|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 04/2025/HS-ST Ngày: 17-02-2025 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thu Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Bẩy
Bà Vũ Thị Mai
Thư ký phiên toà: Bà Diệp Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Khắc Tú – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại điểm cầu xét xử trực tuyến Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 08/2025/TLST - HS, ngày 17 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn Q, sinh năm 1995. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 05/12. Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không. Con ông: Trần Văn C, sinh năm 1958. Con bà: Vũ Thị H, sinh năm 1962. Vợ: Lê Thị Huyền A, sinh năm 2001; Con: Trần Gia H1, sinh năm 2020. Cùng địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Tiền sự: Ngày 28/8/2023 bị Chủ tịch UBND xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản”, hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng. Chấp hành xong ngày 29/12/2023.
Tiền án: Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2024/HSST ngày 09/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam xử phạt Trần Văn Q 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thửa thách 01 năm về tội "Trộm cắp tài sản", giá trị tài sản 100.000 đồng, Quyết định thi hành án phạt tù cho hưởng án treo ngày 13/5/2024, bị cáo được miễn án phí HSST. Tính đến thời điểm phạm tội này bị cáo chưa được xóa án tích.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, giam từ ngày 12/11/2024 tại Nhà tạm giữ của Công an huyện L (nay là thị xã C), tỉnh Bắc Giang. Có mặt tại điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B.
* Bị hại: Nguyễn Văn T, sinh năm 1981. (Vắng mặt)
Nơi cư trú: TDP P, phường P, thị xã C, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Trần Văn Đ, sinh năm 1999. (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
Lê Thị Huyền A, sinh năm 2001; (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn Q, sinh năm 1995 trú tại thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”. Khoảng 07 giờ ngày 12/11/2024, Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, Biển kiểm soát 30M1-2909 chở vợ là chị Lê Thị Huyền A, sinh năm 2001 đi làm tại công ty M, tại thôn P, xã P, huyện L (nay là tổ dân phố P, phường P, thị xã C), tỉnh Bắc Giang. Trên đường chở vợ đến công ty M, Q quan sát và phát hiện ở trong vườn vải phía sau nhà gia đình anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1981, thường trú tại thôn P, xã P, huyện L (nay là tổ dân phố P, phường P, thị xã C) có để 01 chiếc xe cải tiến bằng sắt, màu nâu-đen sát cạnh đường, giáp công ty của chị A. Sau khi đưa vợ đến công ty, Q đi về nhà. Đến Khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, Q điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 30M1-2909 đến ngã tư T, huyện L để đón Trần Văn Đ1, sinh năm 2000 là em trai về nhà. Khi gặp Đ1, Đ1 lái xe mô tô trở Q về. Trên đường đi Q có rủ Đ1 đi lấy trộm chiếc xe cải tiến (xe bò) lúc sáng Q đã nhìn thấy ở khu vườn phía sau nhà anh Nguyễn Văn T, thì Đ1 đồng ý và điều khiển xe trở Q đến chỗ để xe cải tiến (xe bò), đến nơi Đ1 đỗ xe ở rìa đường rồi ngồi trên xe cảnh giới, Q đi vào vườn vải của gia đình anh T, không có ai ở nhà, Q dùng hai tay kéo hai càng xe cải tiến (xe bò) để dưới gốc vải ra đường chỗ Đ1 đỗ xe mô tô. Q ngồi lên mô tô thì Đ1 điều khiển xe mô tô trở Q kéo xe cải tiến đi ra Quốc lộ C rồi đi sang thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang bán cho anh Trần Văn Đ, sinh năm 1999 là con trai ông Trần Văn V, sinh năm 1979, trú tại thôn Đ, xã T (là cửa hàng thu mua phế liệu). Khi bán xe cải tiến, Q, Đ1 nói với anh Đ bán xe cải tiến sắt vụn và thỏa thuận với giá 8.000 đồng/01kg, anh Đại đồng Ý mua và cân xe cải tiến được 40kg sắt, anh Đ trả cho Q 300.000 đồng. Q nhận tiền và chia cho Đ1 150.000 đồng, Đ1 cầm
150.000 đồng rồi Đ1 ngồi sau xe mô tô Q Chở Đ1 xuống bến xe huyện L để Đ1 bắt xe đi Hải Dương, số tiền 150.000 đồng Q đã chi tiêu cá nhân hết.
Cùng ngày Trần Văn Q đến Công an xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang (nay là Công an phường P, thị xã C) đầu thú về hành vi trộm cắp chiếc xe cải tiến bằng sắt (xe bò) của gia đình anh T và giao nộp 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, Biển kiểm soát 30M1-2909.
Buổi trưa ngày 12/11/2024, anh Nguyễn Văn T đi làm về thì phát hiện gia đình anh bị mất chiếc xe cải tiến để ở sau nhà, dưới gốc cây vải của gia đình đã bị mất, anh làm đơn trình báo Công an huyện L (nay là thị xã C) đề nghị giải quyết (BL: 40-41).
Ngày 12/11/2024, ông Trần Văn V1, S năm 1979, trú tại thôn Đ, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã giao nộp chiếc xe cải tiến mà anh Trần Văn Đ (con trai ông) đã mua của Trần Văn Q (BL: 43).
Cơ quan điều tra đã tiến hành đưa Trần Văn Q đi chỉ xác định hiện trường về hành vi trộm cắp chiếc xe cải tiến bằng sắt (xe bò) của gia đình anh Nguyễn Văn T thôn P, xã P, huyện L (nay là tổ dân phố P, phường P, thị xã C), tỉnh Bắc Giang, kết quả Q xác định và chỉ đúng vị trí phù hợp lời khai của bị hại, người liên quan cùng tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án (BL 31-33).
Ngày 13/11/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã yêu cầu định giá tài sản. Tại bản kết luận định giá tài sản số 121/KL-HĐ, ngày 14/11/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện L (nay là thị xã C) kết luận: giá trị 01 (một) chiếc xe cải tiến bằng sắt có kích thước (2,47x01x0,6)m có hai lốp bằng cao su được đưa vào sử dụng năm 2018 có giá trị 800.000 đồng (Tám trăm nghìn đồng).
Đối với Trần Văn Đ1, sinh năm 2000, trú tại thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang là người đã có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy năm 2019. Đối tượng Trần Văn Đ1 có vai trò đồng phạm về hành vi trộm cắp chiếc xe cải tiến bằng sắt cùng với Trần Văn Q ngày 12/11/2024 tại thôn P, xã P, huyện L (nay là tổ dân phố P, phường P, thị xã C). Nhưng tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng. Như vậy hành vi của Trần Văn Đ1 chưa đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Hành vi của Trần văn Đ1 vi phạm quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP. Tuy nhiên đến nay chưa làm việc được với Đ1, nên cần tách ra khi nào có căn cứ thì xử lý.
Đối với anh Trần Văn Đ con ông V là người mua chiếc xe cải tiến của Q nhưng khi mua anh Đ không biết đó là tài sản do Q trộm cắp mà có, nên Cơ quan điều tra không đặt ra vấn đề xử lý đối với anh Đ là có căn cứ.
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, Biển kiểm soát 30M1-2909 thu giữ của Q, quá trình điều tra xác định xe mô tô đó là của chị Lê Thị Huyền A, sinh năm 2001, trú tại thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Chị A là chủ sở hữu chiếc xe mô tô trên không biết việc Trần Văn Q dùng chiếc xe mô tô trên sử dụng vào mục đích làm phương tiện đi trộm cắp tài sản, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Về vật chứng của vụ án: Đối với 01 chiếc xe cải tiến bằng sắt có kích thước (2,47x01x0,6)m có hai lốp bằng cao su và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, Biển kiểm soát 30M1-2909. Ngày 27/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định xử lý vật chứng số 2064, trả lại cho anh Nguyễn Văn T 01 chiếc xe cải tiến bằng sắt có kích thước (2,47x01x0,6)m có hai lốp bằng cao su và chị Lê Thị Huyền A 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, Biển kiểm soát 30M1-2909.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra anh Nguyễn Văn T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị can phải bồi thường. Anh Trần Văn Đ (con ông V) không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại anh số tiền anh đã mua chiếc xe cải tiến.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo Trần Văn Q đã khai nhận hành vi phạm tội như bản cáo trạng đã truy tố và thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản của mình là sai, vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Tại phiên tòa bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra đã được HĐXX công bố tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến.
Tại bản Cáo trạng số 11/CT-VKS-TXC ngày 16 tháng 01 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Trần Văn Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự;
Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ giữ quyền công tố tại phiên toà đã luận tội bị cáo, phân tích tính chất, mức độ hành vi của bị cáo, giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55, Điều 56 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Văn Q từ 09 tháng đến 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của bản án số 32/2024/09/04/2024, của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính tù ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (12/11/2024).
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
Về án phí: Áp dụng điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Văn Q không phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, có mặt tại điểm cầu không có tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình, xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Hội đồng xét xử thấy rằng: Những người này đều đã được triệu tập hợp lệ, những người này đều đã có lời khai tại cơ quan điều tra đã có trong hồ sơ vụ án và không có yêu cầu bổ sung nào khác. Xét thấy sự vắng mặt những người này không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt những người này theo quy định.
[2]. Về hành vi của bị cáo theo nội dung bản cáo trạng đã truy tố:Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã C, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cùng tang vật thu hồi được và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận: Trần Văn Q, sinh năm 1995 trú tại thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang đã có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 12/11/2024, Q đã có hành vi trộm cắp 01 chiếc xe cải tiến bằng sắt có kích thước (2,47x01x0,6)m có hai lốp bằng cao su, có trị giá 800.000 đồng (T1 trăm nghìn đồng của anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1981 ở thôn P, xã P, huyện L (nay là tổ dân phố P, phường P, thị xã C), tỉnh Bắc Giang. Tài sản đã thu hồi được và trả lại cho bị hại.
Hành vi nêu trên của Trần Văn Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy, bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chũ đã truy tố và lời luận tội tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên cần được Hội đồng xét xử xem xét và chấp nhận.
[3] Xét về tính chất, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo cho thấy:
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là đối tượng lười lao động, lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền ăn tiêu, bị cáo thực hiện hành vi một cách liều lĩnh, chỉ vì lợi ích cá nhân đã lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, xâm phạm trực tiếp đến quyền về tài sản được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng trong nội bộ quần chúng nhân dân.
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo có 01 lần bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích nhưng bị cáo không lấy đó là bài học để tu dưỡng rèn luyện bản thân để trở thành công dân có ích cho xã hội mà lại tiếp tục lao vào con đường phạm tội, chứng tỏ bị cáo là đối tượng khó giáo dục cải tạo. Do vậy Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có đủ điều kiện cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội, theo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đầu thú nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo phạm tội trong thời gian chưa được xoá án tích nên căn cứ vào Điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự, bản án số 32/2024/HSST, ngày 09/04/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam xử phạt bị cáo 06 tháng tù treo chuyển sang 06 tháng tù giam. Tổng hợp hình phạt của 02 bản án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là tù giam.
Về hình phạt bổ sung: Đối với loại tội này, ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền, tuy nhiên Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo thuộc
diện hộ nghèo, không có công việc ổn định, hoàn cảnh khó khăn, do vậy cần miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp.
[4] Đối với Trần Văn Đ1, sinh năm 2000, trú tại thôn Đ, xã V, huyện L, tỉnh Bắc Giang là người đã có 01 tiền án về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy năm 2019. Đối tượng Trần Văn Đ1 có vai trò đồng phạm về hành vi trộm cắp chiếc xe cải tiến bằng sắt cùng với Trần Văn Q, nhưng tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt dưới 2.000.000 đồng. Như vậy hành vi của Trần Văn Đ1 chưa đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự. Hành vi của Trần văn Đ1 vi phạm quy định tại điểm a, khoản 1, Điều 15 Nghị định 144/2021/NĐ-CP. Tuy nhiên đến nay chưa làm việc được với Đ1, nên Cơ quan điều tra tách ra khi nào có căn cứ thì xử lý là phù hợp với quy định.
Đối với anh Trần Văn Đ con ông V là người mua chiếc xe cải tiến của Q nhưng khi mua anh Đ không biết đó là tài sản do Q trộm cắp mà có, nên Cơ quan điều tra không đặt ra vấn đề xử lý đối với anh Đ là có căn cứ
[5] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra anh Nguyễn Văn T đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Anh Trần Văn Đ (con ông V) không yêu cầu bị cáo phải hoàn trả lại anh số tiền anh đã mua chiếc xe cải tiến nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[6] Về vật chứng: Quá trình điều tra, ngày 27/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L ra Quyết định xử lý vật chứng số 2064, trả lại cho anh Nguyễn Văn T 01 chiếc xe cải tiến bằng sắt có kích thước (2,47x01x0,6)m có hai lốp bằng cao su và chị Lê Thị Huyền A 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, Biển kiểm soát 30M1-2909 là phù hợp với quy định của pháp luật, do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[7] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định cuả pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ áp dụng pháp luật, hình phạt: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 56 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị
cáo Trần Văn Q 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của bản án số 32/2024/ HSST, ngày 09/04/2024, của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của 02 bản án là 01 ( một) năm, 03 ( ba) tháng tù. Thời hạn tù tính tù ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam (12/11/2024).
Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
2. Về án phí: Áp dụng điểm đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Văn Q không phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Án xử công khai sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Lê Thu Hà |
Bản án số 04/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 04/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHŨ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn Q - trộm cắp tài sản
