Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐÀ BẮC

TỈNH HÒA BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HS-ST

Ngày: 12/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÀ BẮC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Lự

Các Hội thẩm nhân dân: Bà: Phạm Thị Dần

Ông: Nguyễn Bình Nam

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Ngọc Tùng Trúc – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Đà Bắc tham gia phiên tòa: Ông Đinh Trọng Kiêm - Kiểm sát viên

Trong ngày 12 tháng 3 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Đà Bắc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 03/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

  1. Họ và tên: LƯỜNG VĂN L;Tên gọi khác: Không
  2. Sinh ngày 20/11/1983; Giới tính: Nam;

    Nơi cư trú: Xóm C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình;

    Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không;

    Nghề nghiệp: Công chức; Trình độ văn hóa: 12/12

    Bị cáo là Đảng viên Đ1. Ngày 14/10/2024, đã bị Ủy ban kiểm tra Huyện ủy Đ2 ra Quyết định số 171-QĐ/UBKTHU Đình chỉ sinh hoạt Đảng.

    Con ông Lường Văn H, sinh năm 1965 và bà Xa Thị H1, sinh năm 1962;

    Bị cáo có vợ là Lường Thị H2, sinh năm 1985, có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2005, con nhỏ nhất sinh năm 2011;

    Gia đình bị cáo có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình;

    Tiền án, tiền sự: Không;

    Bị cáo hiện đang được tại ngoại, có mặt tại phiên Tòa.

Bị hại: Bùi Văn C, sinh năm 1987, trú tại: xóm T Trên, xã H, huyện C, tỉnh Hòa Bình. Có mặt;

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

  1. Hà Văn Q, sinh năm 1968, trú tại: xóm B, xã M, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Có mặt;
  2. Nguyễn Nam G, sinh năm 1988, trú tại: tiểu khu L, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt;
  3. Vì Thị K, sinh năm 1987, trú tại: xóm N, xã M, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình. Vắng mặt;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lường Văn L sinh ngày 20/11/1983, trú tại xóm C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình là Công chức Địa chính - Nông nghiệp - Xây dựng và môi trường thuộc Ủy ban nhân dân xã M, huyện Đ từ ngày 01/01/2019 với nhiệm vụ: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân xã T thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân xã trong các lĩnh vực: đất đai, tài nguyên, nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới trên địa bàn theo quy định của pháp luật; Chủ trì, phối hợp với công chức khác thực hiện các thủ tục hành chính trong việc tiếp nhận hồ sơ và thẩm tra để xác minh nguồn gốc, hiện trạng đăng ký và sử dụng đất đai,....

Tháng 02/2023, ông Hà Văn Q sinh năm 1968 trú tại xóm B, xã M, huyện Đ có nhu cầu sang tên, nhượng một phần quyền sử dụng đất của ông Q đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được UBND huyện Đ2 cấp ngày 31/12/2008 có số phát hành AL 866517, số vào sổ H 00031, diện tích 180 m² với mục đích sử dụng là đất ở lâu dài tại nông thôn cho anh Bùi Văn C sinh năm 1987 trú tại xóm T Trên, xã H, huyện C tỉnh Hòa Bình. Ông Q đã đến gặp Lường Văn L để làm thủ tục đề nghị sang tên một phần quyền sử dụng đất từ ông Q sang cho anh C và được L trả lời rằng để sang tên cần tiến hành đo đạc lại hiện trạng sử dụng đất, cấp đổi lại Giấy chứng nhận và thực hiện thủ tục tách thửa. Ngày 01/3/2023, L cùng với Nguyễn Nam G là cán bộ hợp đồng đo đạc địa chính làm việc tại chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ, ông Q và anh C cùng tiến hành đo đạc địa chính thửa đất của ông Q tại xóm B, xã M. Sau khi đo đạc xong, anh C muốn mời L và G ăn cơm trưa nhưng L và G không nhận lời nên anh C đưa cho ông Q số tiền 2.000.000( Hai triệu đồng) nhờ ông Q đưa cho L và G để cảm ơn, Lường Văn L nhận số tiền và đưa cho Nguyễn Nam G 1.000.000( Một triệu đồng). Biết được anh C có nhu cầu cần làm hồ sơ nên trên đường về L gọi điện cho anh C hẹn gặp tại quán N thuộc xóm C, xã M. Tại đây, L nói với anh C để sang tên quyền sử dụng đối với thửa đất này phải làm nhiều thủ tục, nộp nhiều khoản phí L nhận làm hồ sơ cho anh C với số tiền 30.000.000 (Ba mươi triệu đồng) và hứa trong vòng 03 tháng sẽ có kết quả. Do không biết về các thủ tục hành chính cũng như chi phí và tin tưởng L do L là công chức địa chính nên anh C đồng ý. Lường Văn L yêu cầu anh C phải nộp trước một nửa tiền để L làm hồ sơ nên anh C đã sử dụng tài khoản ngân hàng N1, số tài khoản 3010205076199 của anh C và chuyển số tiền 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng) vào tài khoản ngân hàng N1, số tài khoản 3002205006947 của Lường Văn L. Sau khi hoàn thiện các giấy tờ hồ sơ trích đo thửa đất của ông Q ngày 20/3/2023 khi có kết quả trích đo địa chính, L đã nộp hộ cho ông Q số tiền 2.314.000 đồng (Hai triệu ba trăm mười bốn nghìn đồng) tiền phí trích đo tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả thuộc chi nhánh V đăng ký đất đai tại UBND huyện Đ2, số tiền còn lại L dùng để chi tiêu cá nhân. Ngày 31/5/2023, L hoàn thiện các giấy tờ, hồ sơ đề nghị cấp đổi, cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Q. Quá trình giải quyết hồ sơ, xác minh đủ điều kiện cấp đổi Giấy chứng nhận và chỉ cần đợi Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Hòa Bình phê duyệt ký cấp đổi là có kết quả. Ngày 07/6/2023, L yêu cầu anh C nộp thềm số tiền 13.000.000 (Mười ba triệu đồng) với lý do để L tiếp tục làm hồ sơ. Anh C vẫn tin tưởng nên nhờ vợ là chị Vì Thị K sử dụng tài khoản ngân hàng N1, số tài khoản 3002215020475 chuyển vào tài khoản của Lường Văn L số tiền 13.000.000 (Mười ba triệu đồng). Lứng nhận được tiền rồi sử dụng chi tiêu hết. Ngày 27/7/2023 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Q được cấp đổi tuy nhiên L không thể tiếp tục làm thủ tục sang tên quyền sử dụng đất cho anh C do UBND huyện Đ2 đã ban hành Thông báo số 71/UB-UBND về việc thu hồi một phần thửa đất hộ nhà ông Hà Văn Q để thực hiện dự án Đường trung tâm xã Đ đi xã M. Sau một thời gian chờ đợi không có kết quả, anh C đã gọi điện nhiều lần yêu cầu L trả lại hoàn bộ số tiền L nhận để làm hồ sơ nhưng L chỉ trả lại số tiền 13.000.000 đồng. Ngày 10/9/2024, anh C tố cáo hành vi của L lên Cơ quan Công an, biết được mình bị tố cáo nên ngày 12/9/2024, L nhờ Nguyễn Thị Thúy L1 sinh năm 1985, trú tại xóm C, xã M là người quen của L chuyển khoản số tiền 13.000.000 đồng cho anh C qua tài khoản của chị K là vợ anh C còn 3.000.000 đồng L không trả lại với lý do là tiền chi phí nộp trích đo.

Tại bản cáo trạng số 03/CT – VKS - ĐB, ngày 20/01 /2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình đã truy tố bị cáo Lường Văn L về tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 355 BLHS.

Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố phát biểu luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Lường Văn L như nội dung bản cáo trạng. Sau khi phân tích hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lường Văn L phạm tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”. Xử phạt bị cáo Lường Văn L mức án từ 18 đến 24 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thử thách từ 36 đến 48 tháng kể từ ngày tuyên án.

Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng

- Về phần trách nhiệm dân sự: không đề cập xử lý.

- Về xử lý vật chứng: Không đề cập xử lý

- Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Trong phần tranh luận, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội và không có lời tự bào chữa, không có ý kiến tranh luận.

Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không tham gia tranh luận;

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo mong HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên:

Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; quyết định tố tụng được ban hành đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử những người tham gia tố tụng không ai khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tố tụng:

Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Tuy nhiên, tại cơ quan điều tra họ đã có lời khai đầy đủ và không có yêu cầu gì đối với bị cáo. Việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử của Tòa án. Căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.

[3] Về tội danh, điều luật áp dụng

Tại phiên tòa, bị cáo Lường Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:

Lường Văn L là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” của mình là sai trái, vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, do ham muốn vật chất để chi tiêu cá nhân, Lường Văn L đã lợi dụng sự thiếu hiểu biết của bị hại đối với các thủ tục hành chính về đất đai để yêu cầu anh C nộp nhiều khoản tiền và chiếm đoạt của anh C số tiền 13.686.000 đồng sau đó sử dụng chi tiêu cá nhân hết và không hoàn trả lại. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức, làm cho các cơ quan tổ chức Nhà nước bị mất uy tín, mất lòng tin của nhân dân vào chính quyền, gây thiệt hại về tài sản cho công dân.

Hành vi lạm dụng chức vụ quyền hạn để chiếm đoạt số tiền 13.686.000 đồng của anh C mà bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, đã hội đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 355 BLHS.

Do đó, Cáo trạng số 03/CT-VKS - ĐB ngày 20/01/2025 của VKSND huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình truy tố bị cáo Lường Văn L về tội danh và điều luật nói trên là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS:

  • Về nhân thân: Bị cáo Lường Văn L là người có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự.
  • Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phạm các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;
  • Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra, bị cáo Lường Văn L đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tích cực bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự. Mặt khác, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn; người bị hại có đơn xin giảm nhẹ TNHS cho bị cáo, quá trình công tác tại địa phương tích cực tham gia các hoạt động được tặng thưởng nhiều giấy khen, coi đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[5] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội và quyết định hình phạt:

Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo. HĐXX nhận thấy, hành vi của bị cáo Lường Văn L là nghiêm trọng, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan Nhà nước trong quản lý và sử dụng đất đai, gây mất niềm tin của nhân dân đối với Nhà nước, cơ quan chính quyền, gây bức xúc cho nhân dân, đặc biệt là nhân dân trên địa bàn xã M, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình.

Bị cáo được tuyển dụng vào làm công chức với vị trí việc làm là công chức địa chính xã M, với nhiệm vụ quyền hạn của mình và được đào tạo cơ bản về lĩnh vực mình công tác, bị cáo phải nhận thức được hành vi của mình là trái quy định pháp luật nhưng bị cáo đã có hành vi lạm dụng chức vụ, quyền hạn của mình, lợi dụng sự thiếu hiểu biết về pháp luật của người dân đối với các thủ tục hành chính đất đai để nhận làm hồ sơ, nộp hồ sơ và thu các khoản lệ phí không đúng quy định nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản vì tư lợi của bản thân số tiền là 13.686.000 đồng của bị hại.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Do đó, bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi mà mình gây ra. Cần xử lý bị cáo với mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Xét thấy, bị cáo có nhiều 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 51 BLHS và 02 tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 BLHS, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, có khả năng cải tạo, giáo dục tại cộng đồng, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà xử phạt các bị cáo hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo là phù hợp với quy định tại Điều 65 BLHS, việc áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, thể hiện được tinh thần nhân đạo và khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta.

Đối với việc bị cáo Lường Văn L và Nguyễn Nam G nhận số tiền 2.000.000 đồng ngày 01/3/2023. Quá trình điều tra xác định đây là số tiền anh C đưa cho L và G với mục đích cảm ơn, hỗ trợ tiền ăn trưa, đi lại cho L và G. Do đó không đề cập xử lý;

Đối với chị Lường Thị H2, sinh năm 1985 là vợ của Lường Văn L được L chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng để chi tiêu cá nhân sau khi chiếm đoạt được tiền của anh C. Chị H2 không biết nguồn gốc số tiền, không biết việc L chiếm đoạt tiền của anh C nên không có cơ sở để điều tra xử lý đối với chị H2. Không đề cập xử lý;

Đối với việc Bùi Văn C đưa số tiền 29.000.000 đồng cho Lường Văn L do có nhu cầu muốn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng do thiếu hiểu biết về các thủ tục hành chính nên đã tin tưởng Lường Văn L là công chức địa chính và giao số tiền trên theo yêu cầu của L mà không biết L đã sử dụng vào những nội dung cụ thể gì, do đó hành vi của Bùi Văn C không cấu thành tội đưa hối lộ, do đó không đề cập xử lý.

Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 355 của Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế đặc biết khó khăn, bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho các bị hại, quá trình công tác bị cáo tích tham gia hoạt động tại địa phương. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng:

Các vật chứng, tài liệu liên quan vụ án gồm:

  • + 01 USB chứa File ghi âm cuộc gọi điện thoại ngày 10/9/2024 do anh Bùi Văn C giao nộp hiện được niêm phong trong 01 phong bì chuyển theo hồ sơ vụ án.

Quá trình khám xét nơi làm việc của Lường Văn L thu giữ, tạm giữ các tài liệu được đưa vào hồ sơ vụ án gồm:

  • + 01 đơn đề nghị cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Hà Văn Q và bà Xa Thị Đ (vợ ông Q)
  • + Bản sao chứng thực CCCD của Hà Văn Q và Xa Thị Đ
  • + 01 tờ Mảnh trích đo địa chính số: 02-2023 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ cấp ngày 16/3/2023
  • + Bản sao chứng thực Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 866517 cấp ngày 31/12/2023 do UBND huyện Đ2 cấp cho ông Q.
  • + 01 tờ thông tin ghi chép từ sổ Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có thông tin Hà Văn Q ký nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mới số DI 721085.
  • + 01 tờ Thông báo số 71/TB-UBND ngày 19/6/2023 của UBND huyện Đ2 về việc thu hồi đất để thực hiện dự án Đường trung tâm xã Đ đi xã M, huyện Đ.

Các vật chứng trên có giá trị chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, hiện được lưu trong hồ sơ vụ án, do đó không đề cập xử lý.

[7] Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo Lường Văn L đã trả lại cho anh Bùi Văn C số tiền 26.000.000₫ (Hai mươi sáu triệu đồng). Số tiền còn lại là 3.000.000(Ba triệu đồng) bao gồm chi phí thực tế trích đo 2.314.000đ(Hai triệu ba trăm mười bốn nghìn đồng) và 686.000₫ (Sáu trăm tám mươi sáu nghìn) anh C cho L để làm chi phí xăng xe đi lại. Quá trình điều tra và tại phiên Tòa anh Bùi Văn C không có yêu cầu Lường Văn L phải trả lại số tiền trên và không có yêu cầu đề nghị gì khác. Không đề cập xử lý.

[8] Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 355, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 106, 136, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

1. Về tội danh:

Tuyên bố: bị cáo Lường Văn L phạm tội “Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Lường Văn L 18 (mười tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 kể từ ngày tuyên án

Giao bị cáo Lường Văn L cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện Đ, tỉnh Hòa Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã được hưởng án treo.

3. Án phí:

Buộc bị cáo Lường Văn L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

7. Về quyền kháng cáo:

Bị cáo, bị hại,người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận

  • - TAND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND tỉnh Hòa Bình;
  • - VKSND huyện Đà Bắc;
  • - Công an tỉnh Hoà Bình;
  • - UBND xã Đồng Chum, huyện Đà Bắc;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - THADS huyện Đà Bắc;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VT;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Lự

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/HS-ST ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HÒA BÌNH về hình sự sơ thẩm về tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 04/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÀ BẮC, TỈNH HÒA BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lường Văn L lạm dụng chức vụ quyền hạn chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger