Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU

VỰC 1 - SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HS-ST

Ngày 06 - 11 - 2025

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - SƠN LA

Tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Sơn La:

  • - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
    • Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lò Thị Mai Hương
    • Các Hội thẩm nhân dân:
      • Bà Nguyễn Thị Hương
      • Bà Đoàn Thị Thúy
    • Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Trà My – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Sơn La.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Sơn La tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Long Thành - Kiểm sát viên.

Tại điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam M:

  • - Người tiến hành tố tụng:
    • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 – Sơn La: Ông Lường Văn H – Kiểm sát viên.
    • Thư ký Tòa án: Ông Cầm Việt H1 – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Sơn La.
  • - Người tham gia tố tụng khác:
    • Cán bộ, Chiến sỹ thuộc phân trại tạm giam M: Ông Lò Văn C, ông Nguyễn Văn A - Cán bộ chiến sỹ thuộc Phân trại tạm giam M.

Ngày 06 tháng 11 năm 2025, tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1 - Sơn La và điểm cầu thành phần Phân trại tạm giam Mường La xét xử trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 01/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 08/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Cà Văn N

(tên gọi khác: Không), sinh ngày: 03 tháng 8 năm 1997, tại: xã M, tỉnh Sơn La; nơi cư trú: Bản T, xã M, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đoàn thể, đảng phái: Không; con ông Cà Văn T (sinh năm 1975) và con bà Lèo Thị Y (sinh năm 1976); vợ là Lò Thị P, sinh năm 2000; bị cáo có 01 con sinh năm 2024; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt từ ngày 08/7/2025, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/7/2025 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 21 giờ 55 phút ngày 08/7/2025, tổ công tác Công an xã M, tỉnh Sơn La làm nhiệm vụ tại khu vực đầu bản Ta Mo, xã M, tỉnh Sơn La phát hiện bắt quả tang Cà Văn N, sinh năm 1997, đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Vật chứng thu giữ gồm: 02 gói nilon màu xanh, bên trong chứa cục, bột màu trắng, N khai là ma túy Heroine, cất giữ để sử dụng.

Ngày 09/7/2025, Công an xã M tiến hành bóc mở niêm phong, tách bì, cân tịnh và xác định khối lượng vật chứng. Kết quả: Chất cục bột màu trắng trong gói nilon thứ nhất có khối lượng 0,18 gam; Chất cục bột màu trắng trong gói nilon thứ hai có khối lượng 0,12 gam; Tổng khối lượng là 0,30 gam. Trích rút 0,04 gam trong túi nilon thứ nhất làm mẫu giám định ký hiệu N1; Trích rút 0,03 gam trong túi nilon thứ hai làm mẫu giám định ký hiệu N2. Còn lại 0,23 gam ký hiệu N1A = 0,14 gam, N2A = 0,09 gam niêm phong làm mẫu lưu kho.

Tại Kết luận giám định số: 775/KL-KTHS ngày 14/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh S kết luận: “Mẫu ký hiệu N1, N2 gửi giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; khối lượng của mẫu gửi giám định là N1 = 0,04 gam, N2 = 0,03 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,30 gam; loại Heroine. Mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định”.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Cà Văn N khai nhận: Do nghiện ma túy, khoảng 20 giờ 00 phút ngày 08/7/2025, N đi bộ một mình từ nhà thuộc bản T, xã M đến bản B, xã M để tìm mua ma túy sử dụng. Khi đi đến gần một ao nước lớn thuộc bản Bủng, N gặp một người đàn ông khoảng 34 tuổi, dáng người béo thấp, mặc quần bò màu xanh, không mặc áo có biểu hiện giống người sử dụng ma túy nên đã đặt vấn đề mua ma túy với người đàn ông này (N không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể). Qua trao đổi, N hỏi và mua được 01 gói nilon màu xanh bên trong chứa Heroine với giá 300.000 VNĐ. Sau khi bán ma túy cho N xong, người đàn ông trên bỏ đi còn N đi bộ tìm nơi sử dụng. Khi đi bộ tới khu vực rừng cao su, N sử dụng ma túy bằng hình thức hít. Sau khi sử dụng xong, Nam chia số ma túy còn lại thành 02 gói nilon màu xanh cầm ở tay trái và đi bộ về nhà. Khi đi bộ tới khu vực đầu bản Ta Mo thì N bị tổ công tác kiểm tra, N đã giao nộp số ma túy cho tổ công tác như đã nêu trên

Thực hiện điều tra xác minh đối với người nam giới đã bán trái phép chất ma túy cho Cà Văn N nhưng không có cơ sở để mở rộng điều tra vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 01/CT-VKS ngày 05/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Sơn La truy tố bị cáo Cà Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Sơn La đã truy tố và thừa nhận bản cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” là đúng người, đúng tội.

Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Sơn La giữ quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Bị cáo Cà Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Cà Văn N từ 37 (ba mươi bảy) đến 40 (bốn mươi) tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tiêu huỷ: 02 (hai) mảnh nilon màu xanh, 02 túi nilon màu trắng ký hiệu N1A = 0,14 gam, N2A = 0,09 gam (được niêm phong trong 01 phong bì công văn có dán giấy niêm phong số 021367 của Ủy ban nhân dân xã M).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, buộc bị cáo Cà Văn N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến gì đối đáp với đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người khác không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 08/7/2025, Cà Văn N đã có hành vi cất giữ trái phép 0,30 gam Heroine, hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng: Lời khai nhận tội của bị cáo; biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 21 giờ 55 phút ngày 08/7/2025 tại bản Ta Mo, xã M, tỉnh Sơn La đối với Cà Văn N cùng vật chứng thu giữ là 02 gói nilon màu xanh, bên trong có chứa cục bột màu trắng, N khai là ma túy Heroine; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 775/KL-KTHS ngày 14/7/2025 của Phòng K Công an tỉnh S; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của anh Tạ Văn T1, sinh năm 1988, trú tại bản Ta Mo, xã M, tỉnh Sơn La, là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang.

Từ các căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Cà Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[3] Về tính chất mức độ của hành vi: Bị cáo Cà Văn N phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy với tổng khối lượng là 0,30 gam, loại Heroine, đã vi phạm vào tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, khung hình phạt có mức phạt tù từ 03 năm đến 05 năm và thuộc loại tội phạm nghiêm trọng.

Hành vi vi phạm của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất mức độ hành vi và nhân thân của bị cáo, nhằm đảm bảo biện pháp cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự 2015.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, do đó, xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bản thân bị cáo không có công việc, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo để bảo đảm việc thi hành án; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/7/2025 được xem xét khấu trừ vào thời gian chấp hành hình phạt tù.

[8] Về nguồn gốc số ma túy: Bị cáo khai đã mua của một người đàn ông khoảng 34 tuổi, dáng người béo thấp, mặc quần bò màu xanh, không mặc áo vào tối ngày 08/7/2025 không biết tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực bản B, xã M, tỉnh Sơn La. Ngoài lời khai của bị cáo, cơ quan chức năng đã tiến hành điều tra xác minh, nhưng không thu thập được tài liệu chứng cứ gì, do đó buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự toàn bộ đối với số ma túy bị thu giữ.

[9] Vật chứng của vụ án: Đối với 0,23 gam Heroine ký hiệu N1A = 0,14 gam, N2A = 0,09 gam hiện đang lưu kho vật chứng là vật cấm tàng trữ, lưu hành và với 02 (hai) mảnh nilon màu xanh là vật chứng không có giá trị sử dụng, căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, cần tịch thu và tiêu hủy.

[10] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc nhưng không sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố: Bị cáo Cà Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

    Xử phạt: Bị cáo Cà Văn N 39 (ba mươi chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (09/7/2025).

    Không áp dụng hình phạt bổ sung – phạt tiền đối với bị cáo.

  2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Tịch thu và tiêu hủy: 02 (hai) mảnh nilon màu xanh, 02 túi nilon màu trắng ký hiệu N1A = 0,14 gam, N2A = 0,09 gam (được niêm phong trong 01 phong bì công văn có dán giấy niêm phong số 021367 của Ủy ban nhân dân xã M).

    (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/10/2025 giữa Công an tỉnh S và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Sơn La).

  3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Cà Văn N phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 06/11/2025).

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - VKSND khu vực 1 – Sơn La;
  • - Công an tỉnh Sơn La;
  • - Phòng THADS khu vực 1 – Sơn La;
  • - Bị cáo;
  • - THAHS;
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lò Thị Mai Hương

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA

PHIÊN TÒA

Đoàn Thị Thúy

Lò Thị Mai Hương

Nguyễn Thị Hương

 

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/HS-ST ngày 06/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 04/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án số 04/2025/HS-ST ngày 06/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Sơn La
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger