Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ KIM BẢNG

TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HSST

Ngày 23 - 01 - 2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Minh Thúy - Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Ông Đinh Như Ngọc - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 01 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự thụ lý số 10/2025/HSST ngày 16 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 01 năm 2025 đối với:

- Các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn H, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn V, xã S, huyện Ư, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị Ph; vợ: Trần Thị Th; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ ngày 25/12/2024; áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú ” ngày 30/12/2024; có mặt.
  2. Đoàn Văn T, sinh năm 1992; nơi cư trú: Thôn Nh, xã Đ, huyện Ư, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Văn B và bà Nguyễn Thị Ch; vợ: Nguyễn Thị Th; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ ngày 24/12/2024; áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” ngày 30/12/2024; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị M, sinh năm 1985; địa chỉ: Thôn Sim, xã An Lư, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh Vũ Đức C, sinh năm 1990. Anh Chu Tiến B1, sinh năm 1978; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do có nhu cầu mua pháo nổ về chơi dịp Tết Nguyên đán, Nguyễn Văn H lên mạng Internet tìm mua pháo nổ. Sau đó, H thấy một tài khoản Facebook quảng cáo bán pháo nổ nên đã liên hệ để hỏi mua 04 hộp pháo nổ (H không nhớ tài khoản Facebook, không quen biết với chủ tài khoản Facebook trên). Người này báo giá 04 hộp pháo nổ là 2.000.000đồng, H đồng ý và hẹn người đàn ông giao pháo nổ cho H vào ngày 24/12/2024 tại cổng khu Công nghiệp Đồng Văn IV thuộc xã Đ, huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam, sau khi nhận pháo H sẽ giao tiền. Khoảng 22 giờ ngày 24/12/2024, tài khoản Facebook trên gọi cho H hẹn ra cổng khu Công nghiệp Đồng Văn IV để lấy pháo. Sau đó, H đã gọi điện thoại cho Đoàn Văn T nói: “Anh đặt lấy pháo của thằng trên mạng, mày lấy hộ anh”. T nói: “Tối nay em bận lắm, mới lại Công an đang làm căng em sợ bị bắt”, H nói: “Không sợ đâu, cứ ra lấy đi, xong anh để lại cho một bệ mà chơi Tết”, T đồng ý. Sau đó, H chuyển khoản số tiền 1.500.000đồng từ tài khoản ngân hàng số [...] của H đến số tài khoản ngân hàng 0966615202 của T để trả tiền mua pháo, số tiền 500.000đồng còn lại do T tự bỏ ra. Khoảng 23 giờ cùng ngày, T một mình thuê xe ôm của một người đàn ông không quen biết đến cổng khu Công nghiệp Đồng Văn IV thuộc thôn Tùng Quan, xã Đại Cương, huyện Kim Bảng. Trên đường đi, T vào cây xăng ven đường chuyển khoản tiền từ tài khoản ngân hàng của T cho nhân viên cây xăng để lấy số tiền mặt 2.000.000đồng. Đến khu công nghiệp Đồng Văn IV, T trả tiền xe ôm rồi gọi điện thoại vào số 0896.997.xxx (số điện thoại do H gửi cho T để liên lạc với người bán pháo nổ) thì có một nam thanh niên nghe máy, T hẹn nam thanh niên đến khu Công nghiệp Đồng Văn IV. Sau khi gặp nhau, nam thanh niên chỉ cho T chỗ để 01 thùng catton. T mở thùng catton ra thì thấy bên trong có 04 hộp giấy hình chữ nhật, bên ngoài dán chữ nước ngoài, T biết đó là pháo nổ nên lấy từ trong túi quần phía sau bên phải đang mặc số tiền 2.000.000đồng đưa cho người đàn ông. Người đàn ông cầm tiền rồi bỏ đi còn T bê thùng catton bên trong có chứa 04 hộp pháo đi ra đường để bắt xe ôm về nhà thì bị lực lượng Công an huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang.

* Vật chứng thu giữ: Thu giữ trên tay của Đoàn Văn T 01 thùng catton, bên trong có 04 hộp bằng giấy hình chữ nhật đều có dán giấy in chữ nước ngoài, được niêm phong trong hộp catton dán kín, ký hiệu QT01. Thu trong túi quần bên trái phía trước đang mặc của Đoàn Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A55, số IMEI1: 357042144044394, số IMEI2: 357695574044398, bên trong lắp 02 thẻ sim Viettel, được niêm phong trong phong bì dán kín, ký hiệu QT02. Thu giữ của Nguyễn Văn H 01 điện thọa di động nhãn hiệu OPPO A55, số IMEI1 8667787057543816, số IMEI2 866787057543808, bên trong có gắn 01 thẻ sim Viettel, được niêm phong trong phong bì dán kín, ký hiệu M2.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đoàn Văn T tại thôn Nh, xã Đ, huyện U, thành phố Hà Nội và chỗ ở của Nguyễn Văn H tại thôn V, xã S, huyện Ư, thành phố Hà Nội, lực lượng Công an không thu giữ tài liệu, đồ vật gì.

Tại bản kết luận giám định số 167/KL-KTHS ngày 26/12/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Nam Định kết luận: Mẫu ký hiệu QT01 là pháo nổ (loại pháo hoa nổ). Tổng khối lượng là 6,489 kg.

Về nguồn gốc số pháo hoa nổ: Nguyễn Văn H khai đặt mua pháo của một nam thanh niên không quen biết trên mạng xã hội Facebook, H không nhớ tài khoản Facebook, thông tin của người thanh niên. Đoàn Văn T khai nhận pháo của một người thanh niên không quen, T không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng của người này. Ngoài lời khai của các bị can, không còn tài liệu chứng cứ nào khác. Do vậy, không có cơ sở để xác minh, điều tra làm rõ, xử lý theo quy định của pháp luật.

Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 01/QĐ-VKSKB ngày 15/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kim Bảng, tỉnh Hà Nam đã truy tố Nguyễn Văn H, Đoàn Văn T về tội "Tàng trữ hàng cấm" theo điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố Nguyễn Văn H, Đoàn Văn T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; Điều 50; Điều 58; điểm i điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách. Đoàn Văn T từ 09 tháng đến 12 tháng tù cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 04 hộp pháo nổ có kích thước (17 x17 x 10) cm vỏ nhiều màu sắc và in chữ nước ngoài (Mỗi hộp đều được tháo một ống hình trụ phục vụ giám định). Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A55 5G và 01 điện thọai di động nhãn hiệu OPPO A55, máy đã qua sử dụng. Đối với 01 đĩa CD có chứa nội dung liên quan đến vụ án lưu theo hồ sơ vụ án. Các bị cáo nhất trí với cáo trạng, luận tội của Viện kiểm sát và xin giảm nhẹ hình phạt. Không ai tranh luận gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Bảng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.
  2. Về tội danh: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn H, Đoàn Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội phù hợp với lời khai nhận tội tại cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản thu giữ, niêm phong vật chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, bản kết luận giám định, về thời gian, địa điểm cùng toàn bộ các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án được đưa ra xem xét tại phiên tòa. Tòa án có đủ cơ sở kết luận: Ngày 24/12/2024, Nguyễn Văn H, sinh năm 1987, nơi cư trú: Thôn V, xã S, huyện U, thành phố Hà Nội sử dụng điện thoại di động vào mạng Facebook đặt mua 04 hộp pháo hoa nổ rồi chuyển tiền qua tài khoản cho Đoàn Văn T, sinh năm 1992, nơi cư trú: Thôn Nh, xã Đ, huyện U, thành phố Hà Nội số tiền 1.500.000đồng để T mua được 6.489kg pháo hoa nổ mang về mục đích cùng sử dụng. Hành vi đó của các bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là đúng người đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất kinh doanh một số loại hàng cấm, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội. Các bị cáo thực hiện do lỗi cố ý, nhận thức rõ hành vi hành vi cất giữ 6,489kg pháo nổ của mình, mục đích để sử dụng nhưng không có giấy phép hợp lệ là trái pháp luật vì pháo nổ là một trong các loại hàng hóa Nhà nước không cho phép lưu thông trên thị trường mà vẫn thực hiện.

  1. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Về nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt.

    Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo T có thời gian tham gia quân đội, bị cáo H có bố vợ là ông Trần Viết X được tặng kỷ niệm chương trong xây dựng chiến đấu chốt giữ đất biên cương của Tổ quốc khu vực tỉnh Lào Cai và có ông ngoại của vợ là ông Trần Quang B được tặng Huân chương chiến sỹ giải phóng, Huy hiệu 55 tuổi Đảng nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu.

  2. Về vai trò các bị cáo trong vụ án thấy: Nguyễn Văn H là người xướng nên giữ vai trò thứ nhất, Đoàn Văn T giữ vai trò đồng phạm.
  3. Về hình phạt:

    Hình phạt chính: Khi quyết định hình phạt Toà án cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự. Các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng do đó không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mà cho các bị cáo được hưởng án treo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp.

    Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo làm nghề tự do, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

  4. Về xử lý vật chứng: Đối với 04 hộp pháo nổ có kích thước (17 x17 x 10) cm vỏ nhiều màu sắc và in chữ nước ngoài (Mỗi hộp đều được tháo một ống hình trụ phục vụ giám định) là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A55 5G tạm giữ của Đoàn Văn T và 01 điện thọai di động nhãn hiệu OPPO A55, máy đã qua sử dụng, tạm giữ của Nguyễn Văn H là tài sản hợp pháp của các bị cáo, các bị cáo sử dụng điện thoại liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Đối với 01 đĩa CD có chứa nội dung liên quan đến vụ án là tài liệu gửi theo hồ sơ vụ án nên lưu giữ hồ sơ vụ án.
  5. Về các vấn đề khác trong vụ án:

    Về nguồn gốc số pháo nổ: Nguyễn Văn H khai đặt mua pháo của một nam thanh niên không quen biết trên mạng xã hội Facebook, H không nhớ tài khoản Facebook, thông tin của người thanh niên. Đoàn Văn T khai nhận pháo của một người thanh niên không quen, T không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ và đặc điểm nhận dạng của người này. Ngoài lời khai của các bị cáo, không còn tài liệu chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ được.

    Đối với số thuê bao di động 0896997980: Cơ quan điều tra đã xác định chủ sở hữu là chị Trần Thị M, sinh năm 1985, trú tại thôn S, xã A, huyện Th, thành phố H. Chị M hiện không sử dụng số thuê bao trên do bị mất điện thoại từ đầu tháng 11/2024. Chị M không sử dụng mạng xã hội Facebook, không quen biết ai tên là Đoàn Văn T và Nguyễn Văn H, không bán pháo nổ. Đối với số tiền dùng để mua pháo hoa nổ, Nguyễn Văn H và Đoàn Văn T khai đều do lao động mà có.

  6. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  7. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về hình sự: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 191; Điều 47; Điều 50; Điều 58; điểm i điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 135; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H, Đoàn Văn T phạm tội “Tàng trữ hàng cấm”. Xử phạt:

    + Bị cáo Nguyễn Văn H 15 (Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 30 (Ba mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Nguyễn Văn H cho Ủy ban nhân dân xã S, huyện U, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    + Bị cáo Đoàn Văn T 12 (Mười hai) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo Đoàn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện U, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

  2. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 04 hộp pháo nổ có kích thước (17 x17 x 10)cm vỏ nhiều màu sắc và in chữ nước ngoài (Mỗi hộp đều được tháo một ống hình trụ phục vụ giám định). Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A55 5G và 01 điện thọai di động nhãn hiệu OPPO A55, máy đã qua sử dụng. (Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản bàn giao giữa cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Kim Bảng ngày 16 tháng 01 năm 2025).
  3. Án phí: Bị cáo Nguyễn Văn H, Đoàn Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND thị xã Kim Bảng;
  • - Chi cục THADS thị xã Kim Bảng;
  • - Các bị cáo;
  • - Người CQLNVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Bùi Thị Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/HSST ngày 23/01/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM về tàng trữ hàng cấm

  • Số bản án: 04/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/01/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIM BẢNG, TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn H, Đặng Văn T phạm tội Tàng trữ hàng cấm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger