Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN ĐỒ SƠN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 04/2025/HS-ST

Ngày 26-02-2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân.

  • Ông Trần Thế Sự
  • Ông Nguyễn Khắc Quyết

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Vũ Duy Ninh - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 02/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. LÒ VĂN KHANH, sinh ngày 15 tháng 02 năm 2004 tại Lai Châu. Nơi cư trú: Bản C, xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn N, sinh năm 1981 và bà Lò Thị C, sinh năm 1984; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, nhân thân: Không; tiền sự: Có 01 tiền sự, K bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính “Giáo dục tại xã, phường, thị trấn” theo Quyết định số 497/QĐ-UBND ngày 13/10/2023 của Ủy ban nhân dân xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu do có hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn áp dụng 03 tháng, kể từ ngày 12/10/2023 đến ngày 06/01/2024, đã chấp hành xong (tính đến thời điểm phạm tội lần này, chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính); bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/8/2024 đến ngày 30/8/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận Đ, thành phố Hải Phòng; có mặt.

2. LÒ VĂN HƯƠNG, sinh ngày 25 tháng 9 năm 2004 tại Lai Châu. Nơi cư trú: Bản C, xã L, huyện S, tỉnh Lai Châu; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lò Văn T, sinh năm 1968 và bà Lò Thị T1, sinh năm 1972; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/8/2024 đến ngày 30/8/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an quận Đ, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị hại: Anh Nguyễn Hữu C1, sinh năm 2003; đăng ký thường trú: Thôn D, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; nơi ở hiện tại (theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án): Quán H4, khu C, phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng; nơi làm việc, nơi ở hiện tại: Tiệm bánh G, tổ F, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La (thông tin do bị hại cung cấp tại biên bản làm việc ngày 17/02/2025 tại Tòa án và tại phiên tòa); có mặt.

- Người bào chữa cho các bị cáo: Bà Vũ Thị Minh H, sinh năm 1990 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước thành phố H; địa chỉ: Số A đường L, phường Q, quận K, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Người làm chứng: Anh Trần Văn M, chị Nguyễn Thị Thu H1, anh Hoàng Đình T2, anh Lò Văn X; đều vắng mặt không lý do, đã triệu tập hợp lệ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ ngày 14/5/2024, anh Nguyễn Hữu C1, sinh năm 2003 với Nguyễn Hữu T3, sinh năm 2006 (em ruột anh C1); cùng đăng ký thường trú: Thôn D, xã Q, huyện H, tỉnh Nghệ An và một số người cùng làm cho Nhà hàng H5, địa chỉ: khu I, phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng tổ chức liên hoan sinh nhật cho anh C1 tại khu vực vỉa hè quán N1 (N), địa chỉ: khu I, phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng. Trong quá trình liên hoan cả nhóm có sử dụng đồ ăn, uống bia. Đến khoảng 23 giờ 10 phút cùng ngày, Lò Văn K, Lò Văn H2 làm việc cho nhà hàng T5, địa chỉ: khu I, phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng đến ăn uống, ngồi cạnh bàn có nhóm bạn với anh C1 đang liên hoan. Do K có quen biết với T3 từ trước nên đã sang bàn có nhóm anh C1 để uống bia cùng. Sau đó, K trở về bàn của mình và tiếp tục uống bia. Đến khoảng 02 giờ ngày 15/5/2024, nhóm bạn với anh C1 ăn uống xong cùng ra về, mọi người đi trước còn anh C1 với T3 đi sau. K, H2 rủ anh C1, T3 ở lại cùng uống bia, chỉ có anh C1 đồng ý ở lại, T3 về trước. K, H2 với anh C1 cùng uống bia đến khoảng 02 giờ 30 phút cùng ngày thì chủ quán nói cần đóng cửa dọn dẹp, nghỉ ngơi nên K đã mua thêm 10 lon bia nữa rồi cả ba cùng đi ra bãi cỏ cạnh đó uống tiếp. Trong quá trình uống bia, cho rằng anh C1 ép mình uống bia nên K đã nói với H2 bằng tiếng dân tộc T4 là khi đi về sẽ cùng nhau đánh anh C1, H2 đồng ý. Sau đó, cả ba cùng khoác vai nhau đi bộ về hướng Nhà hàng H5. Khi đi đến đoạn đường dốc cách cổng Nhà hàng H5 khoảng 30m, K bất ngờ dùng tay phải đấm 02 lần vào vùng mặt trái, vùng miệng của anh C1. H2 dùng tay phải đấm 01 lần vào vùng má trái của anh C1, bị đánh bất ngờ anh C1 ngã ngửa nằm trên đất. K dùng chân phải đá 02 lần vào vùng má trái thì thấy anh C1 bị chảy máu ở vùng mặt nên dừng lại. K, H2 cùng đưa anh C1 đến ngồi ở bậc thềm lối lên Nhà hàng H5 rồi đi về Nhà hàng T5. Sau đó, anh C1 được đưa đến bệnh viện điều trị thương tích.

Ngày 27/8/2024, K với H2 cùng đến Công an quận Đ đầu thú.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 478/2024/KLTTCT-TPYHP ngày 28/6/2024 của Trung tâm P, Sở Y kết luận thương tích của anh Nguyễn Hữu C1: “gãy cung tiếp gò má trái; gãy ngành ngang xương hàm dưới trái, gãy xương hàm trên trái (thành trước và sau xoang hàm trái); gãy xương thành ngoài hốc mắt trái; không thấy hình ảnh tổn thương nội sọ, không tụ máu nội sọ, không vỡ xương sọ. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại thời điểm giám định: 41%. Các thương tích có đặc điểm do vật tày, có thể có góc cạnh cứng tác động trực tiếp gây nên”.

Vật chứng thu giữ: Không.

Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Hữu C1 yêu cầu Lò Văn K, Lò Văn H2 cùng phải bồi thường tổng số tiền 79.035.904₫ (Bảy mươi chín triệu, không trăm ba mươi lăm nghìn, chín trăm linh tư đồng), gồm các khoản: Chi phí điều trị nội trú 25.999.904 đồng - từ ngày 17/5/2024 đến ngày 28/5/2024 (12 ngày) - Có Bảng kê chi phí điều trị, hóa đơn bán hàng của Bệnh Viện V - Hải Phòng; tiền ngày công lao động bị mất do anh C1 phải nghỉ để điều trị thương tích, không đi làm được trong 30 ngày, với mức lương 8.036.000 đồng/tháng (Có biên bản làm việc ngày 11/12/2024 do Điều tra viên lập tại Nhà hàng H5 do bà Phạm Thị B - Chủ Nhà hàng H3 sữa thuộc khu C, phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng cung cấp thông tin, xác nhận); tiền bồi thường tổn thất về tinh thần: 45.000.000đ (bốn mươi lăm triệu đồng) tương đương 25 tháng lương, tính theo mức lương cơ sở cũ 1.800.000 đồng/tháng. K, H2 chưa bồi thường.

Tại Cơ quan điều tra, Lò Văn K, Lò Văn H2 khai nhận toàn bộ về hành vi phạm tội như đã nêu trên. Lời khai nhận của K, H2 phù hợp với các lời khai của bị hại, người làm chứng, Kết luận giám định và tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 02/CT-VKSĐS ngày 03/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn truy tố Lò Văn K, Lò Văn H2 về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận toàn bộ về hành vi “Cố ý gây thương tích” đối với bị hại - Anh C1, các tình tiết khác có liên quan như nội dung vụ án đã nêu và khai: 02 Bị cáo không thuộc hộ cận nghèo, được hưởng chế độ chính sách cận nghèo của nhà nước. 02 bị cáo cùng nhận trách nhiệm sẽ bồi thường đủ theo yêu cầu của anh C1 với tổng số tiền 79.035.904₫ (Bảy mươi chín triệu, không trăm ba mươi lăm nghìn, chín trăm linh tư đồng), mỗi bị cáo nhận trách nhiệm bồi thường ½ tổng số tiền nêu trên. Do 02 bị cáo đều đang bị tạm giam, khi nào các bị cáo chấp hành án xong, được trả tự do, sẽ đi lao động để có thu nhập bồi thường anh C1 đủ số tiền nêu trên.

Tại phiên tòa, bị hại trình bày: Từ khi xảy ra sự việc đến nay, 02 bị cáo chưa bồi thường anh được nhận khoản tiền nào trong tổng số tiền anh yêu cầu 02 bị cáo phải bồi thường tổng số tiền 79.035.904₫ (Bảy mươi chín triệu, không trăm ba mươi lăm nghìn, chín trăm linh tư đồng). Tại phiên tòa, 02 bị cáo đã tự nguyện nhận trách nhiệm sẽ bồi thường anh ½ tổng số tiền nêu trên, anh đồng ý. Do chưa đến thời hạn tháo nẹp vít theo giấy ra viện ngày 28/5/2024 của Bệnh viện V - Hải Phòng. Vì vậy, anh chưa có tài liệu về chi phí tháo nẹp vít, nên chưa yêu 02 bị cáo phải bồi thường khoản chi phí này. Khi nào có tài liệu để chứng minh về chi phí tháo nẹp vít, anh sẽ yêu cầu 02 bị cáo bồi thường tiếp sau. Về mức hình phạt đối với 02 bị cáo, do 02 bị cáo chưa bồi thường, anh đề nghị xét xử theo quy định của pháp luật.

Sau quá trình thẩm vấn, đánh giá tính chất của vụ án cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của các bị cáo; đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng; đề xuất với Hội đồng xét xử về loại hình phạt, mức hình phạt, xử lý vật chứng, các vấn đề khác trong vụ án như sau:

  • - Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 58, 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt:
    • + Bị cáo Lò Văn K từ 07 (bảy) năm tù đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
    • + Bị cáo Lò Văn H2 từ 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù đến 07 (bảy) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày các bị cáo bị tạm giữ 27/8/2024.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các điều 584; 585; 586; 590 Bộ luật Dân sự chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa 02 bị cáo với bị hại; tuyên buộc các bị cáo Lò Văn K, Lò Văn H2 phải liên đới bồi thường bị hại tổng số tiền 79.035.904 đồng, mỗi bị cáo phải bồi thường ½ tổng số tiền bị hại yêu cầu.
  • - Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Các bị cáo đều phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm. Tuy nhiên, do 02 bị cáo đều thuộc diện được miễn án phí, cùng có đơn xin miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét để cho 02 bị cáo được miễn án phí.

Các bị cáo, bị hại đều được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Sau khi đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội, 02 bị cáo không tự bào chữa, cùng nhờ Trợ giúp viên pháp lý - Bà H bào chữa cho 02 bị cáo.

Bà H bào chữa cho 02 bị cáo:

Về tội danh và tình tiết định khung: Cáo trạng số 02/CT-VKS ngày 03/01/2025 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn truy tố Lò Văn K, Lò Văn H2 về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 là đúng người, đúng tội. Tôi nhất trí, không có ý kiến gì khác. Tuy nhiên, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, đánh giá về: Nguyên nhân, hoàn cảnh phạm tội, tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của các bị cáo. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Nhất trí với nội dung luận tội, đề nghị cho các bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, “đầu thú” theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với các bị cáo. Lò Văn H2, Lò Văn K đều là người dân tộc thiểu số nhận thức pháp luật còn hạn chế, các bị cáo lần đầu tiên thực hiện hành vi phạm tội, gia đình các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn thuộc hộ cận nghèo tại địa phương. Do vậy, đề nghị cho các bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Về hình phạt: Áp dụng chính sách hình sự không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới, đây cũng là nguyên tắc xử lý chung được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung 2017 là khoan hồng đối với người đầu thú, thành khẩn khai báo, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hối cải. Do vậy, đề nghị xem xét, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 134, điểm s Khoản 1 Điều 51, khoản 2, điểm đ khoản 1 Điều 3 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho các bị cáo hưởng mức hình phạt ở mức thấp nhất mà Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa và trừ cho các bị cáo số ngày bị tạm giữ, tạm giam. Phần dân sự trong vụ án hình sự: Bị hại yêu cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 79.035.904 đồng trong đó: Tiền khám chữa bệnh, mua thuốc, kê khai hóa đơn bệnh viện: 25.999.904 đồng (có hóa đơn); thu nhập bị mất trong thời gian điều trị thương tích là 30 ngày: 8.036.000 đồng (có xác nhận của cơ sở làm việc); tiền bồi thường tổn thất về tinh thần: 45.000.000 đồng. Các thiệt hại nêu trên do các bị cáo gây ra cho bị hại, căn cứ vào quy định tại các điều 584, 586, 590 Bộ luật Dân sự thì các bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bị hại. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay 02 bị cáo cùng đồng ý, tự nguyện bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của bị hại, mỗi bị cáo tự nhận trách nhiệm bồi thường ½ tổng số tiền 79.035.904 đồng bị hại yêu cầu. Căn cứ quy định tại Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015, Điều 585 Bộ luật Dân sự đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa 02 bị cáo với bị hại. Về án phí: Do các bị cáo thuộc hộ cận nghèo và có đơn đề nghị miễn án phí. Căn cứ điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Đề nghị Hội đồng xét xử miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm cho các bị cáo.

02 bị cáo cùng thể hiện thái độ “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, xin giảm nhẹ hình phạt. Người bào chữa giữ nguyên nội dung bào chữa. Bị hại giữ nguyên yêu cầu về bồi thường. Không ai có tranh luận, đối đáp gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Đ, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.1] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Những người làm chứng đều đã được triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, họ đã có lời khai đầy đủ, phù hợp với lời khai của 02 bị cáo; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xác định, sự vắng mặt đó không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ như đề nghị của bị cáo, Kiểm sát viên tại phiên tòa theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Về tội danh, điều luật áp dụng:

[2] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú; các lời khai của bị hại, lời khai của người làm chứng; vật chứng thu giữ, Kết luận giám định, sơ đồ, bản ảnh hiện trường và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 03 giờ ngày 15/5/2024, tại khu vực đường dốc trước cửa Nhà hàng H5, địa chỉ: khu I, phường V, quận Đ, thành phố Hải Phòng. Vì nguyên nhân nhỏ nhặt (Lò Văn K, Lò Văn H2 cho rằng anh Nguyễn Hữu C1 ép mình uống bia) nên đã sử dụng tay, chân đánh gây thương tích làm anh C1 bị tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể: 41% (theo Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 478/2024/KLTTCT-TPYHP ngày 28/6/2024 của Trung tâm P, Sở Y). Vì vậy, hành vi của các bị cáo đã có đủ các yếu tố cấu thành tội "Cố ý gây thương tích" theo quy định tại khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết định khung:

[3] Với hành vi nêu trên của các bị cáo, xác định: Xuất phát từ nguyên nhân nhỏ nhặt, không có mâu thuẫn gì với nhau từ trước. Nhưng do 02 bị cáo cùng hiểu nhầm ý anh C1 nói trong lúc cùng ngồi uống bia, tự hiểu theo nghĩa: “Anh cảnh có lời nói với ý ép 02 bị cáo phải uống bia”. Nên trên đường đi về cùng nhau, 02 bị cáo cùng thống nhất với nhau để thực hiện hành vi “Gây thương tích cho anh C1 với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể 41%”. Vì vậy, các bị cáo cùng phải chịu tình tiết định khung theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự: “..i) Có tính chất côn đồ”. Do đó, Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự “... Gây thương tích tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.” là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[4] Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, bị cáo K có 01 tiền sự, nên cần áp dụng một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi bị cáo K đã gây ra đối với bị hại.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5] Sau khi phạm tội, các bị cáo đã đến Công an quận Đ để đầu thú; trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Đánh giá vai trò của mỗi bị cáo theo các tài liệu có trong hồ sơ, thể hiện: Các bị cáo có mối quan hệ xã hội, quen biết nhau từ trước, đều là người cùng làm thuê tại nhà hàng T5. Tuy nhiên, không có sự bàn bạc, phân công từ trước giữa các bị cáo. Nên xác định đây là loại vụ án có đồng phạm giản đơn, do các bị cáo đều cùng thống nhất, cùng trực tiếp thực hiện hành vi gây thương tích cho anh C1. Bị cáo K có vai trò là người đưa ra ý kiến rủ H2 cùng đánh anh C1. Bị cáo H2 có vai trò là người thực hành tích cực, mặc dù không có mâu thuẫn gì với anh C1 từ trước nhưng H2 vẫn đồng ý cùng K để đánh anh C1. Do đó, bị cáo K phải chịu trách nhiệm hình sự với mức hình phạt cao hơn bị cáo H2.

- Về hình phạt:

[7] Về hình phạt chính: Từ những phân tích về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội, về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo. Đánh giá hành vi phạm tội "Cố ý gây thương tích" của các bị cáo thuộc loại tội phạm rất nghiêm trọng. Hành vi của các bị cáo có tính chất côn đồ để gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, trật tự an toàn xã hội. Bị cáo K có nhân thân xấu như đã phân tích tại mục [4]. Xác định loại hình phạt: Hội đồng xét xử nhận thấy, cần bắt các bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[8] Về trách nhiệm dân sự, bồi thường thiệt hại: Tại phiên tòa bị hại với 02 bị cáo đã thỏa thuận tổng số tiền bồi thường 79.035.904 đồng. Xét thấy hành vi phạm tội của 02 bị cáo làm anh C1 bị tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể 41%. Do vậy, việc anh C1 yêu cầu 02 bị cáo liên đới bồi thường anh C1 tổng số tiền 79.035.904 đồng gồm các khoản: Tiền thuốc, viện phí; tiền thu nhập bị mất do anh C1 phải nghỉ làm để điều trị thương tích; tiền tổn thất về tinh thần là hoàn toàn có căn cứ. Hội đồng xét xử chấp nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa anh C1 với 02 bị cáo, các bị cáo nhận trách nhiệm bồi thường ½ tổng số tiền nêu trên. Vì vậy, buộc 02 bị cáo phải liên đới bồi thường anh C1 tổng số tiền 79.035.904 đồng, nên mỗi bị cáo phải bồi thường anh C1 39.517.952 đồng.

- Các vấn đề khác:

[9] Về án phí: 02 bị cáo cùng phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định. Tuy nhiên, 02 bị cáo thuộc diện được miễn nghĩa vụ nộp tiền án phí và có đơn xin miễn án phí: Cho 02 bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

[10] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại đều có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Về hình phạt chính:

Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 17, 58, 38 Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố các bị cáo Lò Văn K, Lò Văn H2 đồng phạm tội “Cố ý gây thương tích".

Xử phạt:

  • + Bị cáo Lò Văn K 07 (Bảy) năm tù.
  • + Bị cáo Lò Văn H2 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày các bị cáo bị tạm giữ 27/8/2024.

- Về trách nhiệm dân sự:

Căn cứ các điều 584, 585, 586, 587, 590 Bộ luật Dân sự: Buộc các bị cáo Lò Văn K, Lò Văn H2 cùng phải liên đới bồi thường anh Nguyễn Hữu C1 tổng số tiền 79.035.904₫ (Bảy mươi chín triệu, không trăm ba mươi lăm nghìn, chín trăm linh tư đồng), mỗi bị cáo phải bồi thường anh C1 số tiền 39.517.952₫ (Ba mươi chín triệu, năm trăm mười bảy nghìn, chín trăm năm mươi hai đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Về án phí:

Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: 02 bị cáo cùng được miễn nghĩa vụ nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm đối với số tiền 02 bị cáo phải bồi thường bị hại.

- Về quyền kháng cáo:

Căn cứ các điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: 02 bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7ª và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Đồ Sơn, TPHP;
  • - Trại tạm giam Công an TPHP;
  • - Phòng PV06, PC10 CA TPHP;
  • - Chi cục THADS quận Đồ Sơn;
  • - Sở Tư pháp TP Hải Phòng;
  • - Các bị cáo, bị hại;
  • - UBND xã Lùng Thàng, Sìn Hồ, Lai Châu;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Đức Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 04/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lò Văn K, Lò Văn H phạm tội cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger