Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HS-ST

Ngày: 13-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG, TỈNH LONG AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Lên.
  2. Ông Nguyễn Văn Bỉnh.

Thư ký phiên tòa: Ông Trương Văn Công – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Tiên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 27/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2025/HSST-QĐ ngày 17 tháng 01 năm 2025, đối với:

- Bị cáo: Võ Trung B; tên gọi khác: không có; sinh ngày: 12/02/1988; nơi sinh: huyện T, tỉnh Long An; nơi cư trú: Ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn C, sinh năm: 1965 và bà Huỳnh Thị M, sinh năm: 1961; có vợ: Latt Sokha, sinh năm 1996 (quốc tịch: Campuchia); có 02 người con, lớn nhất sinh năm 2019, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không có; bị cáo tại ngoại điều tra, bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/9/2024 đến ngày 18/11/2024. “có mặt”

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Phạm Văn B1, sinh năm 1993; địa chỉ: Ấp H, xã A, huyện P, tỉnh Hậu Giang. “có mặt”
  2. Phạm Thị N1, sinh năm 1977; địa chỉ: Ấp H, xã A, huyện P, tỉnh Hậu Giang. “vắng mặt”
  3. Võ Văn C, sinh năm 1965; địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Long An. “vắng mặt"

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 04 giờ 55 phút ngày 16/5/2024 lực lượng tuần tra phòng chống tội phạm Công an thị xã K trên đường tuần tra tuyến Quốc lộ F phát hiện xe ô tô tải nhãn hiệu FOTON, loại xe: THACO, màu sơn: màu xanh, biển kiểm soát: 95C-048.51 do lái xe Phạm Văn B1, sinh năm: 1993, hộ khẩu thường trú: ấp H, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang điều khiển, đi cùng xe có Võ Trung B, sinh ngày: 12/02/1988, hộ khẩu thường trú: Ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Long An, xe ô tô tải nêu trên lưu thông hướng từ huyện V đi thị xã K, trên xe có chở hàng hóa nghi vấn vi phạm pháp luật, lực lượng Công an thị xã K ra tín hiệu dừng xe để kiểm tra. Qua kiểm tra phát hiện trên xe có chở 01 máy gặt đập liên hợp nhãn hiệu KUBOTA DC-70, màu cam-trắng (máy trên không có hóa đơn, không có giấy mua bán, không khai báo thuế). Lực lượng Công an thị xã K đã tiến hành lập biên bản vụ việc, tạm giữ tang vật, phương tiện.

Qua điều tra xác định: Do trước đây Võ Trung B, sinh ngày: 12/02/1988, hộ khẩu thường trú tại ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Long An thường xuyên qua Campuchia nên có quen biết và kết bạn Facebook với một người Campuchia bán máy gặt đập liên hợp tên Cà L. Trong ngày 11/5/2024, Cà L có gửi hình máy gặt đập liên hợp nhãn hiệu KUBOTA DC-70, màu cam- trắng và liên lạc với B qua Facebook của B nickname “Kubota Lâm Bình S”, nội dung trao đổi với Cà Lơ việc mua bán máy gặt đập liên hợp nhãn hiệu KUBOTA DC-70, khi coi xong máy và thỏa thuận giá thì B thống nhất mua máy gặt đập liên hợp nhãn hiệu KUBOTA DC-70, màu cam-trắng với giá tiền 6.000 USD, tương đương số tiền 150.000.000 đồng tiền Việt Nam. Đến ngày 15/5/2024, Võ Trung B điện thoại cho Phạm Văn B1, sinh năm: 1993, hộ khẩu thường trú tại ấp H, xã H, huyện P, tỉnh Hậu Giang để thuê xe ô tô biển kiểm soát: 95C-048.51 chở máy gặt đập liên hợp (Zalo nickname “xe B"). Võ Trung B thuê Phạm Văn B1 vận chuyển máy gặt đập liên hợp từ xã B, thị xã K đến ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Long An với tiền công 2.000.000 đồng/chuyến; Phạm Văn B1 thống nhất nhận lời, không hỏi Võ Trung B nhận máy từ đâu. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày Võ Trung B từ nhà ở xã T, huyện T, tỉnh Long An thuê xe ôm chở B đến quán “Khói” thuộc Khu phố C, Phường A, thị xã K, tỉnh Long An gặp người bạn tên N, cả hai cùng nhậu tại đây. Trong lúc nhậu B có điện thoại cho Phạm Văn B1 đến quán “Khói” để ăn uống cùng B1 và N. Sau khi ăn uống xong Võ Trung B và Phạm Văn B1 lên xe ô tô tải biển kiểm soát: 95C-048.51 chạy đến đoạn Đường H hướng đi huyện V, cách ngã tư B khoảng 200 mét, Phạm Văn B1 đậu xe lại để ngủ. Đến khoảng 04 giờ ngày 16/5/2024 B1 kêu lái xe Phạm Văn B1 chở B1 đi vào khu vực giáp biên giới Việt Nam – Campuchia đi theo tuyến Đường H, sau đó rẽ phải vào đường bãi rác, đậu xe tại khu vực bãi rác thuộc ấp G, xã B, thị xã K. B1 thấy tin nhắn Facebook của C gửi hình máy KUBOTA DC-70 đã đến bãi ở Campuchia nên Bình điện T nhờ anh V người Campuchia chuyển cho Cà L đủ số

tiền mua máy là 6.000USD vào tài khoản của Cà L (vì B1 không biết tài khoản của Cà L). Sau đó, B1 gọi điện thoại liên lạc với người chú ở Campuchia có số điện thoại +855.97878.8565, nhưng B1 không biết họ tên cụ thể, liên lạc B1 nói tiếng Campuchia nội dung: “Là B1 tới giáp ranh biên giới Việt Nam- Campuchia, nhờ chú cho người ra rước”. Sau khi B1 gọi điện thoại khoảng 02 phút sau thì có người Campuchia dùng xe mô tô (không nhớ biển số xe) rước B1 qua đất Campuchia khỏi vị trí của B1 đứng chờ khoảng 300 mét đến nhà người bán máy gặt đập liên hợp nhãn hiệu KUBOTA DC-70, màu cam – trắng, B1 xem máy xong thì người bán điều khiển máy gặt đập liên hợp chạy đường đất đến ranh giới Việt Nam và Campuchia để giao máy cho B1, B1 nhận máy tại khu vực đất trống thuộc lãnh thổ nước Campuchia, sau đó B1 điều khiển máy về lãnh thổ nước Việt Nam thuộc ấp G, xã B, thị xã K đến vị trí đậu xe ô tô tải và bắt đầu điều khiển máy gặt đập liên hợp chạy lên thùng xe ô tô tải, Phạm Văn B1 dùng dây buộc ràng máy lại. Sau đó, B1 kêu Phạm Văn B1 điều khiển xe ô tô tải chở B1 cùng với máy gặt đập liên hợp đi về huyện T. Khi xe của B1 và Phạm Văn B1 di chuyển đến đoạn Km 69+900m, tuyến Quốc lộ F, thuộc ấp Ô, xã B, thị xã K thì bị lực lượng Công an thị xã K ra hiệu lệnh dừng phương tiện để kiểm tra, Võ Trung B khai nhận mua máy gặt đập liên hợp hiệu KUBOTA DC-70 (máy không có hóa đơn, không có giấy mua bán, không khai báo thuế) để bán kiếm lời. Công an thị xã K tiến hành lập biên bản vụ việc, tạm giữ tang vật, phương tiện.

Ngoài ra, vào ngày 19/4/2024 B có liên hệ nhờ Cà Lơ người Campuchia xem máy thỏa thuận giá cả để mua 01 (một) máy gặt đập liên hợp nhãn hiệu KUBOTA DC-105, màu cam-trắng của người Campuchia với số tiền 4.000USD, tương đương số tiền 100.000.000 đồng tiền Việt Nam. B chuyển tiền vào tài khoản của Nguyễn Thị H số tiền 100.000.000 đồng, nhờ H chuyển khoản tiền giùm cho người bán máy bên Campuchia. B liên hệ qua mạng Facebook với người tên T1 ở tỉnh An Giang (không rõ họ, tên và địa chỉ cụ thể) thuê T1 chở máy gặt đập liên hợp nhãn hiệu KUBOTA DC-105, màu cam-trắng. Đến khoảng 04 giờ 30 phút ngày 13/5/2024 B đến bãi đất trống cập lộ nhựa Đường tỉnh 831 thuộc ấp G, xã B, thị xã K để nhận máy gặt đập liên hợp nhãn hiệu KUBOTA DC-105, tại đây máy gặt đập liên hợp nhãn hiệu KUBOTA DC-105 đã đậu sẵn, B không biết máy gặt đập liên hợp được vận chuyển qua đường nào. B đưa máy lên xe ô tô tải vận chuyển về nhà tại ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Long An.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 13/KL-HĐ-ĐGTS ngày 03/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự thị xã K, kết luận:

  • + 01 (máy) gặt đập liên hợp nhãn hiệu KUBOTA DC-70, số khung: DC-70H508315, số máy: V2403-BHN1683 có giá trị là 175.000.000 đồng.
  • + 01 (một) máy gặt đập liên hợp nhãn hiệu KUBOTA DC-105, số khung: DC105X-KH101825, số máy: V3800-CJU0141 có giá trị là 72.500.000 đồng.

Tang vật tạm giữ: 01 (một) máy gặt đập liên hợp nhãn hiệu KUBOTA DC-70, số khung: DC-70H508315, số máy: V2403-BHN1683; 01 (một) máy gặt đập liên hợp nhãn hiệu KUBOTA DC-105, số khung: DC105X-KH101825, số máy: V3800-CJU0141; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 14 Pro Max, số sim: 0868961469, số máy: MQ9X3VN/A; 01(một) xe ô tô tải biển kiểm soát 95C-048.51, nhãn hiệu ROTON, số loại: THACO, số máy: YZ4DA240BD10002756, số khung: RNHA10FWAKC097152; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 Pro Max, số sim: 0937194443, số máy: MWHL2KH/A.

Đối với xe ô tô tải biển kiểm soát 95C-048.51, nhãn hiệu ROTON, số loại: THACO, số máy: YZ4DA240BD10002756, số khung: RNHA10FWAKC097152 của Phạm Thị N1, sinh năm: 1997, chỗ ở tại ấp M, xã M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp đứng tên chủ sở hữu (vợ của Phạm Văn B1), N1 giao xe cho B1 để chở thuê hàng hóa và Phạm Văn B1 vận chuyển máy gặt đập liên hợp cho Võ Trung B trên lãnh thổ Việt Nam nên không liên quan đến hành vi buôn lậu của Võ Trung B, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã K đã trả lại xe ô tô tải biển kiểm soát 95C-048.51 cho Phạm Thị N1 xong là phù hợp.

Tang vật hiện còn tạm giữ: 01 (một) máy gặt đập liên hợp nhãn hiệu KUBOTA DC-70, số khung: DC-70H508315, số máy: V2403-BHN1683; 01 (một) máy gặt đập liên hợp nhãn hiệu KUBOTA DC-105, số khung: DC105X-KH101825, số máy: V3800-CJU0141; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 14 Pro Max, số sim: 0868961469, số máy: MQ9X3VN/A; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 Pro Max, số sim: 0937194443, số máy: MWHL2KH/A.

Tại Cáo trạng số 22/CT-VKSKT ngày 28/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An truy tố bị cáo Võ Trung B về tội “Buôn lậu” theo khoản 1 Điều 188 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Võ Trung B không có tình tiết tăng nặng; được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ là: “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có ông nội là người có công cách mạng, có cha ruột được chính quyền địa phương tặng nhiều bằng khen, giấy khen vì có thành tích đóng góp xây dựng các phong trào ở địa phương; bị cáo là lao động chính nuôi cha, mẹ ruột, vợ và hai con nhỏ, có xác nhận của chính quyền địa phương, nên được xem xét hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ khác theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Đối với Phạm Văn B1 nhận vận chuyển thuê máy gặt đập liên hợp nhãn hiệu KUBOTA DC-70 cho Võ Trung B, nhưng giữa Võ Trung B và Phạm Văn B1 không có bàn bạc gì với nhau, đồng thời Phạm Văn B1 không vận chuyển máy gặt đập liên hợp từ Campuchia qua biên giới vào lãnh thổ Việt Nam, do đó không xem xét trách nhiệm liên quan.

Đối với người tên Cà L (người Campuchia), là người giới thiệu cho B1 mua máy gặt đập liên hợp nhãn hiệu KUBOTA DC-70; người tên V (người Campuchia), là người được B1 nhờ chuyển tiền cho người bán máy gặt đập liên hợp nhãn hiệu KUBOTA DC-70; người đàn ông Campuchia, người B1 gọi điện thoại số +855.97878.8565 và lưu danh bạ “Chú đường Tứ băng” nhờ chở qua Campuchia để mua máy gặt đập liên hợp nhãn hiệu KUBOTA DC-70 hiện tại chưa xác định rõ thông tin, lai lịch. Do đó, không có cơ sở xem xét trách nhiệm liên quan.

Đối với Nguyễn Thị H, sinh năm: 1985, ngụ tại ấp S, xã H, huyện T, tỉnh Long An làm nghề chuyển tiền dịch vụ; mà B1 nhờ chuyển khoản trả cho người bán máy gặt bên Campuchia, nhưng B1 cũng không nói cho H biết việc chuyển tiền là trả cho người bán máy gặt đập liên hợp bên Campuchia nên không có cơ sở xem xét trách nhiệm liên quan.

Ngoài ra, vào ngày 13/5/2024, Võ Trung B khai có mua 01 máy gặt đập liên hợp nhãn hiệu KUBOTA DC-105, màu cam-trắng từ Campuchia, nơi nhận máy bên lãnh thổ Việt Nam; do tài sản có giá trị 72.500.000 đồng, chưa đủ định lượng để chịu trách nhiệm hình sự của tội buôn lậu. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã K tách hành vi mua bán máy gặt này chuyển xử phạt vi phạm hành chính, nên không xem xét trong vụ án này.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà bị cáo gây ra; đồng thời căn cứ vào nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 188; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 35, Điều 50 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo Võ Trung B phạm tội “Buôn lậu”.

Xử phạt bị cáo Võ Trung B từ 60 triệu đến 70 triệu đồng.

Về hình phạt bổ sung: Do hình phạt chính là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý tang vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Cho tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) máy gặt đập liên hợp nhãn hiệu KUBOTA DC-70, số khung: DC-70H508315, số máy: V2403-BHN1683; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 14 Pro Max, số máy: MQ9X3VN/A;

Trả cho Phạm Văn B1 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 Pro Max, số máy: MWHL2KH/A có số sim: 0937194443.

Tịch thu tiêu hủy số sim: 0868961469.

Trả lại Cơ quan điều tra 01 (một) máy gặt đập liên hợp nhãn hiệu KUBOTA DC-105, số khung: DC105X-KH101825, số máy: V3800-CJU0141, màu cam-trắng mà bị cáo B1 khai có nguồn gốc mua từ Campuchia, nơi nhận máy bên lãnh thổ Việt Nam; có giá trị 72.500.000 đồng để xử lý theo quy định pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố; bị cáo ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của bản thân; bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát; chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để sửa chữa lỗi lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kiến Tường, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp với quy định pháp luật.

[2] Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Võ Văn C, Phạm Thị Thu N1 vắng mặt tại phiên tòa, nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra. Xét thấy việc vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Lời khai nhận tội của bị cáo Võ Trung B trước phiên tòa phù hợp với biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; vật chứng thu giữ; bản kết luận định giá tài sản, biên bản khám nghiệm hiện trường; lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và phù hợp với nội dung bản cáo trạng. Từ đó cho thấy, vào lúc 04 giờ 55 phút ngày 16/5/2024 tại ấp Ô, xã B, thị xã K, tỉnh Long An lực lượng tuần tra phòng chống tội phạm Công an thị xã K phát hiện xe ô tô tải biển kiểm soát: 95C-048.51 do Võ Trung B cùng tài xế Phạm Văn B1 đang vận chuyển 01 máy gặt đập liên hợp nhãn hiệu KUBOTA DC-70, màu cam-trắng, có giá trị 175.000.000 đồng, có nguồn gốc do Võ Trung B mua từ Campuchia đem về Việt Nam để bán kiếm lời (máy trên không có hóa đơn, không có giấy mua bán, không khai báo thuế). Lực lượng Công an thị xã K đã tiến hành lập biên bản vụ việc, tạm giữ tang vật, phương tiện. Trên cơ sở đó, có đủ căn cứ kết luận các bị cáo Võ Trung B đã phạm tội “Buôn lậu” theo khoản 1 Điều 188 Bộ luật Hình sự. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kiến Tường truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4] Bị cáo B là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc vận chuyển hàng hóa nhập lậu là vi phạm pháp luật; đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước và tình hình an ninh chính trị tại khu vực biên giới, nhưng vì động cơ vụ lợi bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, nên cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật hình sự.

[5] Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có ông nội là người có công cách mạng, có cha ruột được chính quyền địa phương tặng nhiều bằng khen, giấy khen vì có thành tích đóng góp xây dựng các phong trào ở địa phương; bị cáo là lao động chính nuôi cha, mẹ ruột, vợ và hai con nhỏ có xác nhận của chính quyền địa phương nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ khác theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[7] Trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy, bị cáo B phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên việc áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội; tạo điều kiện cho bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm và trở thành công dân có ích cho xã hội. Cho nên, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp về áp dụng hình phạt đối với bị cáo là có cơ sở, nhưng mức phạt tiền chưa phù hợp.

[8] Về hình phạt bổ sung: Do hình phạt chính là hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.

[9] Về xử lý vật chứng:

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 (một) máy gặt đập liên hợp nhãn hiệu KUBOTA DC-70, số khung: DC-70H508315, số máy: V2403-BHN1683 là vật do phạm tội mà có và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 14 Pro Max, số máy: MQ9X3VN/A là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội.

Tịch thu tiêu hủy 01 số sim: 0868961469 không còn giá trị sử dụng.

Trả lại cho Phạm Văn B1 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 Pro Max, số máy: MWHL2KH/A, có số sim: 0937194443 là vật không liên quan đến tội phạm.

Trả lại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã K 01 máy gặt đập liên hợp nhãn hiệu KUBOTA DC-105, màu cam-trắng là vật không có liên quan đến tội phạm để xử lý theo quy định pháp luật.

[10] Đối với xe ô tô tải biển kiểm soát 95C-048.51 của Phạm Thị N1 là phương tiện không có liên quan đến tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã K đã trả lại cho chủ sở hữu và bà N1 không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

[11] Về án phí hình sự: Bị cáo B1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[12] Đối với Phạm Văn B1 nhận vận chuyển thuê máy gặt đập liên hợp nhãn hiệu KUBOTA DC-70 cho bị cáo Võ Trung B, giữa Võ Trung B và Phạm Văn B1 không có bàn bạc gì với nhau, đồng thời Phạm Văn B1 không vận chuyển máy gặt đập liên hợp nhãn hiệu từ Campuchia qua biên giới vào lãnh thổ Việt Nam, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xử lý, Viện kiểm sát không truy tố nên không xem xét trách nhiệm có liên quan là phù hợp.

[13] Đối với đối tượng tên Cà L (người Campuchia); người tên V (người Campuchia); người đàn ông Campuchia “Chú đường Tứ băng” mà bị cáo B1 khai liên hệ giao dịch để mua máy gặp đập liên hợp, nhưng Cơ quan điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch, nên không có cơ sở xử lý, Viện kiểm sát không truy tố nên không xem xét.

[14] Đối với đối tượng tên Nguyễn Thị H, sinh năm: 1985, ngụ tại ấp S, xã H, huyện T, tỉnh Long An làm nghề chuyển tiền dịch vụ; B1 nhờ H chuyển khoản trả tiền cho người bán máy gặt bên Campuchia và B1 cũng không nói cho H biết việc chuyển tiền là trả cho người bán máy gặt đập liên hợp bên Campuchia; nhưng H không có mặt tại nơi cư trú, nên Cơ quan điều tra không có cơ sở xử lý, Viện kiểm sát không truy tố nên không xem xét trách nhiệm là phù hợp.

[15] Đối với việc Võ Trung B khai vào ngày 13/5/2024 có mua 01 máy gặt đập liên hợp nhãn hiệu KUBOTA DC-105, màu cam-trắng từ Campuchia, nơi nhận máy bên lãnh thổ Việt Nam, được định giá là 72.500.000 đồng, là chưa đủ định lượng để truy cứu trách nhiệm hình sự về tội buôn lậu. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Kiến Tường tách hành vi này chuyển sang xử phạt vi phạm hành chính nên không xem xét trong vụ án là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 188 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo: Võ Trung Bình phạm tội “Buôn lậu”.

2. Về hình phạt:

- Về hình phạt chính:

Căn cứ khoản 1 Điều 188; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 35; Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Võ Trung Bình số tiền 150.000.000 đồng (Một trăm năm mươi triệu đồng).

- Về hình phạt bổ sung:

Căn cứ khoản 5 Điều 188 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Võ Trung Bình.

3. Về xử lý vật chứng, đồ vật:

Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) máy gặt đập liên hợp nhãn hiệu KUBOTA DC-70, số khung: DC-70H508315, số máy: V2403-BHN1683; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 14 Pro Max, số máy: MQ9X3VN/A;

Trả lại cho Phạm Văn Bình 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu iPhone 11 Pro Max, số máy: MWHL2KH/A, có số sim: 0868961469.

Tịch thu tiêu hủy 01 số sim: 0937194443.

Trả lại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Kiến Tường 01 (một) máy gặt đập liên hợp nhãn hiệu KUBOTA DC-105, số khung: DC105X-KH101825, số máy: V3800-CJU0141, màu cam-trắng.

4. Về án phí hình sự sơ thẩm:

Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Buộc bị cáo Võ Trung Bình phải nộp 200.000 đồng.

5. Về quyền kháng cáo:

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND tỉnh Long An;
  • - VKSND thị xã Kiến Tường;
  • - CQCSĐT – Công an thị xã Kiến Tường;
  • - Chi cục THADS thị xã Kiến Tường;
  • - CQTHAHS - Công an thị xã Kiến Tường;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/HS-ST ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG, TỈNH LONG AN về hình sự (buôn lậu)

  • Số bản án: 04/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Buôn lậu)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KIẾN TƯỜNG, TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Trung Bình phạm tội “Buôn lậu”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger