Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 04/2025/HS-PT

Ngày: 13 – 02 – 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Tấn

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hương

Bà Châu Minh Nguyệt

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phái - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Dương Thục Trinh - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bạc Liêu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 123/2024/TLPT-HS ngày 08 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Mã Tứ L và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo Mã Tứ L, Trần Thị T, Huỳnh Thị Mỹ H, Trần Mỹ X và Phạm Bảo T1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 94/2024/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

- Bị cáo có kháng cáo:

  1. Mã Tứ L, sinh ngày 10 tháng 9 năm 1983 tại Bạc Liêu.

    Nơi cư trú: Khóm E, Phường B, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Hoa; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mã C và bà Trang Thị T2; tiền án, tiền sự: không. (Vắng mặt)

    - Người bào chữa cho bị cáo: ông Lê Hữu V - là Luật sư của Công ty L4 thuộc Đoàn Luật sư Thành Phố H. (Vắng mặt)

  2. Trần Thị T, sinh ngày 29 tháng 10 năm 2001 tại Bạc Liêu.

    Nơi cư trú: ấp X, thị trấn C, huyện V, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H1 và bà Đoàn Thị L1; tiền án, tiền sự: không. (Có mặt)

  3. Huỳnh Thị Mỹ H, sinh ngày 06 tháng 6 năm 1963 tại Cà Mau.

    Nơi cư trú: số G, Khóm H, Phường C, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn B và bà Nguyễn Thị Mỹ L2; có chồng và 02 con; tiền án, tiền sự: không. (Có mặt)

  4. Trần Mỹ X, sinh ngày 20 tháng 8 năm 1986 tại Bạc Liêu.

    Nơi cư trú: số A, KDC T, Khóm A, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn D và bà Lê Thị Mỹ L3; có chồng và 01 con; tiền án, tiền sự: không. (Có mặt)

  5. Phạm Bảo T1, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1960 tại Cà Mau.

    Nơi cư trú: số G, Khóm B, Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: tài xế; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn Q và bà Huỳnh Thị N; có vợ và 03 con; tiền án, tiền sự: không. (Có mặt)

Ngoài ra vụ án còn có bị cáo Khổng Thanh T3 và bị cáo Hồ Văn H2 không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 02 tháng 11 năm 2022 đến ngày 25 tháng 3 năm 2023, các bị cáo đã có hành vi đánh bạc thắng thua bằng tiền dưới hình thức ghi số đề, trong đó:

  1. Bị cáo Mã Tứ L: 47 lần nhận phơi số đề từ những người khác và 09 lần giao phơi số đề cho bị cáo T3, với mỗi lần số tiền đánh bạc đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự, trong 47 lần này số tiền thấp nhất là 5.050.000₫ và cao nhất là 99.550.000₫.

  2. Bị cáo Khổng Thanh T3: đã 09 lần nhận phơi số đề từ bị cáo L, với mỗi lần số tiền đánh bạc đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự, trong 09 lần này số tiền thấp nhất là 6.357.500₫ và cao nhất là 69.340.000₫

  3. Bị cáo Trần Thị T: nhận phơi số đề của bị cáo H và những người khác và sau đó giao phơi số đề cho bị cáo L, bị cáo H2 và người tên T4, tổng cộng 37 lần có số tiền đánh bạc đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự, trong 37 lần này số tiền thấp nhất là 6.000.000₫ và cao nhất là 99.550.000₫.

  4. Bị cáo Huỳnh Thị Mỹ H: tự đặt và nhận số đề từ người khác sau đó thông qua bị cáo T để đặt số đề với bị cáo L, bị cáo H2, 03 lần số tiền đánh bạc đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự, gồm:

    • Ngày 24 tháng 3 năm 2023: đài Trà Vinh số tiền đánh bạc là 23.600.000₫ và đài Miền B số tiền đánh bạc là 15.590.000₫
    • Ngày 25 tháng 3 năm 2023: đài Hậu Giang số tiền đánh bạc là 21.950.000₫.
  5. Bị cáo Hồ Văn H2: 03 lần nhận phơi số đề từ bị cáo T, với mỗi lần số tiền đánh bạc đủ định lượng truy cứu trách nhiệm hình sự, gồm:

    • Ngày 24 tháng 3 năm 2023: đài Trà Vinh số tiền đánh bạc là 23.600.000₫ và đài Miền B số tiền đánh bạc là 18.350.000₫.
    • Ngày 25 tháng 3 năm 2023: đài Hậu Giang số tiền đánh bạc là 26.150.000₫.

    Bị cáo Trần Mỹ X: 01 lần tham gia đặt số đề với bị cáo L vào ngày 08 tháng 02 năm 2023, với số tiền đánh bạc là 6.400.000₫.

  6. Bị cáo Phạm Bảo T1: 18 lần tham gia đặt số đề với bị cáo L, trong đó có 01 lần vào ngày 02 tháng 11 năm 2022 với số tiền bằng hoặc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự là 5.050.000₫.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 94/2024/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu, đã quyết định:

  1. Tuyên bố các bị cáo Mã Tứ L phạm tội “Đánh bạc”.

  2. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Mã Tứ L 03 (ba) năm tù; xử phạt bị cáo Khổng Thanh T3 03 (ba) năm tù.

  3. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Trần Thị T 03 (ba) năm tù.

  4. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 36 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Hồ Văn H2 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ.

  5. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Mỹ H 06 (sáu) tháng tù.

  6. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54 của Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Trần Mỹ X 03 (ba) tháng tù; xử phạt bị cáo Phạm Bảo T1 03 (ba) tháng tù.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm:

Vào ngày 18, 20, 23, 24 tháng 9 năm 2024 các bị cáo có kháng cáo như sau: bị cáo L kháng cáo xin được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền; bị cáo T, bị cáo H, bị cáo X, bị cáo T1 kháng cáo xin được hưởng án treo.

Đến ngày 04 tháng 02 năm 2025, bị cáo L rút toàn bộ kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bạc Liêu phát biểu quan điểm giải quyết vụ án như sau:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự: đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Mã Tứ L.

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự: không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Thị T, Huỳnh Thị Mỹ H, Trần Mỹ X, Phạm Bảo T1 và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.

- Các bị cáo không có ý kiến tranh luận bổ sung và giữ nguyên kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Bị cáo L và người bào chữa cho bị cáo vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 351 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  2. Các bị cáo thừa nhận đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức số đề với mục đích được thắng thua bằng tiền mà không được Cơ quan có thẩm quyền cho phép, với số tiền dùng vào việc đánh bạc trên mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại Điều 321 của Bộ luật Hình sự là phù hợp với quy định của pháp luật.

  3. Bị cáo Mã Tứ L rút toàn bộ kháng cáo, nên Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với phần bị cáo L rút kháng cáo.

  4. Bị cáo T 37 lần, với số tiền từ 5.000.000đ trở lên, trong đó có số tiền đánh bạc cao nhất là 99.550.000đ; bị cáo H tham gia 03 lần, với số tiền từ 5.000.000đ trở lên, trong đó có số tiền đánh bạc cao nhất là 23.600.000đ; bị cáo X tham gia 01 lần, với số tiền đánh bạc là 6.400.000đ; bị cáo T1 tham gia 01 lần, với số tiền từ 5.000.000đ trở lên là 5.050.000đ. Cho nên, bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 của Bộ luật Hình sự; bị cáo H, bị cáo X và bị cáo T1 phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.

  5. Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

    • Bị cáo T và bị cáo H chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự nhưng các bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự do phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tại cấp phúc thẩm, các bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới, tại cấp sơ thẩm chỉ phạt các bị cáo ở mức khởi điểm của khung hình phạt là đã thể hiện chính sách khoan hồng pháp luật đối với các bị cáo. Từ đó, Hội đồng xét xử không có đủ căn cứ và tình tiết để chấp nhận kháng cáo đối với bị cáo T và bị cáo H.
    • Bị cáo T1: mặc dù bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đầu thú theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; nhưng ngoài lần phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì bị cáo còn tham gia nhiều lần khác. Tuy 17 lần khác có số tiền dưới mức truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng qua đó cho thấy bị cáo thường xuyên đánh bạc và được diễn ra hàng ngày. Cho nên, việc cho bị cáo được hưởng án treo sẽ không đảm bảo tính răn đe, giáo dục và ngăn ngừa tội phạm; từ đó Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
    • Bị cáo X: ngoài các tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng tương sự như bị cáo T1, thì bị cáo còn được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là bị cáo có ông N1 là người có công. Ngoài ra, bị cáo chỉ tham gia ghi số đề 1 lần duy nhất vào ngày 08 tháng 02 năm 2023 và không còn lần nào khác; như vậy ngoài lần phạm tội này thì bị cáo luôn có ý thức chấp hành pháp luật. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, do việc không cần phải bắt bị cáo đi chấp hành hình phạt tù và cho bị cáo được hưởng án treo sẽ không gây nguy hiểm cho xã hội và không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự và an toàn xã hội.
  6. Đối với Hồ Văn H2, bản án sơ thẩm áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ là chưa phù hợp, do không có kháng cáo, kháng nghị nên cần rút kinh nghiệm trong quá trình áp dụng pháp luật.

  7. Về án phí hình sự phúc thẩm:

    Bị cáo Trần Thị T phải chịu 200.000đ.

    Bị cáo Huỳnh Thị Mỹ H là người cao tuổi nhưng không có đơn xin miễn án phí, do đó bị cáo vẫn phải chịu 200.000đ.

    Bị cáo Phạm Bảo T1 là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn.

    Bị cáo Mã Tứ L và bị cáo Trần Mỹ X không phải chịu nộp.

  8. Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo của bị cáo Mã Tứ L. Bản án hình sự sơ thẩm số 94/2024/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu có hiệu lực pháp luật về hình phạt đối với bị cáo L kể từ ngày đình chỉ xét xử phúc thẩm.

  2. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Trần Thị T, Huỳnh Thị Mỹ H, Phạm Bảo T1.

    Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Mỹ X.

    Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 94/2024/HS-ST ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bạc Liêu, tỉnh Bạc Liêu.

  3. Tuyên bố các bị cáo Trần Thị T, Huỳnh Thị Mỹ H, Phạm Bảo T1, Trần Mỹ X phạm tội “Đánh bạc”.

  4. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Trần Thị T 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị bắt đi chấp hành án.

  5. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Mỹ H 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị bắt đi chấp hành án.

  6. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Phạm Bảo T1 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị bắt đi chấp hành án.

  7. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 3 Điều 54; Điều 65; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Trần Mỹ X 03 (ba) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm. Thời gian thử thách được tính kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 13 tháng 02 năm 2025).

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân Phường G, thành phố B, tỉnh Bạc Liêu giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  8. Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Buộc các bị cáo Trần Thị T, Huỳnh Thị Mỹ H: mỗi bị cáo nộp án phí hình sự phúc thẩm 200.000đ.

  9. Căn cứ vào Điều 343 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Các phần quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không có liên quan đến kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

  10. Căn cứ vào khoản 2 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

    Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Gửi Viện kiểm sát cùng cấp;
  • - Gửi Cơ quan THA hình sự có thẩm quyền;
  • - Gửi CQĐT, VKS, TA xét xử sơ thẩm;
  • - Gửi nơi đang giam giữ bị cáo (nếu có);
  • - Gửi người kháng cáo;
  • - Gửi người có liên quan đến kháng cáo hoặc kháng nghị (nếu có);
  • - Gửi Cơ quan THA dân sự có thẩm quyền (nếu có);
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Minh Tấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 04/2025/HS-PT ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU về hình sự phúc thẩm (đánh bạc)

  • Số bản án: 04/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẠC LIÊU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sửa án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger