|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1- THANH HOÁ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 04/2025/HS-ST Ngày: 10-11-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Lưu Định Túy
- 2. Bà Nguyễn Thị Minh Thảo
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Tố Quyên - Thư ký TAND khu vực 1- Thanh Hóa
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1-Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Lệ Mỹ – Kiểm sát viên
Ngày 10 tháng 11 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1-Thanh Hóa xét xử sơ thẩm sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 01/2025/HS-ST ngày 02 tháng 10 năm 2025. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/2025/QĐXXST - HS ngày 30 tháng 10 năm 2025 đối với bị cáo:
Đỗ Văn Đ- Sinh năm 1982; Nơi cư trú: Số nhà E, phố N, phường N, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: [...]; nơi cấp: Cục C1 về trật tự xã hội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đỗ Văn Đ1 và bà Ngô Thị D; vợ, con: chưa; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 26/9/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo bản án số 232, chấp hành xong hình phạt tù ngày 03/12/2019, chấp hành xong án phí ngày 22/11/2018; Ngày 23/8/2021 bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng (chấp hành xong ngày 12/4/2023); tạm giữ: 22/6/2025, tạm giam: 28/6/2025. Hiện đang tạm giam tại Phân trại tạm giam Thanh Hóa - Trại tạm giam Công an tỉnh T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 13 giờ 50 phút ngày 22/06/2025, Tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy - Công an tỉnh T chủ trì phối hợp với Công an phường T, Công an tỉnh T làm nhiệm vụ tại khu vực đường Q, đoạn thuộc phố N, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (nay là phố N, phường H, tỉnh Thanh Hóa) phát hiện Đỗ Văn Đ có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Tổ công tác phát hiện bên trong tất đang đeo tại chân phải của Đ có 01 gói giấy
1
màu xám đen, bên trong gói giấy có chứa chất rắn màu trắng. Đ khai nhận đây là gói ma túy chứa heroine của Đ. Ngoài ra, kiểm tra bên lề đường, bên cạnh vị trí của Đ đứng có 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong gói giấy bạc có 01 gói giấy màu trắng, có chữ màu đen, bên trong có chứa chất rắn màu trắng. Đ khai nhận đây cũng là ma túy heroine của Đ vừa ném ra. Hai gói ma tuý này, Đ đang định mang đi bán cho người khác nhưng chưa kịp bán thì bị Công an phát hiện, thu giữ.
Về nguồn gốc số ma túy: Sáng ngày 22/6/2025, Đô Văn Đ2 đến nhà chị Đỗ Thị X sinh năm 1980, trú tại số nhà D phố Y, phường T, TP ., tỉnh Thanh Hóa (nay là phường N, tỉnh Thanh Hóa) là chị gái ruột của Đ2 để mượn xe máy đi mua thuốc cảm cúm cho mẹ, chị X đồng ý cho Đ2 mượn chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA Vision, màu đỏ, găn BKS: 36B2-18.991 của mình. Trên đường đi mua thuốc cảm cúm, Đ2 có gặp H, Đ2 có hỏi H có biết nơi nào bán ma túy heroine không thì H nói có. Đông có nhờ H mua cho Đ2 500.000 đồng ma túy heroine, H nói bận không đi được và bảo Đ2 "anh cứ ra cầu Đ, Nga S em điện cho ông anh của em, rồi đưa tiền cho ông ấy mà lấy", Đ2 hỏi lại H người bán ma túy tên gì thì H nói tên N. Sau đó H gọi điện cho N là người bán ma túy hỏi mua hộ ma túy cho Đ2 thì người này đồng ý. Đông một mình đi xe máy đến đầu cầu Đ, đứng đợi khoảng 10 phút thì có người đàn ông đi xe máy, đeo khẩu trang, đội mũ lưỡi trai đi xe Wave màu xanh không biển số đến nói với Đ2: "đi", Đ2 hỏi lại "anh N à" thì người đàn ông này nói “ừ, đi”, Đ2 đi theo người này, người này dẫn Đ2 đi một lúc thì dừng lại ở cánh đông và nói "đưa tiền đây", Đ2 đưa cho người này 500.000 đồng, người này đưa lại cho Đ2 01 gói giấy bạc. Đ2 có xin số điện thoại của N tuy nhiên N không cho, sau đó N quay xe đi. Đ2 cầm ma túy bỏ vào túi quần và đi về, khi gần đến nhà thì gặp H1 là bạn nghiện quê ở huyện N cũ, H1 hỏi Đ2 có ma túy heroine không bán cho H1 500.000 đồng, Đ2 đồng ý và nói H1 ra cầu H đợi. Đ2 đi về nhà mang thuốc cho mẹ, sau đó vào phòng ngủ của mình lấy gói giấy bạc chứa ma túy, mở ra thấy bên trong có chứa 01 gói giấy màu trắng có chứa chất rắn màu trắng là ma túy heroine và 01 gói giấy màu xám chứa chất rắn màu trắng không phải ma túy. Đ2 không biết chất rắn màu trắng trong gói giấy màu xám không phải là ma túy. Đ2 lấy gói giấy màu xám bỏ vào bên trong tất đang đeo ở chân phải để có ai hỏi mua thì bán, còn gói giấy màu trắng, Đ2 dùng giấy bạc gói lại và đi xe máy ra đâu cầu H phía phường N, khi đến nơi Đ2 dừng xe và ném gói ma túy ở lề đường để H1 đến và bán cho H1. Khi Đ2 vừa ném gói ma túy xuống lề đường thì bị Cơ quan Công an phát hiện, kiểm tra và thu giữ.
Tại Bản kết luận giám định số 2223/KL-KTHS ngày 26/6/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Không tìm thấy chất ma túy trong chất rắn màu trắng chứa trong gói giấy màu xám đen của phong bì niêm phong ký hiệu Đ1 gửi giám định; Chất rắn màu trắng chứa trong gói giấy bạc màu trắng của phong bì niêm phong ký hiệu Đ1 gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,119 gam, loại heroin.
Cơ quan điều tra công an tỉnh T tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Đỗ Văn Đ nhưng không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
2
Về vật chứng: Toàn bộ mẫu vật sau giám định, 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1, màu tím đã qua sử dụng được chuyển đến Phòng Thi hành án khu vực 1-Thanh Hóa chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như kết luận của Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xác định, phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án.
Cáo trạng số 01/CT-VKSKV1 ngày 30/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Thanh Hóa truy tố bị cáo Đỗ Văn Đ về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 BLHS.
Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đã làm rõ các căn cứ phạm tội, trách nhiệm hình sự (TNHS) của bị cáo, trong phần luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 BLHS. Đề nghị xử phạt bị cáo Đỗ Văn Đ từ 30 đến 36 tháng tù. Về vật chứng áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định; Trả lại điện thoại di động cho bị cáo. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận, lời nói sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh T, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1- Thanh Hóa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, tại phiên tòa người tham gia tố tụng không có ý kiến khiếu nại gì, Hội đồng xét xử tiến hành theo thủ tục chung.
[2]. Về hành vi phạm tội: Về lời khai tại phiên tòa hôm nay đối chiếu với lời khai của bị cáo đã khai tại Cơ quan điều tra đều thống nhất với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng và vật chứng đã thu được cùng tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Vào 13 giờ 50 phút ngày 22/6/2025, tại phố N, phường H, tỉnh Thanh Hóa, Đỗ Văn Đ đang mang ma túy đi bán thì bị phát hiện, kiểm tra và thu giữ 02 gói chất rắn trắng, trong đó 01 gói tổng khối lượng 0,119 gam là ma tuý loại Heroine, 01 gói tổng khối lượng 0,147 gam không phải là ma túy. Đối với 0,147 gam chất rắn màu trắng giám định không phải là ma túy, tuy nhiên Đỗ Văn Đ ý thức rằng chất rắn màu trắng trên là ma tuý Heroine vì vậy Đỗ Văn Đ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với 0.147 gam chất rắn màu trắng không phải ma túy tính theo tương đương chất ma túy heroin. Tổng khối lượng ma túy Đỗ Văn Đ phải chịu trách nhiệm hình sự là 0,266 gam.
Như vậy, hành vi của bị cáo Đỗ Văn Đ đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 BLHS như cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, đúng pháp luật.
3
Đối với người bán ma túy cho Đ là N qua H giới thiệu, người mua ma túy của Đ là H1, Cơ quan điều tra đã áp dụng các biện pháp nghiệp vụ điều tra, xác minh làm rõ tuy nhiên chưa xác định được nên tách ra để tiếp tục xác minh, làm rõ khi có đủ căn cứ sẽ xử lý theo quy định.
Đối với Đỗ Thị X là chị gái của bị cáo Đỗ Văn Đ cho Đ mượn xe, tuy nhiên không biết Đ dùng xe để thực hiện hành vi phạm tội, không liên quan đến hành vi phạm tội của Đ.
[3]. Tính chất vụ án: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, mà còn tạo ra dư luận xấu trong nhân dân. Bị cáo biết rõ ma túy có tác hại nhiều mặt đến đời sống, kinh tế cũng như quan hệ xã hội và ảnh hưởng xấu đến nếp sống văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc, đặc biệt hành vi sử dụng ma túy còn là một trong những tác nhân làm lây truyền căn bệnh HIV/AIDS. Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, cần phải được xử lý nghiêm để giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung.
[4]. Về trách nhiệm hình sự (TNHS) của bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại các cơ quan tiến hành tố tụng, bị cáo thành khẩn khai báo, đầu thú, bị cáo có bố đẻ, mẹ đẻ tham gia khánh chiến được tặng thưởng Huân chương kháng chiến, bằng khen, bị cáo có thời gian tham gia quân ngũ nên khi quyết định hình phạt cần áp dụng điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của BLHS giảm nhẹ một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà cải tạo thành trở thành công dân có ích cho xã hội.
Bị cáo có nhân thân xấu, đã bị xét xử về tội phạm ma túy, bị áp dụng biện pháp hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc nhưng không lấy đó làm bài học để cải tạo, sửa chữa.
Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo cần áp dụng Điều 38 của BLHS để cách ly khỏi xã hội một thời gian đối với bị cáo để có điều kiện cải tạo sớm trở thành người lương thiện.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Đối với số ma túy bị cáo mua để đi bán do chưa bán được vì vậy không cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6]. Về biện pháp tư pháp: Đối với tài sản không liên quan đến việc phạm tội Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là phù hợp.
[7]. Về vật chứng: Số ma túy còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành, chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo không dùng vào việc phạm tội. Toàn bộ vật chứng của vụ án đã được bàn giao cho Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1-Thanh Hóa cần áp dụng Điều 106 của BLTTHS để tịch thu tiêu hủy và trả lại cho bị cáo theo quy định.
[8]. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 của BLHS; Khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106; Điều 136 của BLTTHS;
4
điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Văn Đ phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Đỗ Văn Đ 33 (ba mươi ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/6/2025.
- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Đông Văn Đ3.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ma túy niêm phong của Phòng K Công an tỉnh T, có hình dấu của Phòng K, kèm các chữ ký chữ viết của Lê Minh T, Lê Hùng C, Lại Thị Thanh L; Trả lại cho bị cáo Đỗ Văn Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO không khởi động được nguồn, số Imei ghi trên mặt sau vỏ điện thoại 866988040121476, điện thoại gắn kèm sim đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy móc bên trong.
Toàn bộ vật chứng hiện đang được tạm giữ tại Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1- Thanh Hóa theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 01/2025/KV1. ngày 06/10/2025.
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Quyết định bản án được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Trần Thị Liên |
5
6
Bản án số 04/2025/HS-ST ngày 10/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HÓA về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 04/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán trái phép chất ma túy
