TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN TỈNH GIA LAI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 04/2025/HS-ST Ngày 27/02/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Bá Thới
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chế Công Nghị và bà Nguyễn Thị Huê
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai tham gia phiên toà: Ông Vi Văn Anh, Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 02 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 02/2025/QĐXXST-HS ngày 12/02/2025, đối với bị cáo:
Ksor K, sinh ngày 20/4/1990 tại Gia Lai; Nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: không đi học; dân tộc: Gia Rai; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Siu K và bà Ksor H; tiền sự: không; tiền án: không.
Nhân thân: Năm 2015, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai xử phạt 03 tháng 15 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản” (tại Bản án số 04/2015/HSST ngày 15/01/2015). Năm 2016, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (tại Bản án số 18/2016/HSST ngày 30/5/2016). Ngày 24/11/2016, chấp hành xong hình phạt tù, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07/11/2024 đến nay. Có mặt.
- Bị hại: Chị Đặng Thị N, sinh năm 1978; Địa chỉ: Tổ B, thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1979; trú tại: Thôn P AI, xã I, huyện P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt
- Người phiên dịch tiếng Jrai: Bà Rah Lan H2; trú tại: Thị trấn P, huyện P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 03 giờ 30 phút ngày 27/10/2024, Ksor K1 đi bộ từ nhà đến chợ P ở Tổ dân phố A, Thị trấn P, huyện P, Gia Lai tìm tài sản trộm cắp. Khi đến khu vực cổng chợ phía Đông, K1 phát hiện 01 chiếc xe mô tô hiệu Super Dream biển số 17K2-0469 (của chị Đặng Thị N, sinh năm 1978, trú tại Tổ dân phố B, TT P, P, Gia Lai) không có người trông coi. Khoảng 04 giờ 00 phút cùng ngày, K1 đến dắt xe mô tô biển số 17K2-0469 đi về nhà mình cất giấu. Đến sáng cùng ngày, Ksor K1 điều khiển xe mô tô biển số 17K2-0469 đến đoạn đường vắng ở Thôn P, xã I, huyện P, Gia Lai rồi sử dụng mỏ lết, tua vít tháo rời 02 yếm chắn gió xe và biển số xe để tránh bị phát hiện. Ken vứt mỏ lết, tua vít và 02 yếm chắn gió tại đó rồi mang biển số 17K2-0469 đem đến cơ sở thu mua phế liệu của Nguyễn Văn H1 ở Thôn P, xã I, P, Gia Lai bán nhôm nhựa được 45.000₫ (Bốn mươi lăm nghìn đồng). Khi rời khỏi cơ sở thu mua phế liệu, K1 nhặt được 01 biển số 81T4-6601 đã cũ ở ven đường rồi đem về nhà gắn vào chiếc xe mô tô trộm cắp được để thuận lợi cho việc di chuyển.
Tối ngày 27/10/2024, Ksor K1 điều khiển chiếc xe mô tô trên đi đến đoạn đường liên thôn T, Thị trấn P, huyện P, Gia Lai thì xảy ra tai nạn giao thông. Lực lượng CSGT Công an huyện P đã tiến hành tạm giữ 01 xe mô tô hiệu Super Dream gắn biển số 81T4-6601.
Ngày 31/10/2024, Ksor K1 đến Công an thị trấn P đầu thú, khai nhận hành vi trộm xe mô tô hiệu Super Dream biển số 17K2-0469.
Tại Kết luận định giá tài sản số 47 ngày 01/11/2024 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P, xác định: Xe mô tô hiệu Super Dream biển số 17K2-0469 trị giá 3.000.000đ (Ba triệu đồng).
Quá trình điều tra, Ksor K1 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, nội dung lời khai phù hợp với lời khai bị hại và tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập được.
* Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã tạm giữ các vật chứng, gồm:
- 01 xe mô tô hiệu Super Dream và 01 biển số 81T4-6601, do Đội CSGT Công an huyện P chuyển giao.
- 01 biển số 17K2-0469, do Nguyễn Văn H1 giao nộp.
- Đối với chiếc mỏ lết, tua vít và 02 yếm chắn gió xe mô tô, Cơ quan điều tra đã tổ chức tìm kiếm nhưng không thu giữ được.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trao trả lại chiếc xe mô tô hiệu Super Dream biển số 17K2-0469 cho chủ sở hữu hợp pháp và chuyển giao biển số 81T4-6601 đến Đội CSGT Công an huyện P xử lý theo thẩm quyền.
Về dân sự: Bị hại là chị Đặng Thị N đã nhận lại tài sản là xe mô tô hiệu Super Dream biển số 17K2-0469 và không có yêu cầu gì khác.
Nguyễn Văn H1 không yêu cầu Ksor K1 trả lại số tiền bỏ ra mua biển số 17K2-0469.
Tại bản cáo trạng số: 03/CT-VKS ngày 02 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai đã truy tố bị cáo Ksor K1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Ksor K1; Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Ksor K1 từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/11/2024.
Ý kiến của bị cáo: Thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát; bị cáo không nói lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, lời khai của bị cáo phù hợp với những chứng cứ, tài liệu thu thập được có tại hồ sơ vụ án cũng như lời trình bày của những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 04 giờ 00 phút ngày 27/10/2024, tại cổng phía Đông chợ P thuộc Tổ dân phố A, Thị trấn P, huyện P, Gia Lai, Ksor K1 có hành vi lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu tài sản, lén lút lấy trộm chiếc xe mô tô hiệu Super Dream biển số 17K2-0469 của chị Đặng Thị N. Trị giá chiếc xe mô tô được định giá là 3.000.000 đồng.
Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật; xâm phạm đến trật tự trị an xã hội ở địa phương. Bị cáo đã từng bị kết án khi ra tù không lấy đó làm bài học lo tu chí làm ăn mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện sự xem thường pháp luật. Do đó, cần xử phạt tù bị cáo với tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội, mới đạt được mục đích giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.
[2] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thấu xấu, năm 2015, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai xử phạt 03 tháng 15 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Năm 2016, bị Tòa án nhân dân huyện Phú Thiện, tỉnh Gia Lai xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người bị hại có đơn xin bãi nại giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là những tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS cần xét áp dụng cho bị cáo.
Sau khi trộm cắp được chiếc xe mô tô của bị hại, bị cáo đã điều khiển xe mô tô trộm cắp được gây tai nạn giao thông, bị lực lượng CSGT thu giữ chiếc xe. Giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận có người dẫn giải bị cáo đến Công an thị trấn P để làm việc, do đó không phải là bị cáo tự nguyện ra đầu thú nên không áp dụng tình tiết giảm nhẹ TNHS “người phạm tội tự nguyện đầu thú"
Trong vụ án này Đối với Nguyễn Văn H1, khi nhận mua biển số xe 17K2-0469 không biết Ksor Ken trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý, là đúng quy định.
[3] Về trách nhiệm dân sự và vật chứng vụ án: Bị hại chị Đặng Thị N đã nhận lại chiếc xe mô tô bị trộm cắp và không yêu cầu gì về dân sự nên HĐXX không xem xét giải quyết.
Đối với số tiền 45.000 đồng bị cáo bán chiếc mỏ lết, tua vít, 02 yếm xe của chị Đặng Thị N cho anh Nguyễn Văn H1, anh H1 không yêu cầu bị cáo trả lại số tiền trên. Đây là số tiền thu lợi bất chính nên cần truy thu đối với bị cáo sung công quỹ Nhà nước.
[4] Về hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Ksor K1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Ksor K1: 14 (Mười bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/11/2024
2. Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Truy thu đối với bị cáo Ksor K1 số tiền thu lợi bất chính số tiền 45.000₫ (Bốn mươi lăm ngàn đồng)
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Ksor K1 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước.
4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan trực tiếp đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình; người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được yết lên Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM -Tòa án ND tỉnh; THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA -VKSND H. Phú Thiện; -Chi cục THADS (khi án có hiệu lực PL)(Đã ký) -Bị cáo; -Bị hại; -Người có QLNV liên quan; -Lưu hồ sơ vụ án, AV. | Phạm Bá Thới |
Bản án số 04/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN, TỈNH GIA LAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 04/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ THIỆN, TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Ksor K 18 tháng tù.
