Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN H

TỈNH H

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 04/2025/HS-ST

Ngày 05-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH H

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Minh Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Cao Xuân Tú.

Bà Hoàng Thị Nguyệt.

- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Diệu - Thư ký Toà án nhân dân huyện H, tỉnh H.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh H tham gia phiên toà:

Ông Tằng Văn Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh H mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Họ và Tên: PHẠM TIẾN Đ1; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; sinh ngày: 22 tháng 6 năm 1991 tại huyện N, tỉnh Tuyên Quang; nơi cư trú: Tổ B, thị trấn Y, huyện B, tỉnh H; căn cước công dân số: [...], cấp ngày 31/3/2021, nơi cấp: Cục cảnh sát QLHC về TTXH; quốc tịch Việt Nam;dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; bố đẻ: Phạm Công Đ, sinh năm: 1958; mẹ đẻ: Hoàng Thị T, sinh năm: 1964; Vợ: Phan Thị H, sinh năm 1995; con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2017, con nhỏ nhất sinh năm 2024; đảng, đoàn thể: Không; anh chị em ruột: Có 03 chị em ruột, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; nhân thân: không; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Phạm Tiến Đ1 bị bắt tạm giam ngày 12/10/2024, đến ngày 04/12/2024 quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại thị trấn Y, huyện B, tỉnh H.

  1. Họ và tên: HOÀNG THỊ T; tên gọi khác: Không; giới tính: Nữ; Sinh ngày: 10 tháng 9 năm 1964 tại huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cư trú: Tổ B, thị trấn Y, huyện B, tỉnh H; căn cước công dân số: [...], cấp ngày 30/3/2021, nơi cấp: Cục cảnh sát QLHC về TTXH; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 07/10; nghề nghiệp: Lao động tự do; bố đẻ: Hoàng Đức L, sinh năm 1929 (đã chết); mẹ đẻ: Nguyễn Thị G, Sinh năm: 1926; chồng: Phạm Công Đ, sinh năm 1958; con: Có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1986, con nhỏ nhất sinh năm 1991; đảng, đoàn thể: Đảng viên Đ3. Hiện bị cáo đã bị đình chỉ sinh hoạt

Đảng tại Chi bộ Tổ 2, thị trấn Y, huyện B, tỉnh H; anh chị em ruột: Bị cáo có 09 anh chị em ruột, bị cáo là con thứ sáu trong gia đình; nhân thân: Không; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Hoàng Thị T bị bắt tạm giam ngày 12/10/2024, đến ngày 24/10/2024 quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại thị trấn Y, huyện B, tỉnh H.

  1. Họ và T1: HOÀNG VĂN K; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; Sinh ngày: 17 tháng 02 năm 1980 tại huyện B, tỉnh H; nơi cư trú: Thôn N, thị trấn Y, huyện B, tỉnh H; căn cước công dân số: [...], cấp ngày 16/10/2022, nơi cấp: Cục cảnh sát QLHC về TTXH; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; bố đẻ: Hoàng Văn T2, sinh năm 1944 (đã chết); mẹ đẻ: Hoàng Thị M, Sinh năm: 1946; vợ: Nguyễn Thị T3, sinh năm 1984; con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2018; đảng, đoàn thể: Không; anh chị em ruột: Bị cáo có 02 anh em ruột, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; nhân thân: Không; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Hoàng Văn K bị bắt tạm giam ngày 12/10/2024, đến ngày 04/12/2024 quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại thị trấn Y, huyện B, tỉnh H.

  1. Họ và T1: NGUYỄN MẠNH H1; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; Sinh ngày: 26 tháng 8 năm 1995 tại huyện B, tỉnh H; nơi cư trú: Tổ A, thị trấn Y, huyện B, tỉnh H; căn cước công dân số: [...], cấp ngày 30/5/2022, nơi cấp: Cục cảnh sát QLHC về TTXH; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Tày; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; bố đẻ: Nguyễn Xuân H2, sinh năm 1977; mẹ đẻ: Ban Thị N, Sinh năm: 1974; vợ: Ninh H, sinh năm 1994; con: Có 01 con, sinh năm 2022; đảng, đoàn thể: Đảng viên Đ3. Hiện bị cáo đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng tại Chi bộ T, thị trấn Y, huyện B, tỉnh H; anh chị em ruột: Bị cáo có 02 anh em ruột, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; nhân thân: Không; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Nguyễn Mạnh H1 bị bắt tạm giam ngày 22/10/2024, đến ngày 04/12/2024 quyết định thay thế biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh. Hiện bị cáo đang tại ngoại tại thị trấn Y, huyện B, tỉnh H.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Lý Văn T4, sinh năm 1999. Nơi cư trú: Thôn G, xã N, huyện H, tỉnh H. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
  2. Bôn Kim N2, sinh năm 1998. Nơi cư trú: Thôn F S, xã N, huyện H, tỉnh H. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
  3. Nguyễn Đức C, sinh năm 1997. Nơi cư trú: Thôn N, thị trấn Y, huyện B, tỉnh H. Có mặt
  4. Nguyễn Chí H3, sinh năm 1976. Nơi cư trú: Thôn N, xã L, huyện B, tỉnh H. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
  5. Nguyễn Văn C1, Sinh năm 1991. Nơi cư trú: Tổ A, phường M, thành phố H, tỉnh H. Vắng mặt.

- Người tham gia tố tụng khác (Người làm chứng):

  1. Mương Trọng T5. Vắng mặt
  2. Phạm Thị Thanh H4. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
  3. Đinh Văn P. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
  4. Lã Trung Đ2. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
  5. Xì Thị H5. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
  6. Nông Văn T6. (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
  7. Đinh Thị H6.(Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt)
  8. Dương Văn K1. Có mặt
  9. Hoàng Quang H7. Vắng mặt
  10. Chu Văn M1. Có mặt
  11. Vũ Mạnh D. Có mặt
  12. Đinh Công T7. Vắng mặt
  13. Đặng Văn X. Vắng mặt
  14. Lèng Văn N1. Vắng mặt
  15. Lèng Văn T8. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 03/8/2024, bị cáo Hoàng Thị T, sinh năm 1964, trú tại tổ B, thị trấn Y, huyện B, tỉnh H đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề với Lý Văn T4, sinh năm 1999, trú tại thôn G L, xã N, huyện H, tỉnh H; Bôn Kim N2, sinh năm 1998, trú tại thôn F S, xã N, huyện H, tỉnh H với tổng số tiền là: 5.050.000đ (năm triệu không trăm năm mươi nghìn đồng). Sau đó, T chuyển toàn bộ số lô, số đề và tiền đánh bạc của T4, N2 cho bị cáo Phạm Tiến Đ1, sinh năm 1991 trú tại tổ B, thị trấn Y, huyện B, tỉnh H (con trai bị cáo T).

Về hành vi đánh bạc của bị cáo Phạm Tiến Đ1 thể hiện qua 02 ngày cụ thể sau:

+ Ngày 03/8/2024, bị cáo Phạm Tiến Đ1 đánh bạc bằng hình thức ghi số đề với Nguyễn Đức C, sinh năm 1997, trú tại thôn N, thị trấn Y, huyện B, tỉnh H với số tiền là 350.000 đồng. Tổng số tiền bị cáo Phạm Tiến Đ1 đánh bạc với bị cáo Hoàng Thị T, Nguyễn Đức C là 5.400.000 đồng.

+ Ngày 11/9/2024, bị cáo Phạm Tiến Đ1 đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề với Hoàng Thị T, bị cáo Hoàng Văn K, sinh năm 1980, trú tại thôn N, thị trấn Y, huyện B, tỉnh H; bị cáo Nguyễn Mạnh H1, sinh năm 1995, trú tại tổ A, thị trấn Y, huyện B, tỉnh H với tổng số tiền là: 35.810.000 đồng

Bị cáo Hoàng Văn K đánh bạc với bị cáo Phạm Tiến Đ1 là: 7.050.000 đồng.

- Bị cáo Nguyễn Mạnh H1 đá nh bạc với bị cáo Phạm Tiến Đ1 là : 27.500.000 đồng.

* Vật chứng của vụ án:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã thu giữ số tang vật gồm:

- Thu giữ của Bôn Kim N2: 01 điện thoại di động ViVo 2015, màu xanh bên trong gắn sim số thuê bao: 0397394644 (đã qua sử dụng).

- Thu giữ của Lý Văn T4: 01 điện thoại di động OPPO C12, màu xanh bên trong gắn sim số thuê bao: 0399440711 (đã qua sử dụng).

- Thu giữ của Hoàng Thị T: 01 mảnh giấy màu trắng, kích thước 10cm x 15cm, một mặt ghi các ký tự số, nghi là số lô, số đề; 03 mảnh giấy là một phần của tờ lịch, một mặt ghi các ký tự số, nghi là số lô, số đề; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng mặt lưng màu vàng, nhãn hiệu OPPO 38, bên trong gắn sim số thuê bao: 0977161103 (đã qua sử dụng).

- Thu giữ của Phạm Tiến Đ1: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Redmi 9T màu xanh lam; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Redmi Note 12 màu nâu đen, bên trong gắn sim số thuê bao: 0979772691 (đã qua sử dụng).

- Thu giữ của Hoàng Văn K: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu ViVo mặt lưng màu vàng, bên trong gắn sim số thuê bao: 0358190223; 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng mặt lưng màu đen nhãn hiệu Iphone 11, bên trong gắn sim số thuê bao: 0348142166 (đã qua sử dụng).

- Thu giữ của Nguyễn Mạnh H1: 01 điện thoại di động màn hình cảm ứng mặt lưng màu trắng, nhãn hiệu Samsung Glaxy A30S, bên trong gắn sim số thuê bao: 0865359353 và 0857359353 (đã qua sử dụng).

Hiện 01 mảnh giấy màu trắng, kích thước 10cm x 15cm, một mặt ghi các ký tự số, nghi là số lô, số đề; 03 mảnh giấy là một phần của tờ lịch, một mặt ghi các ký tự số, nghi là số lô, số đề đã lưu hồ sơ vụ án. Toàn bộ số vật chứng còn lại đã chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự huyện H để xử lý theo quy định.

Tại bản cáo trạng số 04/CT-VKS ngày 21/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh H đã truy tố các bị cáo Phạm Tiến Đ1, Hoàng Thị T, Hoàng Văn K, Nguyễn Mạnh H1 phạm tội Đánh bạc, theo quy định tại Khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự..

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình thể hiện tại các lời khai, biên bản hỏi cung bị cáo (từ bút lục số 852 đến bút lục số 911); Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (từ bút lục số 1073 đến bút lục số 1141); phù hợp với lời khai người làm chứng (từ bút lục số 919 đến bút lục số 1072) cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt, tại phiên tòa Xét thấy, trong quá trình điều tra những người vắng mặt đã có lời khai trong hồ sơ vụ án và đều phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung cáo trạng, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại phiên tòa.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện, tỉnh H giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Phạm Tiến Đ1, Hoàng Thị T, Hoàng Văn K, Nguyễn Mạnh H1 về tội danh, điều luật như nội dung cáo trạng đã nêu. Đề nghị Hội đồng xét xử:

a. Về trách nhiệm hình sự:

- Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Phạm Tiến Đ1, Hoàng Thị T, Hoàng Văn K, Nguyễn Mạnh H1 phạm tội Đánh bạc quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

- Về hình phạt chính:

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, t Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; điểm g Khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị

cáo Phạm Tiến Đ1 từ 24 đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 đến 60 tháng.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s Khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H1 từ 20 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 40 đến 48 tháng; đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Văn K từ 14 đến 20 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 28 đến 40 tháng.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Hoàng Thị T từ 09 đến 16 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 32 tháng.

- Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

b) Xử lý vật chứng:Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS, đề nghị tuyên:

- Tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động ViVo 2015, màu xanh bên trong gắn sim số thuê bao: 0397394644; 01 (một) điện thoại di động OPPO C12, màu xanh bên trong gắn sim số thuê bao: 0399440711; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng mặt lưng màu vàng, nhãn hiệu OPPO 38, bên trong gắn sim số thuê bao: 0977161103; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Redmi 9T màu xanh lam; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Redmi Note 12 màu nâu đen, bên trong gắn sim số thuê bao: 0979772691; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu ViVo mặt lưng màu vàng, bên trong gắn sim số thuê bao: 0358190223; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng mặt lưng màu đen nhãn hiệu Iphone 11, bên trong gắn sim số thuê bao: 0348142166; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng mặt lưng màu trắng, nhãn hiệu Samsung Glaxy A30S, bên trong gắn sim số thuê bao: 0865359353 và 0857359353 (tất cả đã qua sử dụng).

- Truy thu đối với bị cáo Phạm Tiến Đ1 số tiền 21.600.000 đồng, truy thu đối với bị cáo Hoàng Văn K số tiền 3.610.000 đồng và truy thu đối với bị cáo Nguyễn Mạnh H1 số tiền 16.000.000 đồng, đây là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc để sung quỹ nhà nước.

c) Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật./.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện H, tỉnh H.

Các bị cáo thực hiện quyền nói lời sau cùng trước khi HĐXX nghị án: Các bị cáo biết hành vi của bị cáo thực hiện là vi phạm pháp luật, các bị cáo bị truy tố, xét xử là đúng, các bị cáo rất hối hận và ăn năn về hành vi vi phạm của mình. Các bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt, hưởng khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thấy rằng: Điều tra viên, Kiểm sát viên, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố

tụng hình sự. Các bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án của Điều tra viên, kiểm sát viên đều hợp pháp.

[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, một số có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, một số vắng mặt không có lý do, tuy nhiên họ đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng và không có yêu cầu, đề nghị gì về phần dân sự. Xét thấy, những người này đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Trên cơ sở ý kiến của Kiểm sát viên và xét thấy sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Do đó, căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định vẫn tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[3] Về nội dung:Trong quá trình điều tra và truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã nêu, lời khai nhận tội của các bị cáo thống nhất, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, các biên bản khám xét; các lời khai, biên bản hỏi cung; lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; lời khai người làm chứng. Hành vi phạm tội của các bị cáo còn được chứng minh qua biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Ngày 03/8/2024, bị cáo Hoàng Thị T, sinh năm 1964, trú tại tổ B, thị trấn Y, huyện B, tỉnh H đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề với Lý Văn T4, sinh năm 1999, trú tại thôn G L, xã N, huyện H, tỉnh H; Bôn Kim N2, sinh năm 1998, trú tại thôn F S, xã N, huyện H, tỉnh H với tổng số tiền là: 5.050.000đ (năm triệu không trăm năm mươi nghìn đồng). Sau đó, T chuyển toàn bộ số lô, số đề và tiền đánh bạc của T4, N2 cho bị cáo Phạm Tiến Đ1, sinh năm 1991 trú tại tổ B, thị trấn Y, huyện B, tỉnh H (con trai bị cáo T).

Về hành vi đánh bạc của bị cáo Phạm Tiến Đ1 thể hiện qua 02 ngày cụ thể sau:

+ Ngày 03/8/2024, bị cáo Phạm Tiến Đ1 đánh bạc bằng hình thức ghi số đề với Nguyễn Đức C, sinh năm 1997, trú tại thôn N, thị trấn Y, huyện B, tỉnh H với số tiền là 350.000₫ (Ba trăm năm mươi nghìn đồng). Tổng số tiền bị cáo Phạm Tiến Đ1 đánh bạc với bị cáo Hoàng Thị T, Nguyễn Đức C là 5.400.000₫ (Năm triệu bốn trăm nghìn đồng).

+ Ngày 11/9/2024, bị cáo Phạm Tiến Đ1 đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề với Hoàng Thị T, bị cáo Hoàng Văn K, sinh năm 1980, trú tại thôn N, thị trấn Y, huyện B, tỉnh H; bị cáo Nguyễn Mạnh H1, sinh năm 1995, trú tại tổ A, thị trấn Y, huyện B, tỉnh H với tổng số tiền là: 35.810.000₫ (Ba mươi lăm triệu tám trăm mười nghìn đồng).

- Bị cáo Hoàng Văn K đánh bạc với bị cáo Phạm Tiến Đ1 là: 7.050.000₫ (Bảy triệu không trăm năm mươi nghìn đồng).

- Bị cáo Nguyễn Mạnh H1 đánh bạc với bị cáo Phạm Tiến Đ1 là: 27.500.000₫ (Hai mươi bảy triệu năm trăm nghìn đồng).

Vì vậy, Cáo trạng Viện kiểm nhân dân huyện H, tỉnh H đã truy tố các bị cáo Phạm Tiến Đ1, Hoàng Thị T, Hoàng Văn K, Nguyễn Mạnh H8 tội “Đánh bạc” quy

định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[4] Đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo thấy rằng:

Trong vụ án này Hội đồng xét xử xét thấy, đối với hành vi đánh bạc giữa các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tội phạm do các bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân gây ra các loại tội phạm khác làm ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Vì vậy cần có mức hình phạt phù hợp, đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Xong đây là vụ án đồng phạm giản đơn, thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng, các bị cáo cùng nhau thống nhất việc đánh bạc được thua bằng số lô, số đề. Khi xem xét áp dụng hình phạt đối với các bị cáo cần xem xét vai trò, nhân thân, tình tiết tăng nặng, các tình tiết giảm nhẹ của từng bị cáo.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phạm Tiến Đ1 bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Về nhân thân, vai trò và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự. Các bị cáo đều có nơi cư trú rõ ràng, ổn định.

Bị cáo Phạm Tiến Đ1 là người trực tiếp bán số lô số đề cho Hoàng Thị T, Nguyễn Đức C ngày 03/8/2024 với tổng số tiền là: 5.400.000 đồng và Đ1 bán số lô, số đề cho Hoàng Thị T, Hoàng Văn KNguyễn Mạnh H1 ngày 11/9/2024 với tổng số tiền là: 35.810.000đ (Ba mươi lăm triệu tám trăm mười nghìn đồng), nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng phạm tội hai lần trở lên và giữ vai trò chính trong vụ án (Các lần phạm tội đều là tội ít nghiêm trong ). Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm, gia đình có hoàn cảnh khó khăn bị cáo là lao động chính trong gia đình, đây là những tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy, cần xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo để bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật.

Các bị cáo Hoàng Văn K, Nguyễn Mạnh H1, Hoàng Thị T là người trực tiếp tham gia đánh bạc nên giữ vai trò là người thực hành trong vụ án.

Bị cáo Hoàng Thị T trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo còn được được tặng nhiều bằng khen, giấy khen trong các năm 2009, 2014, 2015, 2016, 2019, 2021 và 2023, bản thân bị cáo T mắc bệnh mãn tính tiểu đường, đái tháo đường và là con của người có công với cách mạng nên được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Hoàng Văn K phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Nguyễn Mạnh H1 phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối

cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[7] Về hình phạt: Trên cơ sở xem xét toàn diện về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, vai trò, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo như đã phân tích trên. Đồng thời căn cứ hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi bổ sung một số điều của Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP, xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho các bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung, thể hiện tính nhân văn, nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa xét thấy các bị cáo đều là lao động tự do, không có thu nhập ổn định, hoàn cảnh gia đình khó khăn, đều còn nợ tiền ngân hàng, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[9] Về các tình tiết khác liên quan tới vụ án: Quá trình điều tra còn xác định được, trong khoảng thời gian từ đầu tháng 01/2024 đến ngày 13/9/2024 (trừ ngày 03/08/2024 và ngày 11/9/2024), Phạm Tiến Đ1, Hoàng Thị T, Hoàng Văn K còn đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề với Lý Văn T4, sinh năm 1999, trú tại thôn G L, xã N, huyện H, tỉnh H; Bôn Kim N2, sinh năm 1998, trú tại thôn F S, xã N, huyện H, tỉnh H; Mương Trọng T5, sinh năm 1977, Phạm Thị Thanh H4, sinh năm 1975, cùng trú tại tổ A, thị trấn Y, huyện B, tỉnh H; Đinh Văn P, sinh năm 1971, Lã Trung Đ2, sinh năm 1991, cùng trú tại tổ B, thị trấn Y, huyện B, tỉnh H; Xì Thị H5, sinh năm 1974, trú tại tổ C, thị trấn Y, huyện B, tỉnh H; Nông Văn T6, sinh năm 1991, Đinh Thị H6, sinh năm 1986, Dương Văn K1, sinh năm 1979, cùng trú tại tổ D, thị trấn Y, huyện B, tỉnh H; Hoàng Quang H7, sinh năm 1975, trú tại tổ E, thị trấn Y, huyện B, tỉnh H; Chu Văn M1, sinh năm 1983, Nguyễn Đức C, sinh năm 1997, cùng trú tại thôn B, thị trấn Y, huyện B, tỉnh H; Nguyễn Chí H3, sinh năm 1976, Vũ Mạnh D, sinh năm 1972, cùng trú tại thôn N, xã L, huyện B, tỉnh H. Tuy nhiên, số tiền sử dụng đánh bạc trong từng ngày của T, Đ1 với những người chơi từ đầu tháng 01/2024 đến ngày 13/9/2024 (trừ ngày 03/08/2024 và ngày 11/9/2024) đều dưới 5.000.000đ và Đ1, T, K, T4, N2, T5, H4, P, Đ2, H5, T6, H6, K1, H7, M1, H3, D, C chưa bị xử phạt vi phạm hành chính hay kết án về các tội liên quan đến hành vi đánh bạc nên không phải chịu trách nhiệm hình sự. Trưởng Công an huyện H đã ra các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Tiến Đ1, Hoàng Thị T, Hoàng Văn K, Lý Văn T4, Bôn Kim N2, Mương Trọng T5, Phạm Thị Thanh H4, Đinh Văn P, Lã Trung Đ2, Xì Thị H5, Nông Văn T6, Đinh Thị H6, Dương Văn K1, Hoàng Quang H7, Chu Văn M1, Nguyễn Chí H3, Vũ Mạnh D, Nguyễn Đức C là đúng quy định của pháp luật.

Phạm Tiến Đ1 còn khai nhận, sau khi mua bán số lô, số đề với Hoàng Thị T, Hoàng Văn K, Nguyễn Mạnh H1, Đ1 đã sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu

nhãn hiệu Redmi 9T màu xanh lam đăng nhập vào tài khoản Telegram mang tên “Alo Alo” đăng ký bằng số thuê bao 0979772691 nhắn tin chuyển số lô, số đề đã mua bán vào Tài khoản Telegram mang tên “sss” đăng ký bằng số thuê bao 0347366592 của Nguyễn Văn C1, sinh năm 1991, trú tại tổ A, phường M, thành phố H, tỉnh H để hưởng tiền hoa hồng nhưng C1 không thừa nhận. Tuy nhiên, qua kiểm tra dữ liệu điện tử không thể hiện Đ1 chuyển số lô, số đề cho C1. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đã tiến hành xác minh làm rõ chủ số thuê bao 0347366592 là của Đinh Công T7, sinh năm 1998, trú tại tổ A, phường M, thành phố H, tỉnh H. Quá trình điều tra, T7 khai nhận sử dụng số thuê bao 0347366592 từ khoảng tháng 07/2024, T7 sử dụng được khoảng 03 ngày bị rơi mất điện thoại gắn sim số thuê bao 0347366592 và không đăng ký sử dụng lại số thuê bao trên. T7 không quen biết và chưa từng gặp Phạm Tiến Đ1Nguyễn Văn C1 lần nào. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H tiếp tục điều tra, xác minh khi có đủ căn cứ sẽ xử lý đối với Nguyễn Văn C1 sau.Còn Đinh Công T7 không liên quan đến vụ án nên không xem xét xử lý.

[10] Vật chứng vụ án:

- 01 mảnh giấy màu trắng, kích thước 10cm x 15cm, một mặt ghi các ký tự số, là số lô, số đề; 03 mảnh giấy là một phần của tờ lịch, một mặt ghi các ký tự số, là số lô, số đề đã lưu trong hồ sơ vụ án.

- 01 (một) điện thoại di động ViVo 2015, màu xanh bên trong gắn sim số thuê bao: 0397394644; 01 (một) điện thoại di động OPPO C12, màu xanh bên trong gắn sim số thuê bao: 0399440711; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng mặt lưng màu vàng, nhãn hiệu OPPO 38, bên trong gắn sim số thuê bao: 0977161103; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Redmi 9T màu xanh lam; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Redmi Note 12 màu nâu đen, bên trong gắn sim số thuê bao: 0979772691; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu ViVo mặt lưng màu vàng, bên trong gắn sim số thuê bao: 0358190223; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng mặt lưng màu đen nhãn hiệu Iphone 11, bên trong gắn sim số thuê bao: 0348142166; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng mặt lưng màu trắng, nhãn hiệu Samsung Glaxy A30S, bên trong gắn sim số thuê bao: 0865359353 và 0857359353 (tất cả đã qua sử dụng) đã chuyển sang Chi cục thi hành án dân sự huyện H để xử lý theo quy định.

Xét thấy những vật chứng này là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội còn giá trị sử dụng nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.

Truy thu đối với bị cáo Phạm Tiến Đ1 số tiền 21.600.000₫ (Hai mươi mốt triệu sáu trăm nghìn đồng), truy thu đối với bị cáo Hoàng Văn K số tiền 3.610.000đ (Ba triệu sáu trăm mười nghìn đồng) và truy thu đối với bị cáo Nguyễn Mạnh H1 số tiền 16.000.000đ (Mười sáu triệu đồng), đây là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc để sung quỹ nhà nước.

[11] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định

[12] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo: Phạm Tiến Đ1, Hoàng Thị T, Hoàng Văn K, Nguyễn Mạnh H1 phạm tội “Đánh bạc”.
    1. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, t khoản 1, khoản 2 Điều 51;điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự;
      • Xử phạt: Bị cáo Phạm Tiến Đ1 24 (Hai mươi tư) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 48 (Bốn mươi tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    2. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự;
      • Xử phạt bị cáo Hoàng Thị T 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    3. Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự;
      • Xử phạt: Bị cáo Hoàng Văn K 14 (Mười bốn) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 28 (Hai mươi tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
      • Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh H1 20 (Hai mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 40 (Bốn mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Tiến Đ1, Hoàng Thị T, Hoàng Văn K, Nguyễn Mạnh H1 cho Ủy ban nhân dân thị trấn Y, huyện B, tỉnh H nơi các bị cáo cư trú để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp cùng với Ủy ban nhân dân thị trấn Y trong việc giám sát, giáo dục người đó.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo vắng mặt, thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

  1. Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
  2. Về biện pháp ngăn chặn: Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự hủy bỏ biện pháp bảo lĩnh đối với các bị cáo.
  3. Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
    • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước gồm: 01 (một) điện thoại di động ViVo 2015, màu xanh bên trong gắn sim số thuê bao: 0397394644; 01 (một) điện thoại di động OPPO C12, màu xanh bên trong gắn sim số thuê bao: 0399440711; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng mặt lưng màu vàng, nhãn hiệu OPPO 38, bên trong gắn sim số thuê bao: 0977161103; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Redmi 9T màu xanh lam; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu Redmi Note 12 màu nâu đen, bên trong gắn sim số thuê bao: 0979772691; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng nhãn hiệu ViVo mặt lưng màu vàng, bên trong gắn sim số thuê bao: 0358190223; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng mặt lưng màu đen nhãn hiệu Iphone 11, bên trong
    • gắn sim số thuê bao: 0348142166; 01 (một) điện thoại di động màn hình cảm ứng mặt lưng màu trắng, nhãn hiệu Samsung Glaxy A30S, bên trong gắn sim số thuê bao: 0865359353 và 0857359353 (tất cả đã qua sử dụng).

(Tình trạng đặc điểm chi tiết của các vật chứng theo biên bản bàn giao giữa Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện H, ngày 21/01/2025)

  • Truy thu đối với bị cáo Phạm Tiến Đ1 số tiền 21.600.000 đồng (Hai mươi mốt triệu sáu trăm nghìn đồng), truy thu đối với bị cáo Hoàng Văn K số tiền 3.610.000 đồng (Ba triệu sáu trăm mười nghìn đồng) và truy thu đối với bị cáo Nguyễn Mạnh H1 số tiền 16.000.000 đồng (Mười sáu triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  1. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phạm Tiến Đ1, Hoàng Thị T, Hoàng Văn K, Nguyễn Mạnh H1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  2. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ Luật tố tụng hình sự; Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh H;
  • - VKSND tỉnh H;
  • - Sở tư pháp tỉnh H;
  • - Cơ quan THAHS CA tỉnh H:
  • - VKSND huyện HSP;
  • - UBND Thị trấn Y, huyện B;
  • - Các Bị cáo; người có QLNVLQ;
  • - Chi cục THADS huyện HSP;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH H về đánh bạc (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 04/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN H, TỈNH H
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Tiến Đ và đồng phạm phạm tội Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger