số máy: 0127269, số khung: 127145, đăng ký ngày 29/11/2004, của ông Trần Ngọc N1 thiệt hại 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Theo kết luận định giá tài sản số 58/KL-HĐĐG ngày 01/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện K thì chiếc xe mô tô nhãn hiệu ANGEL VA2, màu xanh, trắng, biển kiểm soát 38H4-4264, số máy: VMEVA2366246, số khung: RLGXA10CD5H366246, đăng ký ngày 26/6/2005, của anh Nguyễn Văn T2 thiệt hại 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng).
Theo kết luận định giá tài sản số 83/KL-HĐĐG ngày 27/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện K thì 0,08 m³ (Không phẩy không tám mét khối) gỗ T3 (Lim) xẻ của anh Nguyễn Văn H1 thiệt hại 1.920.000 đồng (Một triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng) và 0,27 m³ (Không phẩy hai bảy mét khối) gỗ Mít của anh Lê Thanh P1 thiệt hại 540.000 đồng (Năm trăm bốn mươi nghìn đồng).
Tổng thiệt hại của các tài sản trên là 6.460.000 đồng (Sáu triệu bốn trăm sáu mươi nghìn đồng). Trong đó của ông Trần Ngọc N1 trị giá 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng), anh Nguyễn Văn T2, trị giá 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng), anh Nguyễn Văn H1 1.920.000 đồng (Một triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng), anh Lê Thanh P1 540.000 đồng (Năm trăm bốn mươi nghìn đồng).
* Về thu giữ, tạm giữ tài liệu đồ vật; xử lý vật chứng:
Trong quá trình điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu giữ, xử lý các vật chứng bao gồm:
+ Vật chứng thu giữ đã xử lý:
- Một khung kim loại của xe mô tô biển kiểm soát 38H4-4264, đã trả lại cho ông Nguyễn Văn T2.
- Một khung kim loại của xe mô tô biển kiểm soát 38F9-4205, đã trả lại cho anh Trần Ngọc N1.
- Bốn thanh gỗ có cùng kích thước (270 x 40 x 11)cm và năm thanh gỗ có cùng kích thước (250 x 25 x 6)cm, bị cháy, đã trả lại cho anh Nguyễn Văn H1.
- Một khúc gỗ Mít, có chiều dài 4,4 mét, đường kính nơi rộng nhất 64cm, nơi nhỏ nhất 14cm, bị cháy, đã trả lại cho anh Lê Thanh P1.
+ Vật chứng thu giữ chưa xử lý:
- Một vỏ bình Gas màu xám, loại bình 13kg bị cháy mất phần sơn bên ngoài, không có khí Gas bên trong, hiện nay đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Kỳ Anh để xử lý.
+ Vật chứng không thu giữ được:
- Chiếc bật lửa mà bị cáo Chu Văn T dùng để châm lửa đốt bình G, quá trình điều tra bị cáo trình bày sau khi sử dụng châm lửa đốt bình gas bị cáo đã làm rơi không biết chỗ nào, Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không có kết quả.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng.
Tại bản Cáo trạng số 04/CT- VKSKA ngày 21 tháng 01 năm 2025, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh đã truy tố bị cáo Chu Văn T4 về tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo: Chu Văn T phạm tội “Hủy Hoại tài sản”
Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm d khoản 2 Điều 178; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Chu Văn T 24 đến 30 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 đến 60 tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Chu Văn T về cho UBND thị trấn K, huyện K, tỉnh tỉnh Hà Tĩnh trực tiếp giám sát và giáo dục. Gia đình Chu Văn T có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục Chu Văn T.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu huỷ một vỏ bình Gas màu xám, loại bình 13kg bị cháy mất phần sơn bên ngoài, không có khí Gas bên trong.
Về án phí: Đề nghị căn cứ khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23; khoản 3 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 -12- 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo: Xử buộc bị cáo Chu Văn T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan CSĐT Công an huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Chứng cứ: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai bị hại phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Do mâu thuẩn vợ chồng, nên vào hồi 20 giờ 30 phút ngày 02/09/2024, tại đường liên thôn, trước cổng nhà ở của Chu Văn T, ở thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Chu Văn T lấy một bình khí đang có Gas bên trong, loại bình có trọng lượng 13kg, của gia đình mình rồi mở khoá bình để cho khí G ra ngoài dùng bật lửa đốt cháy làm hư hỏng hoàn toàn hai chiếc xe mô tô và 0,35 m³ gỗ, thiệt hại với tổng trị giá tài sản 6.460.000 đồng (Sáu triệu bốn trăm sáu mươi nghìn đồng). Trong đó thiệt hại về tài sản của ông Trần Ngọc N1, một xe mô tô biển kiểm soát 38F9-4205 trị giá 2.500.000 đồng (Hai triệu năm trăm nghìn đồng), của ông Nguyễn Văn T2, một xe mô tô biển kiểm soát 38H4-4264 trị giá 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm nghìn đồng) và của anh Nguyễn Văn H1, 0,08 m³ (Không phẩy không tám mét khối) gỗ T3 (Lim) trị giá 1.920.000 đồng (Một triệu chín trăm hai mươi nghìn đồng), của anh Lê Thanh P1, đều trú tại thôn H, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh 0,27 m³ (Không phẩy hai bảy mét khối) gỗ Mít trị giá 540.000 đồng (Năm trăm bốn mươi nghìn đồng).
Hành vi của Chu Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
Trong vụ án này, bị cáo Chu Văn T thực hiện hành vi phạm tội một mình, không có đồng phạm.
[3]. Tích chất, mức độ của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo Chu Văn T đã dùng bình khí G để thực hiện hành vi phạm tội nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng định khung là dùng chất nguy hiểm về cháy. Xét hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, coi thường kỷ cương pháp luật Nhà nước, làm mất trật tự, trị an trên địa bàn khu dân cư. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy đinh tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Chu Văn T được hưởng tình tiết giảm nhẹ: Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi và bị hại xin giảm nhẹ hình phạt, theo quy định tại điểm b, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình Sự.
Vì vậy cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng, bị cáo có nhân thân tốt, ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành chủ trương chính sách của pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ công dân nơi cư trú và có nơi cư trú rõ ràng, hơn nữa tại phiên tòa hôm nay bị hại Nguyễn Chiến T1, Nguyễn Văn H1 và Nguyễn Thị P đều xin cho bị cáo được hưởng án treo vì gia đình bị có hoàn cảnh khó khăn. Do đó cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử cho bị cáo được hưởng án treo, chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội cũng đủ giáo dục các bị cáo.
[4]. Vật chứng vụ án: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã thu giữ trả lại các vật chứng cho các chủ sở hữu sau:
- Một khung kim loại của xe mô tô biển kiểm soát 38H4-4264, đã trả lại cho ông Nguyễn Văn T2.
- Một khung kim loại của xe mô tô biển kiểm soát 38F9-4205, đã trả lại cho anh Trần Ngọc N1.
- Bốn thanh gỗ có cùng kích thước (270 x 40 x 11)cm và năm thanh gỗ có cùng kích thước (250 x 25 x 6)cm, bị cháy, đã trả lại cho anh Nguyễn Văn H1.
- Một khúc gỗ Mít, có chiều dài 4,4 mét, đường kính nơi rộng nhất 64cm, nơi nhỏ nhất 14cm, bị cháy, đã trả lại cho anh Lê Thanh P1, nên Hội đồng xét xử miễn xét.
Hiện nay còn lại vật chứng sau:
- Một vỏ bình Gas màu xám, loại bình 13kg bị cháy mất phần sơn bên ngoài, không có khí Gas bên trong. Hội đồng xét xử xét thấy bình G nói trên là công cụ, phương tiện phạm tội của bị cáo, hiện nay không còn giá trị sử dụng, vì vậy cần tịch thu tiêu huỷ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Sau khi sự việc xảy ra Chu Văn T đã bồi thường cho người bị hại là ông Nguyễn Chiến T1 số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) giá trị chiếc xe mô tô bị thiệt hại. Đối với chị Nguyễn Thị P, ông Nguyễn Văn H1, ông Lê Thanh P1 có đơn không yêu cầu bồi thường thiệt hại, nên Hội đồng xét xử miễn xét.
[6]. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
[7]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
Điểm d khoản 2 Điều 178; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a điểm c khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 3; khoản 1 Điều 6; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 -12- 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội và Danh mục án phí, lệ phí Toà án kèm theo;
Tuyên bố bị cáo: Chu Văn T phạm tội “Hủy Hoại tài sản”
1. Về hình phạt: Xử phạt Chu Văn T 24 (Hai bốn) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 (Bốn tám) tháng, tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Chu Văn T về cho UBND thị trấn K, huyện K, tỉnh tỉnh Hà Tĩnh trực tiếp giám sát và giáo dục. Gia đình Chu Văn T có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục Chu Văn T.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.
2. Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ Một vỏ bình Gas màu xám, loại bình 13kg bị cháy mất phần sơn bên ngoài, không có khí Gas bên trong.
3. Về án phí: Xử buộc bị cáo Chu Văn T phải nộp 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan văng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yế bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Xuân Hoàng |
Bản án số 04/2025/HSST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH về hình sự sơ thẩm (tội hủy hoại tài sản)
- Số bản án: 04/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tội Hủy hoại tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KỲ ANH TỈNH HÀ TĨNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chu Văn T phạm tội Hủy hoại tài sản
