|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 04/2025/HS-ST Ngày 14 - 3 - 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN
***
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông TRẦN QUANG HÒA
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Văn Tuyên và bà Lê Thị Khuyên
Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hoàn, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Hoài Thu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2025/TLST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025 đối với:
- Bị cáo: Dương Văn T (Tên gọi khác: Không có), sinh ngày 29 tháng 4 năm 19xx tại xã C, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; HKTT và nơi ở hiện nay: Thôn P, xã C, huyện N, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn) lớp 7/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn T1 (Đã chết) và bà Hoàng Thị H; có vợ Lý Thị H1 (Đã ly hôn năm 2022) và 01 con; tiền án: Không; tiền sự: 01; bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2025 đến nay có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Ông Đỗ Văn D, sinh năm 1969; địa chỉ: Cụm x, xã S; huyện P, thành phố Hà Nội; nơi ở hiện nay: Tổ nhân dân H (Nay là tổ dân phố số z), thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn, (Có mặt);
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Trần Thị N, sinh năm 1978, (Vắng mặt);
- Địa chỉ: Thôn P, xã S, huyện N, tỉnh Bắc Kạn;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 11/11/2024, ông Đỗ Văn D về nhà ở tại tổ nhân dân H (Nay là tổ dân phố số x), thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn thì phát hiện cửa sau nhà đã bị cậy. Kiểm tra trong nhà ông D phát hiện bị mất: 15 cây sắt có đường kính 10 mm được uốn hình chữ “U” có kích thước bằng nhau và kích thước các cạnh lần lượt là 68cm, 57cm, 57cm đã qua sử dụng; 01 cây sắt hình chữ “V” có kích thước dài 04m, 02 cạnh chữ “V” có kích thước 04cm x 04 cm, dày 0,3cm đã qua sử dụng; 03 cây sắt hình chữ “V” có kích thước dài bằng nhau là 03m/cây sắt, các cạnh chữ “V” có cùng kích thước 04cm x 04 cm, dày 0,3cm đã qua sử dụng. Đến ngày 13/11/2024, ông D phát hiện bà Trần Thị N là người đã mua lại số sắt trên và xác định người bán số sắt trên cho bà N là Dương Văn T đồng thời ông D đã trả số tiền 231.000 đồng cho bà N để chuộc lại số sắt đã bị T đem bán. Ngày 18/12/2024, ông D đã trình báo sự việc với Công an thị trấn Y và Công an thị trấn đã tạm giữ số sắt trên.
Ngày 19/12/2024, Công an thị trấn Y đã chuyển tài liệu và vật chứng liên quan đến vụ việc đến Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) huyện N để giải quyết theo thẩm quyền. Sau khi tiếp nhận thông tin tố giác tội phạm, Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã tiến hành xác minh và xác định người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của ông D là Dương Văn T. Trước khi T trộm cắp tài sản của ông D thì T đã bị UBND xã C, huyện N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản bằng hình thức phạt tiền theo quyết định số 184/QĐ-XPHC ngày 06/12/2023. Ngày 19/6/2024, T mới chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính nói trên theo Biên lai thu thuế, phí, lệ phí và thu phạt vi phạm hành chính số 1793195 của Agribank chi nhánh N.
Ngày 25/12/2024 và ngày 20/01/2025 cùng có mặt Dương Văn T, Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã tiến hành khám nghiệm hiện trường và thực nghiệm điều tra đối với vụ việc. Quá trình khám nghiệm và thực nghiệm điều tra, T chỉ chính xác vị trí để 15 cây sắt có đường kính 10 mm được uốn hình chữ “U” có kích thước bằng nhau và kích thước các cạnh lần lượt là 68cm, 57cm, 57cm đã qua sử dụng; 01 cây sắt hình chữ “V” có kích thước dài 04m, 02 cạnh chữ “V” có kích thước 04cm x 04 cm, dày 0,3cm đã qua sử dụng; 03 cây sắt hình chữ “V” có kích thước dài bằng nhau là 03m/cây sắt, các cạnh chữ “V” có cùng kích thước 04cm x 04 cm, dày 0,3cm đã qua sử dụng do T trộm cắp và thực hiện lại toàn bộ hành vi trộm cắp các tài sản trên của ông D vào ngày 11/11/2024.
Ngày 20/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện N ban hành yêu cầu định giá tài sản số 802 để xác định giá trị của 15 cây sắt có đường kính 10 mm được uốn hình chữ “U” có kích thước bằng nhau và kích thước các cạnh lần lượt là 68cm, 57cm, 57cm đã qua sử dụng; 01 cây sắt hình chữ “V” có kích thước dài 04m, 02 cạnh chữ “V” có kích thước 04cm x 04 cm, dày 0,3cm đã qua sử dụng; 03 cây sắt hình chữ “V” có kích thước dài bằng nhau là 03m/cây sắt, các cạnh chữ “V” có cùng kích thước 04cm x 04 cm, dày 0,3cm đã qua sử dụng. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐGTS ngày 26/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N kết luận: Giá trị của 15 cây sắt phi 10 có đường kính 10 mm có khối lượng 26,2kg là 375.525 đồng; 04 cây sắt V có khối lượng 14,4kg là 216.000đồng. Tổng trị giá tài sản tại thời điểm bị mất trộm có trị giá là 591.525 đồng.
Ngày 27/12/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã tiếp tục tạm giữ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda; màu đen đỏ; không gương chiếu hậu; không gắn biển kiểm soát; tình trạng vỏ yếm xe đã vỡ tại nhiều vị trí; xe cũ đã qua sử dụng của Đỗ Văn D. Qua điều tra, xác minh xác định chiếc xe mô tô trên có biển kiểm soát 97B1-427.xx; số máy: JA31E01537xx; số khung 3110EY0793xx đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 0023xx ngày 20/01/2015 cho ông Lương Văn T3 (Năm 2018 đã cải chính hộ tịch là Lương Xuân T3) có địa chỉ tại thôn X, xã L (Nay là xã S), huyện N, tỉnh Bắc Kạn. Đầu năm 2015, ông T3 đã bán chiếc xe mô tô này cho ông Đỗ Văn D với giá 20.000.000đ nhưng không lập giấy tờ mua bán và không có tranh chấp.
Tại cơ quan điều tra, Dương Văn T đã ăn năn, hối cải, thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của bản thân phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập theo trình tự tố tụng hình sự, cụ thể như sau: T là người làm thuê cho ông Đỗ Văn D nên được ông D cho mượn chiếc xe mô tô để đi lại hàng ngày. Do có mục đích trộm cắp tài sản của ông D để bán lấy tiền chi tiêu cho bản thân nên khoảng 09 giờ 00 phút ngày 11/11/2024, T điều khiển chiếc xe mô tô không biển số của ông D theo đường bờ đê đến cửa sau nhà ông D. Vào khoảng 10 giờ hơn T đến nơi và dừng xe mô tô, đầu xe hướng đường tránh phía Tây rồi đi bộ đến cửa phụ sau nhà ông D. Do cửa không khóa nên T đã mở cửa đi vào trong nhà thì phát hiện 15 cây sắt có đường kính 10 mm được uốn hình chữ “U” đặt dưới nền nhà, tại vị trí phía bên phải cửa phụ. T đã mang 15 cây sắt này ra vị trí để xe, đặt lên yên xe mô tô rồi tiếp tục quay vào nhà lấy thêm 04 cây sắt chữ “V” đang đặt dưới nền nhà, vị trí bên trái cửa rồi vác 04 cây sắt chữ “V” này trên vai trái ra chỗ vị trí để xe mô tô. T điều khiển xe mô tô chở toàn bộ số sắt vừa lấy trộm được đến cửa hàng tạp hóa của bà Trần Thị N có địa chỉ tại thôn P, xã S, huyện N để bán cho bà N được số tiền 231.000đ. Số tiền này, T đã chi tiêu hết cho bản thân. Trước đó, vào tháng 6 năm 2024, T đã chấp hành xong Quyết định xử phạt vi phạm hành chính của UBND xã C về hành vi trộm cắp tài sản xảy ra năm 2023. T không có tiền án; gia đình không có ai được Nhà nước tặng thưởng Huân, Huy chương gì.
Vật chứng của vụ án:
- - 15 cây sắt có đường kính 10 mm được uốn hình chữ “U” có kích thước bằng nhau và kích thước các cạnh lần lượt là 68cm, 57cm, 57cm đã qua sử dụng; 01 cây sắt hình chữ “V” có kích thước dài 04m, 02 cạnh chữ “V” có kích thước 04cm x 04 cm, dày 0,3cm đã qua sử dụng; 03 cây sắt hình chữ “V” có kích thước dài bằng nhau là 03m/cây sắt, các cạnh chữ “V” có cùng kích thước 04cm x 04 cm, dày 0,3cm đã qua sử dụng; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda màu đen đỏ; không có gương chiếu hậu; không gắn biển kiểm soát; yếm xe đã bị vỡ tại nhiều vị trí; xe đã qua sử dụng. Qua điều tra, xác minh xác định các tài sản trên là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của ông Đỗ Văn D nên ngày 07/02/2025, Cơ quan CSĐT Công an huyện N đã trả lại toàn bộ tài sản trên cho ông D là có căn cứ nên Tòa án không xem xét giải quyết.
- - Đối với số tiền 231.000₫ bị cáo có được do bán các thanh sắt thuộc sở hữu của ông Đỗ Văn D cho bà Trần Thị N đã được bị cáo chi tiêu hết nên cơ quan CSĐT Công an huyện không thu giữ được.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi đã nhận lại các tài sản trên, ông Đỗ Văn D không yêu cầu T bồi thường gì thêm. Đối với số tiền 231.000₫ đã đưa cho bà Trần Thị N để chuộc lại số tài sản bị T đem bán thì ông D cũng không có yêu cầu gì đối với T. Bà N cũng không yêu cầu T trả lại số tiền 231.000₫ mà bà N đã đưa cho T khi mua số sắt mà T đem bán.
Tại bản cáo trạng số: 06/CT-VKS-NR ngày 20/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện N để xét xử bị cáo: Dương Văn T về tội "Tội trộm cắp tài sản" theo điểm a khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (Sau đây viết tắt là BLHS 2015).
Tại phiên tòa, Dương Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân đúng như lời khai của T tại cơ quan điều tra và cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố. Ngoài ra T còn khai nhận: T là người làm thuê cho ông D đến trước khi trộm cắp tài sản của ông D được 02 tháng và biết sáng ngày 11/11/2024 ông D đi vắng, không có ai ở nhà nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của ông D đã bán lấy tiền sử dụng cho cá nhân. Khi bán số sắt nói trên cho bà N thì T không nói và bà N cũng không hỏi nguồn gốc của số sắt T đem bán. Sau khi ông D phát hiện việc T lấy trộm sắt đem bán đến trước ngày 18/12/2024 thì ông D không có yêu cầu gì đối với T. Đối với số tiền 231.000₫ do phạm tội mà có thì T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra, ngoài số tài sản T trộm cắp cùng chiếc xe mô tô của ông D mà T sử dụng để chở số tài sản trộm cắp đem đi bán đã được ông D giao nộp cho cơ quan Công an thì T không bị tạm giữ tài sản, đồ vật gì. Bản thân T làm lao động tự do, thu nhập không ổn định; vợ đã ly hôn, hiện nay ở cùng mẹ đẻ, còn cha đã chết; gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo; bản thân bị cáo không có tài sản gì nên đề nghị miễn hình phạt bổ sung; T không có ý kiến gì về tiền án phí hình sự sơ thẩm và không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phần tranh tụng và lời nói sau cùng, T có ý kiến xin giảm nhẹ mức hình phạt chính và nhất trí nộp ngân sách Nhà nước số tiền do Tuyền phạm tội mà có.
Tại biên bản ghi lời khai và tại phiên tòa, ông Đỗ Văn D đã khai nhận các tình tiết liên quan đến số tài sản bị chiếm đoạt và chiếc xe mô tô T sử dụng để chở số tài sản đã trộm cắp đúng như bản cáo trạng. Số tài sản bị T chiếm đoạt trái phép và chiếc xe mô tô mà T mượn sử dụng là tài sản thuộc sở hữu của cá thân ông D chứ không phải là tài sản chung của gia đình ông. Sau khi phát hiện bị mất tài sản vào ngày 11/11/2024 ông D không báo cho Công an ngay mà đến ngày 18/12/2024 mới báo cho công an thị trấn Y là do ông chưa có đủ bằng chứng. Về trách nhiệm dân sự: Toàn bộ số tài sản bị T lấy trộm và chiếc xe mô tô T sử dụng làm phương tiện chở số tài sản đã trộm cắp đi tiêu thụ đã được Cơ quan CSĐT trả lại đầy đủ nên ông D không yêu cầu T phải bồi thường gì thêm; ông D cũng không yêu cầu T phải hoàn trả số tiền 231.000 đồng mà ông D đã trả cho bà N để chuộc lại số tài sản T đã đem bán. Về trách nhiệm hình sự, ông D đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết bị cáo nghiêm khắc theo quy định của pháp luật. Ngoài ra ông D không có ý kiến gì khác.
Tại biên bản ghi lời khai và đơn xin xét xử vắng mặt của bà Trần Thị N đã khai nhận các tình tiết liên quan đến số tài sản bà đã mua của T và số tài sản đã mua được ông D chuộc lại đúng như bản cáo trạng. Khi mua số tài sản của T đem bán thì bà không biết là do T trộm cắp mà có. Đối với số tiền bà N đã trả cho T để mua tài sản của T bán đã được ông D trả lại đầy đủ và bà đã trả lại toàn bộ tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của ông D cho ông D nên bà không có yêu cầu gì với bị cáo. Ngoài ra bà N không còn ý kiến gì khác.
Qua tranh tụng tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Dương Văn T phạm tội "Tội trộm cắp tài sản" và đề nghị Tòa án: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 173; điểm b khoản 1 Điều 47; Điều 38; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của BLHS 2015; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (BLTTHS 2015); Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
- - Xử phạt bị cáo Dương Văn T từ 06 tháng đến 9 tháng tù giam, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 08/01/2025); tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án cho bị cáo; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- - Về trách nhiệm dân sự: Do ông Đỗ Văn D và bà Trần Thị N không có yêu cầu trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên trách nhiệm dân sự của bị cáo đối ông D, bà N không được đặt ra để xem xét giải quyết.
- - Truy thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 231.000₫ do phạm tội mà có đối với Dương Văn T.
- - Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật .
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện N, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại có mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Người tham gia tố tụng có mặt và Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vắng mặt họ. Hội đồng xét xử xét thấy: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt đã có đơn xin xét xử vắng mặt và đã có lời khai. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292 BLTTHS 2015.
[2] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở kết luận: Bản thân Dương Văn T biết ông Đỗ Văn D vắng nhà vào buổi sáng ngày 11/11/2024 và đã có mục đích trộm cắp tài sản của ông D để bán lấy tiền chi tiêu cho bản thân, nên khoảng 10 giờ hơn ngày 11/11/2024, một mình T lén lút mở cửa phụ không khóa sau nhà ông D có địa chỉ tại tổ nhân dân H (Nay là tổ dân phố số x), thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn để vào trong nhà chiếm đoạt trái phép 15 cây sắt có đường kính 10 mm được uốn hình chữ “U” và 04 cây sắt chữ “V” dày 0,3cm rồi đem bán được số tiền 231.000đ. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐGTS ngày 26/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện N kết luận: Giá trị của 15 cây sắt phi 10 có đường kính 10 mm có khối lượng 26,2kg là 375.525 đồng; 04 cây sắt V có khối lượng 14,4kg là 216.000đồng. Tổng trị giá tài sản tại thời điểm bị mất trộm có trị giá là 591.525 đồng.
Mặc dù trị giá tài sản bị cáo chiếm đoạt trái phép ngày 11/11/2024 dưới 2.000.000 đồng, nhưng do bị cáo tái phạm hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 11/11/2024 trong thời gian chưa được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 184/QĐ-XPHC ngày 06/12/2023 của UBND xã C, huyện N, tỉnh Bắc Kạn và Biên lai thu thuế, phí, lệ phí và thu phạt vi phạm hành chính số 1793195 ngày 19/6/2024 của Agribank chi nhánh N được quy định tại Điều 7 của Luật xử lý vi phạm hành chính.
Do vậy, hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành “Tội trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 173 của BLHS 2015. Điều luật có nội dung: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá ... dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
- a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;...
- 5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”
[3] Xét về các tình tiết quyết định mức hình phạt:
Về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo T là ít nghiêm trọng. Khi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn thực hiện nên bị cáo phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo T đã trực tiếp xâm phạm vào quan hệ sở hữu tài sản của người khác được Luật hình sự bảo vệ; gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương.
Về nhân thân: Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; tiền án không có; tiền sự: Có 01 như đã phân tích về tình tiết định tội ở trên.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo đã hoàn thành, nhưng thiệt hại không lớn do bị hại đã lấy lại được tài sản; tài sản không bị hư hỏng; tài sản bị chiếm đoạt được bị hại sử dụng cho mục đích làm phương tiện, đồ nghề trong hành nghề xây dựng và chưa được bị hại vận sử dụng ngay; tài sản bị trộm cắp có trị giá dưới 2.000.000đ. Nhưng do đã bị xử phạt hành chính về hành vi này rồi mà vẫn còn tái phạm nên mới đủ yếu tố cấu thành tội phạm; bị cáo phạm tội thuộc trường hợp lần đầu và ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của BLHS 2015. Bị hại đề nghị xử phạt bị cáo nghiêm minh theo qui định của pháp luật; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 của BLHS 2015.
Căn cứ vào các tình tiết trên, tổng hợp các tình tiết của vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét thấy: Cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian và phải chịu một mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo mới đảm bảo mục đích giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung và tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm thi hành án cho bị cáo.
Về hình phạt bổ sung: Do bản thân bị cáo là lao động tự do; thu nhập không ổn định, không có tài sản riêng; hiện nay chỉ có hai mẹ con sống nương tựa vào nhau; gia đình bị cáo thuộc hộ cận nghèo theo biên bản xác minh của Cơ quan CSĐT Công an huyện N với UBND xã C lập ngày 12/02/2025. Xác định bị cáo không có khả năng thi hành án nên xét thấy cần miễn áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173 của BLHS 2015 đối với bị cáo là phù hợp.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Do tài sản đã được trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Đỗ Văn D, ông D không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại gì thêm và không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả số tiền 231.000₫ mà ông D dùng để chuộc lại tài sản từ bà N nên trách nhiệm dân sự của bị cáo với ông D không xem xét giải quyết; bà Trần Thị N không yêu cầu bị cáo phải trả lại số tiền 231.000₫ mà bà N đã trả tiền mua sắt cho T do đã nhận tiền chuộc lại tài sản từ ông D nên không xem xét giải quyết.
[5] Về vấn đề khác: Đối với hành vi mua bán tài sản do phạm tội mà có của bà Trần Thị N, trong quá trình điều tra đã xác định được khi bà N mua tài sản do bị cáo bán, bà N không biết tài sản đã mua là do T phạm tội mà có nên Cơ quan CSĐT Công an huyện N không xem xét xử lý theo pháp luật đối với bà Trần Thị N là có căn cứ.
[6] Về xử lý vật chứng: Đối với số tiền 231.000₫ bị cáo có được do bán các thanh sắt thuộc sở hữu của người khác cho bà Trần Thị N được xác định là vật chứng của chứng của vụ án; là tiền do phạm tội mà có đã được bị cáo chi tiêu hết cho bản thân nên cần truy thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 231.000đ đối với bị cáo Dương Văn T.
[7] Về án phí: Mặc dù bị cáo thuộc hộ cận nghèo nhưng không có đơn xin miễn án phí và bị cáo cũng không có ý kiến gì về khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm nên buộc bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Quan điểm giữ nguyên nội dung bản cáo trạng; các điều luật, tội danh, mức hình phạt chính; các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự; trách nhiệm dân sự và biện pháp tư pháp đề nghị áp dụng đối với bị cáo của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Rì tại phiên tòa là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b khoản 1 Điều 47; điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 của BLHS 2015;
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 106; các Điều 136, 292, 329, 331, 333 của BLTTHS 2015.
Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[1] Về Tội phạm: Tuyên bố bị cáo Dương Văn T (Tên gọi khác: Không có) phạm tội "Tội trộm cắp tài sản".
[2] Về hình phạt:
- - Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Dương Văn T 09 (Chín) tháng tù giam. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 08/01/2025).
- Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể ngày tuyên án để đảm bảo cho việc thi hành án.
- Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Dương Văn Tuyền.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Do ông Đỗ Văn D và bà Trần Thị N không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại về tài sản gì thêm nên trách nhiệm dân sự của bị cáo đối với ông D, bà N không được đặt ra để xem xét giải quyết.
[4] Về xử lý vật chứng: Truy thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 231.000 đồng (Hai trăm ba mươi mốt nghìn đồng) do phạm tội mà có đối với bị cáo Dương Văn T.
[5] Về án phí: Buộc bị cáo Dương Văn T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[6] Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo Dương Văn T và bị hại ông Đỗ Văn D có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bà Trần Thị N là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của họ trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) TRẦN QUANG HÒA |
Bản án số 04/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN về hình sự (tội trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 04/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản dưới 2.000.000 đồng
