Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH SƠN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HS-ST

Ngày 20/02/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Vĩnh .

Các hội thẩm nhân dân: Ông Hà Đình Sở.

Ông Trần Tiến Dũng.

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Mạnh Cường, cán bộ Tòa án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn tham gia phiên tòa: Ông Lương Ngọc Lâm, Kiểm sát viên.

Ngày 20/02/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn, tỉnh Phú Thọ, Toà án nhân dân huyện Thanh Sơn đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2025/HS-ST ngày 23/01/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 03/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2024 đối với các bị cáo:

1.Họ và tên: Đỗ Chí T Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không có. Sinh ngày: 15/10/1975 tại T, Phú Thọ. HKTT: Khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 12/12. Chức vụ trước khi phạm tội: Không. Bố đẻ: Đỗ Chí K, sinh năm 1948; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1948; Vợ: Trần Thị Kim C, sinh năm 1977; Con: Có 01 con, sinh năm 2000; Hiện vợ, con đều ở thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/10/2024 đến ngày 12/10/2024, hiện đang thi hành biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại thị trấn T, huyện T, thời hạn C1 đi khỏi nơi cư trú đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm.

2. Họ và tên: Nguyễn Văn T1. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không có. Sinh ngày: 10/12/1971 tại T, Phú Thọ. HKTT: Khu T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Văn hóa: 07/12. Chức vụ trước khi phạm tội: Không; Bố đẻ: Nguyễn Hùng C2, sinh năm 1941; Mẹ đẻ: Phạm Thị H, sinh năm 1940; Vợ: Nguyễn Thị Tuyết L1, sinh năm 1977: Con: Có 02 con, con lớn sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2000; Hiện bố mẹ, vợ, con đều ở Khu T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Tiền án: Không. Tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/10/2024 đến ngày 12/10/2024, hiện đang thi hành biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại thị trấn T, huyện T, thời hạn C1 đi khỏi nơi cư trú đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm.

3. Họ và tên: Phạm Hồng T2. Giới tính: Nam. Tên gọi khác: Không. Sinh ngày: 11/9/1990 tại T, Phú Thọ. HKTT: Khu T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Văn hóa: 12/12. Chức vụ trước khi phạm tội: Không. Bố đẻ: Phạm Xuân T3, sinh năm 1963; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị K1, sinh năm 1965; Vợ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1994; Con: Có 01 con, sinh năm 2020. Hiện bố, mẹ, vợ, con đều ở khu T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 07/10/2024 đến ngày 12/10/2024, hiện đang thi hành biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại thị trấn T, huyện T, thời hạn C1 đi khỏi nơi cư trú đến khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm.

(Các bị cáo đều có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 18 giờ 05 phút ngày 07/10/2024, tổ Công tác Phòng CSHS Công an tỉnh P phối hợp với chính quyền địa phương kiểm tra chỗ ở Phạm Hồng T2, (sinh năm 1990, thường trú khu T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ) tại khu L, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ đang có hành vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề. Tổ công tác của phòng C3 Công an tỉnh P kiểm tra, lập biên bản sự việc đối với Phạm Hồng T2 có hành vi đánh bạc dưới hình thức nhắn tin mua bán số lô, số đề qua điện thoại di động với Đỗ Chí T, sinh năm 1975, thường trú khu T, thị trấn T, huyện T. Thu giữ của T2: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8plus vỏ màu vàng nhạt, gắn sim thuê bao 0347.060.819.

Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở Phạm Hồng T2, sinh năm 1990, thường trú khu L, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Quá trình điều tra, ngày 07/10/2024 Đỗ Chí T, (sinh năm 1975, thường trú khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ) và Nguyễn Văn T1, (sinh năm 1971, thường trú khu T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ) đã đến Phòng CSHS Công an tỉnh P đầu thú về hành vi “Đánh bạc”.

Tại Cơ quan CSĐT các đối tượng Phạm Hồng T2, Đỗ Chí T và Nguyễn Văn T1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với những tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan CSĐT đã thu thập được như sau: Do quen biết nhau và có nhu cầu đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề nên chiều ngày 07/10/2024, Đỗ Chí T, (sinh năm 1975, thường trú khu B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ) sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs, màu đen, lắp số thuê bao 0328.474.496 để truy cập vào tài khoản Telegram của T có nick “pt T4” nhắn tin đến tài khoản telegram nick “Canpt” của Phạm Hồng T2, (sinh năm 1990, thường trú khu T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ) được thể hiện trong điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu vàng nhạt, gắn số thuê bao 0347.060.819 để đánh bạc dưới hình thức mua số lô, số đề. Cụ thể, T đã gửi 05 (năm) tin nhắn cho T2 với nội dung đánh bạc như sau:

  • -Tin 1 lúc 16 giờ 43 phút: Thanh nhắn “De 01,100k 10 50k ba cang 101, 50k”có nghĩa mua số đề 01 - 100.000đ; số đề 10 - 50.000đ; số đề ba càng 101 là 50.000đ thì đến 17 giờ 21 phút cùng ngày T2 nhắn tin lại “OK1” có nghĩa là đồng ý nhận tin nhắn số 1.
  • -Tin 2 lúc 17 giờ 36 phút:Thanh nhắn “Lo 08,45đ” có nghĩa là mua số lô 08 - 45 điểm thì luôn lúc đó T2 nhắn tin lại “OK2” có nghĩa là đồng ý nhận tin nhắn số 2.
  • -Tin 3 và tin 4 vào lúc 17 giờ 38 phút và 17 giờ 42 phút: Thanh nhắn “L12.21 mc 8đ” và “96,94,91 mc 8đ” có nghĩa là mua 02 (hai) số lô 12, 21 mỗi con8 điểm và mua số lô 96,94,91 mỗi con 8 điểm thì đến 17 giờ 43 phút cùng ngày T2 nhắn tin lại “4t” có nghĩa là đồng ý nhận báncác số lô trên và đã nhận tổng cổng 4 tin nhắn của T.
  • -Tin 5 lúc 17 giờ 54 phút: T hanh nhắn“ de 02,20,01,10,08,80x1000k/s 03 30x400k/s” có nghĩa là mua số đề 02,20,01,10,08,80mỗi số mua 1.000.000₫ (Một triệu đồng); số đề 03, 30 mỗi số mua 400.000đ thì T2 đã nhận được tin nhắn này và đồng ý bán.

Tổng số tiền T mua số lô, số đề trong ngày 07/10/2024 với T2 qua tin nhắn ứng dụng telegramlà 8.955.000đ.

Ngoài việc đánh bạc với T2 ra, trong ngày 07/10/2024 T còn đánh bạc với Nguyễn Văn T1, (sinh năm 1971, thường trú tại khu T, TT T, huyện T, Tỉnh Phú Thọ). Cụ thể: hồi 17 giờ 44 phút ngày 07/10/2024, T1 gọi điện từ điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12 bên trong lắp sim số 0357.463.566 của T1 được Thanh lưu trong danh bạ điện thoại là “Tu12” đến số điện thoại di động 0328.474.xxx của T được T1 lưu trong danh bạ điện thoại là “Thành Béo” để đọc các số lô, số đề mà T1 muốn mua. Sau khi ghi chép lại các số lô, số đề mà T1 muốn mua thì T đã soạn tin nhắn và gửi cho T1 để xác nhận các sô lô, số đề mà T1 đã mua của T, cụ thể: “Dau 0 dit 0 ×550k/s de 02,20,01,10,08,80×4100k/s 03,30×3100k/s lo 55,200₫ 33,100đ; 08,80,49,95,49,94,69,96×50đ/s” có nghĩa là mua số đề đầu 0, đít 0 mỗi số 550.000đ; đề 02,20,01,10,08,80 mỗi số mua 4.100.000₫ ; đề 03,30 mỗi số 3.100.000đ; Lô E - 200 điểm; lô 33 - 100 điểm; Lô 08,80,49,95,49,94,69,96 mỗi số mua 50 điểm. Tổng số tiền mà T1 mua số lô, số đề vào ngày 07/10/2024 với T qua điện thoại di động là 57.900.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền Đỗ Chí T đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề với Phạm Hồng T2 và Nguyễn Văn T1 trong ngày 07/10/2024 là 66.855.000đ. Số tiền đánh bạc trên thì T với T1 và T2 chưa thanh toán với nhau. Đến 18 giờ 05 phút ngày 07/10/2024, hành vi đánh bạc của Phạm Hồng T2, Đỗ Chí T và Nguyễn Văn T1 bị Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P phát hiện.

Quá trình điều tra xác định: Số tiền mà Đỗ Chí T và Phạm Hồng T2 đánh bạc với nhau là 8.955.000đ. Số tiền mà Đỗ Chí T và Nguyễn Văn T1 đánh bạc với nhau là 57.900.000 đồng .

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã ra Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Phạm Hồng T2. Đồng thời ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với T2 và có công văn đề nghị Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phê chuẩn. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ đã phê chuẩn Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với T2.Quá trình điều tra. 18 giờ 15 phút ngày 07/10/2024 Đỗ Chí T, và Nguyễn Văn T1 đã đến Phòng CSHS Công an tỉnh P đầu thú về hành vi “Đánh bạc”, Cơ quan điều tra Công an tỉnh P đã ra Quyết định tạm giữ đối với Đỗ Chí T và Nguyễn Văn T1. Tại Công an tỉnh P, bị cáo T đã tự nguyện giao nộp số tiền 8.955.000đ và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs gắn sim số 0328.474.xxx. Nguyễn Văn T1 giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12 gắn sim số 0357.463.566.

Về cách thức chơi, các đối tượng khai nhận: Hình thức đánh bạc là mua bán số lô, số đề được thua bằng tiền Việt Nam đồng: Đối với hình thức đánh bạc bằng hình thức số đề: Người chơi chọn một số có 02 chữ số rồi đặt cược với số tiền tương ứng, sau khi có kết quả xổ số kiến thiết miền B mở thưởng cùng ngày, người chơi so sánh số đề mà mình đã đặt cược với hai số cuối của giải đặc biệt, nếu trùng khớp thì trúng thưởng và được người bán số đề trả cho số tiền gấp 70 lần số tiền đã đặt cược. Nếu không trùng khớp thì không trúng thưởng và mất số tiền đã đặt cược mua. Để khuyến khích người mua thì người bán sẽ bớt cho người mua là 25% tổng số tiền đánh bạc khi mua số đề. Đối với hình thức đánh bạc bằng hình thức số lô: Người chơi chọn một số có 02 chữ số rồi đặt cược với số tiền tương ứng, sau khi có kết quả xổ số kiến thiết miền bắc mở thưởng cùng ngày, người chơi so sánh số lô mình đã đặt cược với hai số cuối của tất cả các giải, mỗi lần trùng khớp là một lần trúng thưởng và được người bán số lô trả thưởng theo tỷ lệ mua số lô 23.000đ (Một điểm) thì được trả 80.000đ/01 điểm. Nếu không trùng khớp thì không trúng thưởng và mất số tiền đã bỏ ra đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề.Tuy nhiên để khuyến khích người mua thì người bán chỉ lấy của người mua số tiền là 21.700đ/ 01 điểm lô. Theo quy ước ký tự gửi tin nhắn khi đánh bạc giữa các đối tượng thì: “Đầu 0” có nghĩa là gồm các cặp số 00, 01, 02, 03, 04, 05, 06, 07, 08, 09”. “Đít 0” có nghĩa là gồm các cặp số 00,10, 20, 30, 40, 50, 60, 70, 80, 90. “k” là nghìn, “đ” là điểm, “mc” là mỗi con, “s” là trên một số.

Ngày 12/10/2024, cơ quan CSĐT Công an tỉnh P đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can đối với Phạm Hồng T2 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; Đỗ Chí T và Nguyễn Văn T1 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Các Quyết định khởi tố bị can đã được Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phê chuẩn để điều tra. Ngày 25/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ có Quyết định chuyển vụ án hình sự để điều tra theo thẩm quyền. Cơ quan điều tra Công an tỉnh P đã chuyển hồ sơ đến Cơ quan điều tra Công an huyện T để điều tra theo thẩm quyền. Quá trình điều tra các bị cáo đã thừa nhận hành vi đánh bạc được thua bằng tiền như đã nêu trên, lời khai của các bị cáo là phù hợp với Biên bản sự việc; Biên bản kiểm tra dữ liệu trên thiết bị thông tin điện tử (điện thoại di động của Phạm Hồng T2, Đỗ Chí T và Nguyễn Văn T1); cùng các tài liệu chứng cứ khác được Cơ quan điều tra Công an tỉnh P và Cơ quan điều tra Công an huyện T thu thập, xác lập có trong hồ sơ vụ án.

Ngày 19/2/2025 bị cáo T1 tự nguyện giao nộp số tiền 30.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thanh Sơn.

Tại bản Cáo trạng số: 06/CT-VKSThS ngày 23/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn truy tố Phạm Hồng T2 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự; Đỗ Chí T và Nguyễn Văn T1 về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ: khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015. Sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt các bị cáo:

Đỗ Chí T 36 tháng tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nguyễn Văn T1 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo T và bị cáo T1 cho UBND thị trấn T, huyện T quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giám sát, giáo dục các bị cáo.

Căn cứ: khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015. Sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo:

Phạm Hồng T2 từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng để nộp ngân sách nhà nước

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a,b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, b, c khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: Số tiền 8.955.000 đồng thu giữ của Đỗ Chí T; số tiền 30.000.000 đồng thu giữ của Nguyễn Văn T1. Truy thu sung công quỹ nhà nước của bị cáo Nguyễn Văn T1 số tiền 27.900.000 đồng

Tịch thu bán sung công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs, màu đen thu giữ của Đỗ Chí T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12 thu giữ của Nguyễn Văn T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8plus vỏ màu vàng nhạt thu giữ của Phạm Hồng T2.

Tịch thu tiêu hủy: 01 sim điện thoại số 0328.474.xxx thu giữ của T; 01 sim điện thoại số 0357.463.xxx thu giữ của T1; 01 chiếc sim số 0347.060.819.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện Kiểm Sát.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của các bị cáo, các bị cáo đều xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo và cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương, để các bị cáo lấy đó làm bài học cho bản thân và chăm sóc gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, Quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền về trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đều không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định trên đều hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với vật chứng đã thu giữ tại hiện trường . Hành vi của các bị cáo còn được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản đầu thú, vật chứng, các tài liệu và chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đầy đủ cơ sở kết luận: Ngày 07/10/2024 Đỗ Chí T và Phạm Hồng T2 đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề được thua bằng tiền, T đã mua số lô, số đề của T2 bằng 05 tin nhắn qua mạng Telegram cụ thể số đề 01=100.000đ; số 10= 50.000đ; số 02,20,01,10,08,80mỗi số mua 1.000.000đ; số đề 03, 30 mỗi số mua 400.000đ; số đề ba càng 101=50.000đ; Số lô 08 - 45 điểm, số lô 12.21,96,94,91 mỗi con 8 điểm mỗi điểm có giá là 23.000đ. Thái đã nhận được tin nhắn này và đồng ý bán cho T.

Tổng số tiền T mua số lô, số đề trong ngày 07/10/2024 với T2 qua tin nhắn ứng dụng telegram là 8.955.000đ.

Ngoài việc đánh bạc với T2 ra, trong ngày 07/10/2024 T còn đánh bạc với Nguyễn Văn T1, (sinh năm 1971, thường trú tại khu T, TT T, huyện T, Tỉnh Phú Thọ). Cụ thể: T1 gọi điện từ điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12 bên trong lắp sim số 0357.463.566 của T1 đến số điện thoại di động 0328.474.xxx của T để đọc các số lô, số đề mà T1 muốn mua. Sau khi ghi chép lại các số lô, số đề mà T1 muốn mua thì T đã soạn tin nhắn và gửi cho T1 để xác nhận các sô lô, số đề mà T1 đã mua của T, cụ thể: số đề đầu 0, đít 0 mỗi số 550.000đ; đề 02,20,01,10,08,80 mỗi số mua 4.100.000₫ ; đề 03,30 mỗi số 3.100.000đ; Lô E = 200 điểm; lô 33 = 100 điểm; Lô 08,80,49,95,49,94,69,96 mỗi số 50 điểm. Tổng số tiền mà T1 mua số lô, số đề vào ngày 07/10/2024 với T qua điện thoại di động là 57.900.000 đồng.

Như vậy, tổng số tiền Đỗ Chí T đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề với Phạm Hồng T2 và Nguyễn Văn T1 trong ngày 07/10/2024 là 66.855.000đ.

Cáo trạng truy tố các bị cáo Đỗ Chí T và Nguyễn Văn T1 về tội “Đánh bạc” theo Khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự, Phạm Hồng T2 về tội “Đánh bạc” theo Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự là đúng quy định pháp luật. Điều luật quy định:

1.“Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000đ đồng hoặc dưới 5.000.000đ nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm:

a, ......

b, T5 hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000 đồng trở lên.

Khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.”

[3]. Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo là cố ý và gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an xã hội và ảnh hưởng xấu đến khu dân cư. Hành vi của các bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật. Vụ án có đồng phạm nhưng mang tính chất giản đơn bởi lẽ: Khi thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đều không có sự chuẩn bị, bàn bạc phân công trước, hành vi phạm tội của các bị cáo chỉ là tự phát, số tiền các bị cáo tham gia đánh bạc không lớn. Do vậy cần xử phạt các bị cáo mức hình phạt tương sứng với hành vi phạm tội của các bị cáo nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo. Tuy nhiên trước khi quyết định hình phạt, HĐXX xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo thấy rằng: Các bị cáo Đỗ Chí T, Nguyễn Văn T1, Phạm Hồng T2 đều là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, trước lần phạm tội này luôn chấp hành tốt chính sách, pháp luật Nhà nước, các quy định ở địa phương.

[4]. Về tình tiết tăng nặng, trách nhiệm hình sự. Các bị cáo đều không phải chịu tình tiết tặng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo T2 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo T và bị cáo T1 phạm tội lần đầu nhưng thuộc trường hợp nghiêm trọng. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay các bị cáo thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, khi biết bị cáo T2 bị bắt các bị cáo đã đến Cơ quan điều tra Công an tỉnh P đầu thú khai báo ra hành vi phạm tội của mình. Bị cáo T có bố là ông Đỗ Chí T6 và mẹ là bà Nguyễn Thị L là người có công với nước được tặng thưởng Huy chương kháng chiến, bị cáo T1 có bố là ông Nguyễn Hùng C2 và mẹ là bà Phạm Thị H là người có công với nước được tặng thưởng Huân chương kháng chiến, vì vậy bị cáo T và bị cáo T1 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015. Sửa đổi bổ sung năm 2017

Các bị cáo đều phạm tội lần đầu, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, các bị cáo đều có nơi cư trú rõ rằng, vì vậy đối với bị cáo T và T1 chỉ cần xử phạt các bị cáo hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo và cho các bị cáo được hưởng án treo nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo, riêng bị cáo T2 chỉ cần xử phạt tiền cũng đủ răn đe, giáo dục bị cáo.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều là lao động tự do, đều có thu nhập hàng tháng không ổn định, do vậy cần miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền cho các bị cáo là phù hợp.

[7]. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ: Điểm a,b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015. Điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Đối với số tiền 8.955.000 đồng của bị cáo T và 30.000.000 đồng của bị cáo T1 đã giao nộp, đây là số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc cần tịch thu sung công quỹ nhà nước. Cần truy thu của bị cáo T1 số tiền đánh bạc còn lại là 27.900.000 đồng nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với 03 chiếc điện thoại di động, gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs, màu đen thu giữ của T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12 thu giữ của T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8plus vỏ màu vàng nhạt thu giữ của T2. Đây là điện thoại các bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội cần tịch thu bán sung công quỹ nhà nước:

Đối với 01 sim điện thoại số 0328.474.xxx thu giữ của T; 01 sim điện thoại số 0357.463.xxx thu giữ của T1, 01 chiếc sim số 0347.060.819 thu giữ của T2 cần tịch thu tiêu hủy:

[8]. Quan điểm của Kiểm sát viên đối với các bị cáo là phù hợp quy định pháp luật cần được chấp nhận.

[9]. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm, các bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật;

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 1, khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố các bị cáo: Đỗ Chí T, Nguyễn Văn T1, Phạm Hồng T2 phạm tội “Đánh bạc”.

Căn cứ: Khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 khoản 1,2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015. Sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt các bị cáo:

Đỗ Chí T 36 (Ba sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nguyễn Văn T1 36 (Ba sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 60 (Sáu mươi) tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Đỗ Chí T, Nguyễn Văn T1 cho UBND thị trấn T, huyện T quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc quản lý, giám sát, giáo dục các bị cáo.

Các bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo qui định của Luật thi hành án hình sự.

Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì việc giám sát, giáo dục bị cáo được thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015. Sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo: Phạm Hồng T2 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền: 8.955.000 đồng (Tám triệu chín trăm năm lăm đồng) của Đỗ Chí T và 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) của Nguyễn Văn T1, đã tự nguyện giao nộp.

Tịch thu bán sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Xs, màu đen thu giữ của Đỗ Chí T; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi Note 12 thu giữ của Nguyễn Văn T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8plus vỏ màu vàng nhạt thu giữ của Phạm Hồng T2.

Truy thu sung công quỹ nhà nước của bị cáo Nguyễn Văn T1 số tiền 27.900.000 đồng (Hai bảy triệu chín trăm nghìn đồng)

Tịch thu tiêu hủy: 01 sim điện thoại số 0328.474.xxx thu giữ của T; 01 sim điện thoại số 0357.463.xxx thu giữ của T1; 01 sim điện thoại số 0347.060.xxx thu giữ của T2.

Vật chứng đang được bảo quản tại kho vật chứng và tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Sơn;

Về án phí:

Căn cứ: khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc các bị cáo Đỗ Chí T, Nguyễn Văn T1, Phạm Hồng T2 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015,các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện và VKS tỉnh;
  • - Công an huyện;
  • - Chi cục THADS huyện;
  • - Hồ sơ công tác THAHS;
  • - UBND thị trấn Thanh Sơn
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Khắc Vĩnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/HS-ST ngày 20/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ về đánh bạc

  • Số bản án: 04/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger