|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 04/2025/HS-ST Ngày 12-11-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Văn Đoàn.
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Chiên và ông Đèo Văn Vĩnh.
- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Khuyên - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lai Châu tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuân - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 3 – Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai, trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 07/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST-HS ngày 31/10/2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Chẻo San M; Tên gọi khác: Không; giới tính: Nữ; Sinh ngày 25/5/1975; Nơi cư trú trước khi bị bắt: Bản Nhóm 2, xã S, tỉnh Lai Châu; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Dao; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Con ông Chẻo Vần D, đã chết và con bà Phàn Tả M1, đã chết; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; C sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn với: Tẩn Sài L, sinh năm 1974; Con: Có 05 con, con lớn nhất sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 2002; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 05/5/2025, tạm giam từ ngày 08/5/2025 hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam Phong Thổ thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh L đến nay. (Có mặt tại điểm cầu thành phần – Phân trại tạm giam Phong Thổ, thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh L).
* Người bào chữa cho bị cáo tại điểm cầu thành phần – Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L: Bà Nguyễn Thị N - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L (Có mặt).
* Người phiên dịch tại điểm cầu thành phần - Phân trại tạm giam Phong Thổ, thuộc Trại tạm giam Công an tỉnh L: Anh Chẻo Chin P, sinh năm 1986, nơi cư trú: Tổ C, phường Đ, tỉnh Lai Châu (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 03/5/2025, Chẻo San M đang ở nhà thì có 01 người đàn ông không rõ lai lịch đến và hỏi M có mua Heroine không? M đồng ý mua và bảo mua với số tiền 2.000.000 đồng, mục đích để sử dụng. Người đàn ông lấy 01 lọ nhựa màu trắng (bên trong có chứa 30 gói Heroine gói bằng mảnh nilon màu hồng, gói chung bên ngoài bằng mảnh nilon màu hồng) và 01 lọ nhựa màu đỏ (bên trong có Heroine) đưa cho M. Mẩy nhận 02 lọ nhựa và đưa cho người đàn ông số tiền 2.000.000 đồng. Sau đó M cất giấu lọ nhựa màu trắng ở cuối giường ngủ, còn lọ nhựa màu đỏ mang theo trên người để sử dụng dần. Từ ngày 03/5/2025 đến ngày 04/5/2025, M đã 02 lần lấy Heroine ở trong lọ nhựa màu đỏ ra để sử dụng. Hồi 08 giờ ngày 05/5/2025 khi M đang ở nhà thì Công an xã V (nay là Công an xã S) đến nhà kiểm tra phát hiện, bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và thu giữ 02 lọ nhựa chứa Heroine, hộp kim loại bên trong chưa 01 bật lửa ga, 01 mảnh giấy bạc, 01 đoạn ống tre, ngay sau đó Cơ quan điều tra đã khám xét khẩn cấp nơi ở của bị cáo nhưng không thu giữ gì.
Tại bản kết luận giám định số 371/KL-KTHS ngày 08/5/2025 của Phòng K, Công an tỉnh L kết luận: Số chất bột, màu trắng thu giữ của Chẻo San M có tổng khối lượng là 1,886 gam, là ma túy; loại Heroine.
Bản cáo trạng số 07/CT-VKSKV3 ngày 20/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lai Châu đã truy tố bị cáo Chẻo San M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về nội dung bản kết luận điều tra và nội dung bản cáo trạng nêu trên.
Tại phiên tòa, vị đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo từ 02 năm 06 tháng đến 02 năm 09 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo và căn cứ các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu tiêu hủy 0,597 gam Heroine còn lại sau giám định, 31 mảnh nilon màu hồng, 02 lọ nhựa, 02 phong bì niêm phong đã mở, 01 hộp kim loại bên trong có 01 bật lửa ga, 01 mảnh giấy bạc, 01 đoạn ống tre. Về án phí hình sự sơ thẩm đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo nhất trí với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét đến nhân thân, điều kiện, hoàn cảnh, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo để xử phạt bị cáo mức án là 02 năm tù.
Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Tại lời nói sau cùng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lai Châu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Người bào chữa đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội ngày 05/5/2025, tức là trước ngày Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội có hiệu lực pháp luật, đến ngày xét xử sơ thẩm Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội đã có hiệu lực pháp luật do vậy bị cáo được áp dụng quy định tại điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc hội về các quy định không có lợi cho người phạm tội.
[2] Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nội dung vụ án, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thu thập hợp pháp. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định:
Vào hồi 08 giờ ngày 05/5/2025 tại bản Nhóm 2, xã S, tỉnh Lai Châu, Chẻo San M đang thực hiện hành vi tàng trữ trái phép 1,886 gam Heroine, mục đích để sử dụng thì bị Công an xã V (nay là Công an xã S) phát hiện, bắt quả tang. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho
xã hội, có tính chất nghiêm trọng, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an trên địa bàn nên cần được xử lý nghiêm minh. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Đối với quan điểm và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 – Lai Châu Hội đồng xét xử xét thấy có phần còn nghiêm khắc, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải về hành vi mà bị cáo đã thực hiện. Do vậy Hội đồng xét xử chỉ chấp nhận một phần đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
Đối với quan điểm bào chữa của người bào chữa, Hội đồng xét xử xét thấy mức đề nghị xử phạt là 02 năm tù đối với bị cáo là chưa tương xứng với tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và khối lượng số ma túy mà bị cáo đã tàng trữ, chưa đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa tội phạm do vậy Hội đồng xét xử chấp nhận một phần đề nghị của người bào chữa.
[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, hiện đang nằm trong diện sử dụng trái phép chất ma túy. Quá trình sinh sống tại địa phương, bị cáo có mối quan hệ thường xuyên với các đối tượng nghiện chất ma túy trên địa bàn gây phức tạp tình hình an ninh trật tự trên địa bàn.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Do vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung nhưng nghề nghiệp của bị cáo là làm ruộng, mức thu nhập không ổn định. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng của vụ án:
Đối với 1,886 gam Heroine thu giữ của bị cáo, Cơ quan điều tra đã trích 1,289 gam gửi đi giám định, không hoàn lại mẫu vật.
Vật chứng còn lại gồm:
- 0,597 gam Heroine còn lại sau giám định, 31 mảnh nilon màu hồng, 02 lọ nhựa, 02 phong bì niêm phong đã mở, 01 hộp kim loại bên trong có 01 bật lửa ga, 01 mảnh giấy bạc, 01 đoạn ống tre là các vật bị cáo đã sử dụng vào mục đích phạm tội, thuộc loại Nhà nước cấm lưu hành, là công cụ dùng vào việc phạm tội và vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy theo các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[6] Những vấn đề liên quan:
Về nguồn gốc số ma túy bị cáo khai mua của một người đàn ông không rõ lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra, làm rõ.
[7] Về án phí: Bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, tại phiên tòa bị cáo xin được miễn án phí hình sự sơ thẩm nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; các điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ các điểm a, c khoản 2 Điều 106; Các Điều 135, 136; 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 4 Luật số 86/2025/QH15 ngày 25/6/2025 của Quốc Hội.
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Chẻo San M phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Chẻo San M 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/5/2025. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 0,597 gam Heroine còn lại sau giám định, 31 mảnh nilon màu hồng, 02 lọ nhựa, 02 phong bì niêm phong đã mở, 01 hộp kim loại bên trong có 01 bật lửa ga, 01 mảnh giấy bạc, 01 đoạn ống tre.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng vào hồi 15 giờ 00 phút ngày 03/11/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L với Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3 – Lai Châu).
- Về án phí: Bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân cấp trên.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Văn Đoàn |
Bản án số 04/2025/HS-ST ngày 12/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 04/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chẻo San M
