TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ Bản án số: 04/2025/HS-ST Ngày 17-02-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Thanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Tuấn Anh và Ông Nguyễn Quang Tố
Thư ký ghi biên bản phiên Tòa: Bà Lê Thị Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Bảo Tá - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Huế, số A T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế đã xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 144/2024/TLST-HS, ngày 26 tháng 11 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 01/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 01 năm 2025 đối với các bị cáo:
Lê Thị Ngọc B, sinh ngày 07/5/1969 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; tên gọi khác: Không có; giới tính: Nữ; đăng kí thường trú: A L, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; chỗ ở: D N, phường T, thành phố B, tỉnh Đăk Lăk; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Buôn bán; con ông Lê Văn C (đã chết) và bà Hoàng Thị Lệ H, sinh năm 1941; chồng là: Hồ Đắc H1, sinh năm 1964; con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 29/12/2023 cho đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh T (nay là trại tạm giam Công an thành phố H); có mặt tại phiên tòa.
Hồ Đắc H1, sinh ngày 07/8/1964 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; tên gọi khác: không có; giới tính: Nam; đăng kí thường trú:A L, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; chỗ ở hiện nay: xóm C, khu quy hoạch V, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Buôn bán; con ông: Hồ Đắc H2 (đã chết), con bà: Nguyễn Thị H3, sinh năm 1943; vợ là: Lê Thị Ngọc B, sinh năm 1969; con: có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1992, con nhỏ nhất sinh năm 1997; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
2
Người bào chữa cho bị cáo Lê Thị Ngọc B và bị cáo Hồ Đắc H1: Ông Lê Quang H4 - Luật sư Văn phòng L2, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T. Địa chỉ: 2 đường T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
- Bị hại:
- + Bà Trần Thị Diệu L, sinh năm 1962, trú tại: D L, phường Đ, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
- +Bà Trần Phụng H5, sinh năm 1961, trú tại: B C, phường G, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế;có mặt.
- + Bà Trần Thị Hồng T, sinh năm 1958, trú tại: 0 T, phường P, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
- Người làm chứng: Bà Trần Thị Lệ T1, sinh năm 1964, nơi cư trú: G Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do cần tiền làm vốn kinh doanh quán ăn uống tại số A L, phường P, thành phố H, nên vợ chồng Lê Thị Ngọc B và Hồ Đắc H1 có vay tiền và chơi hụi của nhiều người. Sau khi vay, do việc kinh doanh bị thua lỗ và chi tiêu cá nhân hết nên không có tiền trả nợ như đã cam kết. Khi nhiều người bị hại nhiều lần đòi nợ thì B và H1 hứa hẹn sẽ bán nhà và đất tại số F, tổ dân phố L, phường P, thành phố H để trả. Ngày 04/8/2020, B và H1 bán căn nhà trên cho chị Dương Thị T2, trú tại: 4 T, phường G, thành phố H (nay là quận P), với số tiền 2.570.000.000 đồng, nhưng không trả nợ như đã cam kết mà trả nợ ngân hàng và tiêu xài hết.
Ngay sau đó H1, B bỏ trốn khỏi địa phương, thay đổi số điện thoại, đến ở tại các địa tỉnh Thành phố Hồ Chí Minh, Vũng Tàu và Đăk L1 lẩn trốn để chiếm đoạt tiền của người bị hại, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Từ ngày 07/9/2018 đến ngày 27/10/2019, B và H1 vay rồi chiếm đoạt của bà Trần Thị Diệu L (Sinh năm: 1962, trú tại: D L phường Đ, thành phố H) tổng số tiền là 930.000.000 đồng. Theo giấy nhận nợ thì ngày 07/9/2018 mượn 100.000.000 đồng, ngày 26/9/2018 mượn 130.000.000 đồng, ngày 19/10/2018 mượn 100.000.000 đồng, ngày 29/10/2018 mượn 250.000.000 đồng, ngày 14/11/2018 mượn 100.000.000 đồng, ngày 27/10/2019 mượn 250.000.000 đồng.
Vụ thứ hai: Từ ngày 27/11/2018 đến ngày 09/02/2020, B và H1 vay rồi chiếm đoạt của bà Trần Phụng H5 (sinh năm: 1961, trú tại: B C, phường G, thành phố H) tổng số tiền 400.000.000 đồng. Theo các giấy mượn tiền có xác nhận của B hoặc H1 thì ngày 05/11/2018 mượn: 20.000.000 đồng, ngày 27/11/2018 mượn 30.000.000 đồng, ngày 13/6/2019 mượn 50.000.000 đồng, ngày 09/02/2020 mượn 300.000.000 đồng (một lần 200.000.000 đồng và một lần 100.000.000 đồng). Trong khoảng thời gian này, H1 và B có trả 40.000.000 đồng. Ngày 28/7/2020, H1 viết giấy xác nhận nợ rồi chiếm đoạt của bà H5 số tiền 360.000.000 đồng.
3
Vụ thứ ba: Từ ngày 30/9/2019 đến ngày 06/6/2020, B và H1 tham gia chơi 03 dây hụi với bà Trần Thị Hồng T (sinh năm: 1958, trú tại: 0 T, phường P, thành phố H).
Dây 1: Số tiền đã bốc hụi là 72.000.000 đồng, góp trong vòng 360 ngày kể từ ngày 30/9/2019, mỗi ngày góp 200.000 đồng, đã góp 224 ngày với số tiền là 44.800.000 đồng, còn nợ 27.200.000 đồng.
Dây 2: Số tiền đã bốc hụi là 72.000.000 đồng, góp trong vòng 360 ngày kể từ ngày 18/01/2020, mỗi ngày góp 200.000 đồng, đã góp 114 ngày với số tiền là 22.800.000 đồng, còn nợ 49.200.000 đồng.
Dây 3: Số tiền đã bốc hụi là 72.000.000 đồng, góp trong vòng 360 ngày kể từ ngày 06/6/2020, mỗi ngày góp 200.000 đồng, đã góp 34 ngày với số tiền là 6.800.000 đồng, còn nợ 65.200.000 đồng.
Tổng cộng số tiền B và H1 đã bốc hụi là 216.000.000 đồng, số tiền đã góp hụi là 74.400.000 đồng, còn lại chiếm đoạt số tiền 141.600.000 đồng.
Ngoài ra, trong khoảng thời gian B và H1 bỏ trốn có phát sinh mới một tài sản nhưng cả hai che giấu, không trả cho người bị hại, đó là:
Tháng 6/2023, Ủy ban nhân dân thành phố H đã ban hành Quyết định số 5216 về bồi thường tiền và đất cho hộ Hồ Đắc H1 và Lê Thị Ngọc B khi giải tỏa nhà và đất tại số A L, thành phố H. Trong đó, H1 và B nhận được 2.100.000.000 đồng và 01 thửa đất lô K37, khu K, khu đô thị M, phường A, thành phố H (theo quyết định giao đất ngày 08/8/2023). Ngày 02/11/2023, Phòng T3 phối hợp Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố H và Ủy ban nhân dân phường A tiến hành lập biên bản giao đất thực địa cho Hồ Đắc H1 có sự tham gia của tất cả các bên. Số tiền 2.100.000.000 đồng nhận được H1 trả nợ ngân hàng và các khoản nợ khác, lô đất thì không bán để trả tiền cho người bị hại vì cho rằng giá thị trường thấp.
Tang vật thu giữ:
- 01 (Một) tờ giấy A5, kích thước khoảng 6 cm x 8 cm, nội dung là ghi chép, thống kê các khoản nợ của Lê Thị Ngọc B với chị Trần Thị Diệu L, tạm giữ từ chị Trần Thị Diệu L (bản gốc).
- 02 (Hai) cuốn sổ tay có kích thước 8 cm x 10 cm, 01 cuốn màu xanh, 01 cuốn màu đỏ, nội dung là ghi chép quá trình vay mượn tiền của vợ chồng Hồ Đắc H1, Lê Thị Ngọc B với chị Trần Phụng H5, tạm giữ từ chị Trần Phụng H5 (bản gốc).
- 01 (Một) giấy mượn tiền, nội dung là vợ chồng Hồ Đắc H1, Lê Thị Ngọc B có mượn tiền của chị Trần Phụng H5 số tiền là 360.000.000 đồng, đề ngày 28/7/2020 (bản gốc).
- 01 (Một) tờ giấy A4 có nội dung tin nhắn do Lê Thị Ngọc B gửi cho chị Trần Phụng H5.
4
- - 01 (Một) đơn đăng ký cấp giấy chứng nhận QSDĐ của ông Hồ Đắc H1 đề ngày 21/11/2023.
- - 01 (Một) biên bản giao đất tại thực địa giữa ông Hồ Đắc H1 và Phòng Tài nguyên Môi trường tỉnh T đề ngày 02/11/2023.
Xử lý vật chứng: Các vật chứng là giấy tờ, tài liệu đưa vào hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự:
Bà Trần Thị Diệu L, yêu cầu trả lại số tiền bị chiếm đoạt là 930.000.000 đồng, bà Trần Phụng H5 yêu cầu trả lại số tiền bị chiếm đoạt là 360.000.000 đồng, bà Trần Thị Hồng T yêu cầu trả lại số tiền bị chiếm đoạt là 141.600.000 đồng; đến nay bị cáo B và H1 chưa bồi thường.
Tại bản Cáo trạng số 53/CT-VKSTTH-P2 ngày 22 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế) đã truy tố các bị cáo Lê Thị Ngọc B và Hồ Đắc H1 về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế) giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Thị Ngọc B và Hồ Đắc H1 phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”; áp dụng khoản 4 Điều 175; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 54 của Bộ luật Hình sự; áp dụng thêm điểm v khoản 1 Điều 51 đối với bị cáo H1, xử phạt bị cáo Lê Thị Ngọc B từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù; bị cáo Hồ Đắc H1 từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị tiếp tục lưu giữ các vật chứng là giấy tờ, tài liệu trong hồ sơ vụ án.
Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Lời bào chữa của luật sư bào chữa cho các bị cáo: Nhất trí lời buộc tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử các bị cáo đã tự nguyện nộp tiền để khắc phục một phần hậu quả; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát để giảm nhẹ dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với cả hai bị cáo. Đối với bị cáo H1 đã có thời gian tham gia quân đội; có ông nội là liệt sĩ, ông nội và bố đẻ được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến; bản thân bị cáo được cơ quan có thẩm quyền tặng bằng khen, giấy khen, đang bị bệnh phải điều trị. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 65 để xử phạt và cho bị cáo H1 được hưởng án treo để bị cáo có cơ hội cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
Ý kiến và lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo Lê Thị Ngọc B và Hồ Đắc H1 thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, việc truy tố của Viện kiểm sát đối với các bị cáo là đúng pháp luật, không oan, sai; các bị cáo tỏ ra ăn năn hối hận, ăn năn hối cải; đã tự nguyện khắc phục hậu quả và nhất trí lời bào chữa của luật sư bào chữa cho các bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, cân nhắc giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Do các bị cáo là vợ chồng, bị cáo H1 thường xuyên ốm đau bệnh tật,
5
đã có công lao và thành tích trong thời gian tham gia quân đội nên cho bị cáo được hưởng án treo để điều trị bệnh và chăm sóc gia đình; bị cáo B xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị Ngọc B và bị cáo Hồ Đắc H1 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với các tình tiết như bản Cáo trạng đã truy tố, phù hợp với lời khai của các bị hại, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, đã có đủ căn cứ kết luận:
Trong khoảng thời gian từ ngày 27/10/2019 đến ngày 06/6/2020, tại Thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H); Lê Thị Ngọc B và Hồ Đắc H1 là vợ chồng do cần tiền để làm ăn kinh doanh nên nhiều năm đã chơi hụi với nhiều người và nhiều lần cùng thống nhất vay tiền của bà Trần Thị Diệu L; mỗi lần đi vay do B không biết đi xe nên H1 chở B đi đến nhà các bị hại để thực hiện việc góp hụi, vay mượn tiền; việc trao đổi vay tiền do bị cáo B và các bị hại thỏa thuận; B ghi cụ thể số tiền vay vào sổ của bà L, khi trả tiền thì B tự gạch số tiền đã trả trong sổ của bà L, ngoài ra B khai không nhận giấy tờ gì về việc ghi số tiền nợ và số tiền đã trả nợ để theo dõi. Việc nợ tiền này giữa bị cáo B và bà L cũng như các bị hại khác, bị cáo H1 đều biết.
Quá trình điều tra, đối chất, qua xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm ngày 30 tháng 10 năm 2024, các bị cáo B và bị cáo H1 đều thừa nhận do việc vay, mượn và chơi hụi nhiều năm có nợ số tiền của bà L khoảng 780.000.000 đồng và đã trả nợ nhiều lần cho bà L nhưng không nhớ ngày, tháng, năm và số tiền cụ thể đã trả. Bị cáo B thừa nhận số tiền ghi tại bút lục số 0117 là chữ viết của bị cáo, có gạch một khoản tiền là bị cáo đã trả, bị cáo cho rằng đây là khoản tiền góp hụi và số tiền này bị cáo đã trả hết cho bà L nhưng bị cáo không có sổ sách, giấy tờ gì để chứng minh đã trả cho bà L khoản tiền 680.000.000 đồng này.
Ngoài ra, bị cáo B chỉ thừa nhận số tiền nợ bà L chỉ còn lại khoảng 150.000.000 đồng (như tại BL số 122), còn số tiền do bà L ghi thêm “200.000” để thành số “25.0000” sau đó bà L tự ghi vào sổ của bà thành số tiền 250.000.000 đồng để cộng với khoản tiền bị cáo đã thừa nhận do chữ bị cáo ghi trong sổ bà L số tiền
6
680.000.000 đồng thành khỏan nợ 930.000.000 đồng, bị cáo B không thừa nhận và đề nghị Hội đồng xem xét theo quy định pháp luật.
Đối với bị cáo H1 cho rằng việc vợ chồng bị cáo vay tiền bà L, bà H5 và góp hụi với T nhiều lần là có thật; riêng số tiền còn nợ lại bà L nhiều lần bị cáo H1 thừa nhận còn nợ khoảng 550.000.000 đồng (bút lục số 0105 ngày 08/01/2024) nhưng do vay nhiều lần vợ bị cáo (Bích) chỉ ghi vào sổ, không nhớ số tiền. Tại (bút lục số 0144 ngày 06/06/2023) bị cáo H1 cũng thừa nhận vợ chồng bị cáo còn nợ bà L khoảng dưới 500.000.000 đồng.
Đối với khoản nợ của bà Trần Phụng H5 360.000.000 đồng, bà Trần Thị Hồng T 141.600.000 đồng, hai bị cáo đều thừa nhận; tuy nhiên bị cáo B cho rằng khoản nợ bà H5 khoản nợ 400.000.000 đồng vợ chồng bị cáo đã trả hai lần số tiền 60.000.000 đồng, nay chỉ còn nợ số tiền 340.000.000 đồng, nhưng do bị cáo cũng không có sổ sách, giấy tờ gì để chứng minh, đề nghị Hội đồng xem xét cho bị cáo theo qui định pháp luật.
Đồng thời bà L còn bổ sung tài liệu là giấy mượn tiền và cho rằng bị cáo B còn nợ bà số tiền 50.000.000 đồng, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét buộc bị cáo phải trả nợ bà thêm khoản nợ này.
Sau khi nghị án, Hội đồng xét xử xét thấy, cần đối chất làm rõ những mâu thuẫn và những vấn đề phát sinh tại phiên tòa để có căn cứ giải quyết vụ án đảm bảo khách quan, đúng pháp luật, Hội đồng xét xử đã quyết định trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung theo quyết định số 120/2024/HSST-QĐ ngày 30 tháng 10 năm 2024.
Ngày 25 tháng 11 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) đã chuyển trả hồ sơ theo công văn số 2115/VKS-P2 và giữ nguyên quan điểm theo nội dung cáo trạng đã truy tố đối với các cáo.
Kết quả điều tra bổ sung, đối chất, các bị cáo thừa nhận việc vay, mượn tiền của bà L để làm ăn kinh doanh là có thật; nhiều năm, nhiều lần vợ chồng bị cáo chở nhau đến nhà bà L để vay mượn tiền, mỗi lần đều do bị cáo B trực tiếp ghi vào sổ của bà L về số tiền cụ thể, khi trả nợ bớt thì có sự gạch bỏ (Bút lục 0177, bút lục 0122) bị cáo B thừa nhận các hàng chữ có bôi màu xanh và bị cáo thừa nhận là do bị cáo viết. Tuy nhiên, bị cáo chỉ thừa nhận còn nợ bà L khoản nợ 150.000.000 đồng.
Qua xét hỏi và qua tranh tụng công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy: Giữa bị cáo B và bị cáo H1 có mối quan hệ vợ chồng, nhiều năm, nhiều lần đã chơi góp hụi và vay mượn tiền của nhiều người, các bị cáo thừa nhận có nợ của bà L khoản nợ khoảng 780.000.000 đồng nhưng đã trả nhiều lần, bị cáo H1 thừa nhận vợ chồng chỉ còn nợ bà L khoảng 550.000.000 đồng; bị cáo B cho rằng chỉ còn nợ bà L theo giấy xác nhận số; nhưng bản thân các bị không xác định cụ thể thời gian, số tiền đã trả nợ cho bị hại, tự mâu thuẫn với nhau về số tiền nợ và không có tài liệu, chứng cứ chứng minh các khoản nợ đã trả cho bị hại gồm khoản tiền 680.000.000 đồng của bà L và 20.000.000 đồng của bà H5. Tại phiên tòa việc khai nại của các bị cáo cũng không được bà H5 và bà L chấp nhận.
7
Đối với số 250.000.000 đồng qua yêu cầu điều tra bổ sung xác định việc bà L thừa nhận chữ viết của bà ghi thêm “200.000” để thành số “25.0000” sau đó bà L tự thành số tiền 250.000.000 đồng và cho rằng các bị cáo nợ bà 250.000.000 đồng. Tại phiên tòa bà L cũng không có chứng cứ chứng minh việc bị cáo nợ thêm khoản 100.000.000 đồng bà thừa nhận do bà ghi thêm vào sổ của bà nhưng không có xác nhận của bị cáo. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu của bị cáo tại bút lục này chỉ còn nợ bà L số tiền là 150.000.000 đồng.
Sau khi trả hồ sơ điều tra bổ sung, tại phiên tòa bà L thừa nhận đã tự nguyện có đơn rút yêu cầu buộc bị cáo phải trả thêm số nợ 50.000.000 đồng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Như vậy, có căn cứ xác định tổng số tiền các bị cáo còn nợ của bà Trần Thị Diệu L là 680.000.000 đồng + 150.000.000 đồng = 830.000.000 đồng.
Đối với số tiền nợ của bà Trần Phụng H5, vợ chồng H1, B thừa nhận nhiều lần mượn tiền của bà H5, mỗi lần mượn H1 và B đều thỏa thuận và viết giấy mượn tiền nhưng không trả, và hứa hẹn bán nhà sẽ trả nợ nhưng không thực hiện đúng cam kết, sau đó cùng bỏ trốn và hiện còn nợ bà H5 số tiền 360.000.000 đồng, các bị cáo cũng không có tài liệu chứng cứ chứng minh đã trả thêm cho bà H5 số tiền 20.000.000 đồng nên không có căn cứ để xem xét chấp nhận.
Ngoài ra, vợ chồng H1, B đã cùng góp hụi với bà Trần Thị Hồng T, vợ chồng Bích H6 thống nhất và thỏa thuận góp tiền hụi với bà H5 ba dây hụi, bằng việc góp tiền xâu hàng ngày cho bà T trực tiếp đến thu tiền, nay các bị cáo B, H6 thừa nhận còn nợ bà T là 141.600.000 đồng như yêu cầu của bà T.
Quá trình giao dịch vay mượn tiền, lợi dụng sự tin tưởng của các bị hại, vợ chồng các bị cáo H6, B đã nhiều lần vay mượn tiền làm ăn kinh doanh thua lỗ không có khả năng trả nợ; bị hại nhiều lần đòi nợ nhưng không chịu trả; B và H6 hứa hẹn sau khi bán nhà sẽ trả nợ số tiền nhưng sau khi bán được nhà tại phường P, thành phố H thuộc tài sản chung vợ chồng với số tiền 2.570.000.000 đồng, khoảng 10 ngày sau H6 và B cùng bỏ trốn khỏi địa phương không trả nợ cho các bị hại như thỏa thuận.
Ngoài ra, sau khi bị các bị hại tố cáo hành vi chiếm đoạt tài sản như đã nêu trên; bị cáo B và H6 thừa nhận có nhận tiền giải tỏa đền bù nhà và đất số tiền 2.100.000.000 đồng và 01 thửa đất lô K37, khu K, khu đô thị M, phường A, thành phố H, nhưng cũng không trả cho các bị hại, lợi dụng sự tin tưởng của các bị hại rồi sau đó cùng nhau bỏ trốn, thay số sim điện, đi tạm trú làm ăn nhiều nơi nhằm chiếm đoạt tài sản của các bị hại.
Với loạt hành vi nêu trên của các bị cáo B, H6, nhằm chiếm đoạt số tiền 1.331.600.000 đồng của các bị hại trong vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ căn cứ để xác định hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là thành phố H) truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ pháp luật.
8
[3]. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Thông qua sự quen biết tin tưởng của các bị hại, qua thời gian nhiều năm từ năm 2018 đến năm 2020, nhiều lần vợ chồng các bị cáo đã thỏa thuận, thống nhất vay mượn tiền của các bị hại bằng các hình thức khác nhau trên cơ sở tự nguyện để phục vụ mục đích kinh doanh nhà hàng ăn uống; sau đó lấy có việc thua lỗ nên các bị cáo hứa hẹn nhiều lần nhưng vẫn không trả nợ cho các bị hại rồi bỏ trốn.
Mặc dù nhiều lần các bị hại đòi nợ nhưng các bị cáo đã lần lữa, hứa hẹn bán tài sản để trả nợ nhưng khi bán được tài sản là nhà, đất tài sản chung vợ chồng với số tiền 2.570.000.000 đồng vẫn không trả nợ cho các bị hại.
Sau đó các bị cáo B và H6 đã thay sim điện thoại để cắt đứt liên lạc, bỏ trốn khỏi địa phương, đến sinh sống ở nhiều tỉnh, thành phố trong cả nước một thời gian dài.
Quá trình điều tra, mặc dù các bị cáo không thừa nhận số tiền như các bị hại mà bà L, bà H5 kê khai, yêu cầu nhưng qua đối chất và tranh tụng công khai tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận số tiền nợ các bị hại là có thật và đã trả một phần cho các bị hại; nhưng không có giấy tờ, sổ sách và tài liệu chứng cứ chứng minh; đồng thời các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét số tiền bị truy tố cho các bị cáo theo qui định pháp luật.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu trong dư luận quần chúng trong nhân dân. Tình hình diễn biến trên địa bàn thành phố H hiện nay đã xảy ra việc lợi dụng lòng tin và sự quen biết trong xã hội với nhau của nhau nhiều đối tượng để vay, mượn tiền sau đó bỏ trốn dẫn đến nhiều vụ án hình sự, tranh chấp dân sự phức tạp; ảnh hưởng lớn đến an ninh trật tự.
Do đó, cần phải có mức án nghiêm minh, tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tôi của các bị cáo nhằm cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời góp phần răn đe và phòng ngừa chung.
[4]. Xét về nhân thân, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Xét nhân thân: Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; trong giai đoạn chuẩn bị xét xử các bị cáo đã tự nguyện khắc phục một phần hậu quả thiệt hại do các bị cáo gây ra; đã tự nguyện nộp số tiền 800.000.000 đồng; các bị hại đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức thấp nhất cho các bị cáo
9
nên các bị cáo B, H6 được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Đối với bị cáo B là người chịu trách nhiệm chính nên phải chịu mức hình phạt tương xứng với hậu quả do hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra.
Bị cáo H6 có quan hệ vợ chồng với bị cáo B, có vai trò đồng phạm giúp sức nên cần xem xét mức hình phạt tương xứng; bị cáo có quá trình tham gia phục vụ quân đội, được tặng thưởng nhiều Bằng khen, Giấy khen, có ông nội là liệt sĩ, có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến nên cần xem xét áp dụng thêm qui định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; bị cáo phạm tội với vai trò đồng phạm giúp sức, hiện bị cáo đang bị bệnh phải thường xuyên điều trị nên cần xem xét để áp dụng cho bị cáo khi lượng hình.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo B và bị cáo Hòa phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội hai lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với các bị cáo cũng đảm bảo tính răn đe và thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật.
Qua tranh luận, lời bào chữa của luật sư bào chữa cho các bị cáo xét thấy căn cứ tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, lời đề nghị xem xét giảm nhẹ của các bị hại, cần chấp nhận để xem xét áp dụng giảm nhẹ hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề cũng đảm bảo, tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội cải tạo.
Do cả hai bị cáo phạm tội hai lần trở lên và thuộc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng nên không có căn cứ xem xét áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự được hướng dẫn tại khoản 5 Điều 3 Nghị quyết số 02/2028/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao và không đủ căn cứ cho bị cáo H6 được hưởng tình tiết qui định tại điểm x khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự như đề nghị của luật sư bào chữa cho bị cáo H6.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Cần buộc các bị cáo Lê Thị Ngọc B, Hồ Đắc H1 phải chịu trách nhiệm liên đới bồi thường cho các bị hại tổng số tiền là 1.331.600.000 đồng, trong đó: bà Trần Thị Diệu L số tiền: 830.000.000 đồng; bà Trần Phụng H5 số tiền 360.000.000 đồng; bà Trần Thị Hồng T số tiền 141.600.000 đồng; được trừ vào số tiền 800.000.000 đồng bị cáo B và H1 đã nộp trước tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Cục thi hành án dân sự thành phố Huế). Các bị cáo còn phải tiếp tục bồi thường số tiền còn lại là 531.600.000 đồng, chia đôi mỗi bị cáo phải chịu 265.800.000 đồng.
[6]. Về xử lý vật chứng:
Đối với:
10
- 01 (Một) tờ giấy A5, kích thước khoảng 6 cm x 8 cm, nội dung là ghi chép, thống kê các khoản nợ của Lê Thị Ngọc B với chị Trần Thị Diệu L, tạm giữ từ chị Trần Thị Diệu L (bản gốc).
- 02 (Hai) cuốn sổ tay có kích thước 8 cm x 10 cm, 01 cuốn màu xanh, 01 cuốn màu đỏ, nội dung là ghi chép quá trình vay mượn tiền của vợ chồng Hồ Đắc H1, Lê Thị Ngọc B với chị Trần Phụng H5, tạm giữ từ chị Trần Phụng H5 (bản gốc).
- 01 (Một) giấy mượn tiền, nội dung là vợ chồng Hồ Đắc H1, Lê Thị Ngọc B có mượn tiền của chị Trần Phụng H5 số tiền là 360.000.000 đồng, đề ngày 28/7/2020 (bản gốc).
- 01 (Một) tờ giấy A4 có nội dung tin nhắn do Lê Thị Ngọc B gửi cho chị Trần Phụng H5.
- 01 (Một) đơn đăng ký cấp giấy chứng nhận QSDĐ của ông Hồ Đắc H1 đề ngày 21/11/2023.
- 01 (Một) biên bản giao đất tại thực địa giữa ông Hồ Đắc H1 và Phòng Tài nguyên Môi trường tỉnh T đề ngày 02/11/2023.
Xét thấy đây là các tài liệu chứa đựng chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
[7]. Về án phí:
[7.1]. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc các bị cáo Lê Thị Ngọc B, Hồ Đắc H1 mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
[7.2]. Án phí dân sự:
Bị cáo Lê Thị Ngọc B, Hồ Đắc H1 mỗi bị cáo phải chịu số tiền, là : 20.000.000 + (4% x 131.600.000) = 25.264.000 đồng : 2 = 12.632.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
[1]. Vê tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị Ngọc B, bị cáo Hồ Đắc H1, phạm tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
[2]. Về hình phạt:
Áp dụng khoản 4 Điều 175; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Thị Ngọc B 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 29/12/2023.
Xử phạt bị cáo Hồ Đắc H1 05 (năm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt giam thi hành án.
[3]. Về trách nhiệm dân sự:
11
Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 587, 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Buộc các bị cáo Lê Thị Ngọc B, Hồ Đắc H1 có nghĩa vụ liên đới bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt cho các bị hại, gồm: bồi thường cho bà Trần Thị Diệu L số tiền 830.000.000 đồng; bà Trần Phụng H5 số tiền 360.000.000 đồng; bà Trần Thị Hồng T số tiền 141.600.000 đồng;
Các bị cáo đã tự nguyện nộp khắc phục hậu quả số tiền 800.000.000 đồng theo các Biên lai thu tiền số 0000255 ngày 10/9/2024 và Biên lai thu tiền số 0000263 ngày 24/9/2024 do anh Hồ Đắc H7 (con của các bị cáo) là người nộp thay cho các bị cáo tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Thừa Thiên Huế (nay là Cục thi hành án dân sự thành phố Huế). Tiếp tục tạm giữ số tiền này để đảm bảo việc thi hành án.
Các bị cáo phải tiếp tục bồi thường tiếp số tiền còn lại là 531.600.000 đồng, chia đôi mỗi bị cáo phải chịu 265.800.000 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[4]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tuyên xử:
Tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án các vật chứng gồm:
- - 01 (Một) tờ giấy A5, kích thước khoảng 6 cm x 8 cm, nội dung là ghi chép, thống kê các khoản nợ của Lê Thị Ngọc B với chị Trần Thị Diệu L, tạm giữ từ chị Trần Thị Diệu L (bản gốc).
- - 02 (Hai) cuốn sổ tay có kích thước 8 cm x 10 cm, 01 cuốn màu xanh, 01 cuốn màu đỏ, nội dung là ghi chép quá trình vay mượn tiền của vợ chồng Hồ Đắc H1, Lê Thị Ngọc B với chị Trần Phụng H5, tạm giữ từ chị Trần Phụng H5 (bản gốc).
- - 01 (Một) giấy mượn tiền, nội dung là vợ chồng Hồ Đắc H1, Lê Thị Ngọc B có mượn tiền của chị Trần Phụng H5 số tiền là 360.000.000 đồng, đề ngày 28/7/2020 (bản gốc).
12
- - 01 (Một) tờ giấy A4 có nội dung tin nhắn do Lê Thị Ngọc B gửi cho chị Trần Phụng H5.
- - 01 (Một) đơn đăng ký cấp giấy chứng nhận QSDĐ của ông Hồ Đắc H1 đề ngày 21/11/2023.
- - 01 (Một) biên bản giao đất tại thực địa giữa ông Hồ Đắc H1 và Phòng Tài nguyên Môi trường tỉnh T đề ngày 02/11/2023.
[5]. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23; khoản 1 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
[5.1]. Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Lê Thị Ngọc B, bị cáo Hồ Đắc H1, mỗi bị cáo chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) đồng.
[5.2]. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Thị Ngọc B, bị cáo Hồ Đắc H1 mỗi người phải chịu số tiền, là: 12.632.000 đồng.
[6]. Về quyền kháng cáo: Án sơ thẩm xét xử công khai, các bị cáo, bị hại, người bào chữa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Văn Thanh |
13
Bản án số 04/2025/HS-ST ngày 17/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 04/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
