|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST Ngày 30-9-2025 V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Quàng Thị Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Thơm
Bà Lương Thị Diệp;
- Thư ký phiên tòa: Ông Lò Văn Sơm – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Vân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 9 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 09/2025/TLST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2025 giữa các đương sự.
1. Nguyên đơn: Chị Lù Thị L, sinh năm: 1997; Địa chỉ: Bản M, xã K, tỉnh Lai Châu; (Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt).
2. Bị đơn: Anh Hà Văn C, sinh năm: 1992; Địa chỉ: Bản M, xã K, tỉnh Lai Châu; (Vắng mặt không có lý do chính đáng).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 29 tháng 7 năm 2025 và những lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn là chị Lù Thị L trình bày.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Lù Thị L và anh Hà Văn C tự nguyện tìm hiểu, sống chung có đăng ký kết hôn ngày 17/3/2016 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu (nay là Ủy ban nhân dân xã K, tỉnh Lai Châu). Sau khi kết hôn anh chị sinh sống tại bản Mỳ, xã K, tỉnh Lai Châu. Sống chung hạnh phúc đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do khó khăn về kinh tế, chị L phải đi làm ăn xa nhưng anh C không tin tưởng chị L, nhiều lần ghen tuông, đánh đập, xúc phạm chị. Ngoài ra, anh C thường xuyên uống rượu không chịu khó làm ăn, lao động sản xuất khiến cho mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 2 năm 2025 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai. Mâu thuẫn vợ chồng xảy ra đã được hai bên gia đình động viên, hòa giải nhưng không thành. Chị Lù Thị L xác định, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, không thể hàn gắn, tình cảm vợ chồng không còn nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Hà Văn C.
Về nuôi con chung: Trong thời kỳ hôn nhân chị Lù Thị L và anh Hà Văn C có hai con chung chưa thành niên là cháu Hà Thị K, sinh ngày 09/11/2015; Hà Anh D, sinh ngày 24/8/2017. Ly hôn, chị Lù Thị L có yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con chung chưa thành niên và không yêu cầu anh Hà Văn C cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: Chị Lù Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Để chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ, kèm theo đơn khởi kiện chị Lù Thị L đã nộp cho Tòa án: Trích lục kết hôn số 46/TLKH-BS ngày 23/7/2025; bản sao có chứng thực các giấy khai sinh số 32 ngày 30/3/2016, số 131/2017 ngày 20/10/2017, của Ủy ban nhân dân xã T, huyện T (nay là xã K, tỉnh Lai Châu) cấp; bản sao căn cước công dân chị Lù Thị L, anh Hà Văn C và xác nhận nơi cư trú. Việc giao nộp tài liệu chứng cứ đúng thời gian và đúng trình tự, thủ tục.
Trong quá trình giải quyết vụ án, tại các biên bản lấy lời khai bị đơn anh Hà Văn C trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Hà Văn C khẳng định về thời điểm sống chung và đăng ký kết hôn như chị Lù Thị L trình bày là đúng. Anh chị sống chung hạnh phúc đến khoảng 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do chị Lù Thị L đi làm thuê nhưng không gửi tiền nuôi con, không vun vén gia đình mà có mối quan hệ ngoại tình với người khác nên vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. Từ năm 2022 đến nay vợ chồng anh chị đã sống ly thân, không ai quan tâm đến ai, tháng 02 năm 2025 chị L bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại xã C, tỉnh Sơn La. Hai bên gia đình có biết sự việc nhưng chưa gặp nhau tiến hành động viên, hòa giải, bản thân anh Hà Văn C không còn tình cảm với chị L, nếu chị L cương quyết ly hôn thì phải trả cho anh C 50.000.000 đồng tiền sính lễ cưới hỏi thì anh C mới đồng ý ly hôn với chị Lù Thị L.
Về nuôi con chung: Anh Hà Văn C công nhận anh và chị Lù Thị L có hai con chung như chị L trình bày là đúng. Ly hôn, anh Hà Văn C có yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai con chung và yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Hà Thị K số tiền 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi cháu K thành niên (đủ 18 tuổi) không mất năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động. Phương thức cấp dưỡng hàng tháng.
Về chia tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: Anh Hà Văn C không yêu cầu Toà án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án anh Hà Văn C không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì cho Toà án.
Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu đã thụ lý vụ án và xác minh tại nơi cư trú và đại diện hai bên gia đình chị Lù Thị L, anh Hà Văn C xác định: Chị Lù Thị L và anh Hà Văn C sống chung có đăng ký kết hôn năm 2016 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T (nay là xã K, tỉnh Lai Châu). Sau khi kết hôn anh chị sống chung tại bản Mỳ, xã K, tỉnh Lai Châu. Quá trình chung sống anh C, chị L thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng nghi ngờ, không tin tưởng nhau. Mâu thuẫn vợ chồng xảy ra hai bên gia đình có biết nhưng chưa gặp mặt để động viên, hòa giải. Tuy nhiên, từ tháng 02/2025 chị Lù Thị L về nhà bố mẹ đẻ tại bản Pậu, xã C, tỉnh Sơn La sinh sống, từ đó anh chị sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Qua xác minh anh chị đều là lao động tự do với mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương là 45.000.000 đồng/năm (khoảng 3.750.000 đồng/người/tháng). Quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã thông báo về việc thụ lý vụ án, tiến hành hỏi ý kiến con chung chưa thành niên, kết quả: cháu Hà Thị K, Hà Anh D muốn sống cùng bố. Toà án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải cho các đương sự nhưng không thành nên quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên toà, anh Hà Văn C đã được Toà án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng. Chị Lù Thị L vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt nội dung giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ly hôn với anh Hà Văn C, không yêu cầu Toà án giải quyết về tài sản chung và có thay đổi ý kiến về nuôi con chung khi ly hôn: do cả hai con chung đều muốn sống cùng bố nên chị Lù Thị L nhất trí với yêu cầu của anh Hà Văn C, giao cả hai con chung cho anh Hà Văn C trực tiếp nuôi dưỡng. Chị L có trách nhiệm cấp dưỡng cho cháu Hà Thị K mỗi tháng 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi cháu K thành niên (đủ 18 tuổi) không mất năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động. Phương thức cấp dưỡng hàng tháng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Thư ký Tòa án đã tuân thủ theo đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm và đảm bảo đúng nguyên tắc xét xử. Về phía các đương sự: Nguyên đơn, bị đơn từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, Điều 56, Điều 57, 58, 69, 71, 81, 82, 83, 107, 110, 116, 117 Luật hôn nhân và gia đình. Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, Điều 143, khoản 4 Điều 147, Điều 244, Điều 227, Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 2, Điều 1 Luật số 85 /2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hoà giải đối thoại tại Toà án. Điều 39 Bộ luật dân sự; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lù Thị L:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lù Thị L được ly hôn với anh Hà Văn C.
- Về con chung: Ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự:
Giao cho anh Hà Văn C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung chưa thành niên là Hà Thị K, sinh ngày 09/11/2015; Hà Anh D, sinh ngày 24/8/2017 cho đến khi cháu K, cháu D thành niên (đủ 18 tuổi) không mất năng lực hành vi dân sự, có khả năng lao động.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lù Thị L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung chưa thành niên là cháu Hà Thị K với mức cấp dưỡng là 1.500.000 đồng (Một triệu, năm trăm nghìn đồng)/01 tháng cho đến khi cháu K thành niên (đủ 18 tuổi), không mất năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động.
Phương thức cấp dưỡng: Mỗi tháng một lần.
Thời điểm cấp dưỡng: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Hà Thị K thành niên (đủ 18 tuổi) không mất năng lực hành vi dân sự, có khả năng lao động.
Anh Hà Văn C không yêu cầu chị Lù Thị L cấp dưỡng nuôi cháu Hà Anh D nên Toà án không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung, cho vay chung: Do các đương sự không có yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn là chị Lù Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn và án phí cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lù Thị L yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Hà Văn C, cùng tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án xác định quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Hà Văn C có hộ khẩu thường trú tại bản Mỳ, xã K, tỉnh Lai Châu. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu.
[2] Về thủ tục tố tụng: Ngày 25/9/2025, Toà án nhân dân Khu vực 2 - Lai Châu mở phiên toà lần thứ nhất, anh Hà Văn C đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên toà. Ngày 30/9/2025, Tòa án mở lại phiên tòa, anh Hà Văn C đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do chính đáng; chị Lù Thị L có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự.
[3] Về nội dung:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của đương sự, qua xác minh và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án xác định: Chị Lù Thị L và anh Hà Văn C sống chung có đăng ký kết hôn vào ngày 17/3/2016 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu (nay là xã K, tỉnh Lai Châu) trên cơ sở tự nguyện, không bị lừa dối, ép buộc. Như vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị Lù Thị L và anh Hà Văn C là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn anh chị sống chung tại bản Mỳ, xã K, tỉnh Lai Châu. Quá trình chung sống chị L, anh C thường xuyên xảy ra mâu thuẫn nguyên nhân do mâu thuẫn về kinh tế, vợ chồng không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống và nghi ngờ nhau ngoại tình. Từ tháng 02/2025 chị Lù Thị L về nhà bố mẹ đẻ tại bản Pậu, xã C, tỉnh Sơn La sinh sống. Anh C không đồng ý ly hôn và có yêu cầu chị L trả sính lễ cưới hỏi là 50.000.000 đồng, việc trả lại sính lễ khi ly hôn là phong tục tập quán lạc hậu cần vận động xoá bỏ, là yêu sách của cải khi ly hôn thuộc điều cấm của pháp luật do đó không được chấp nhận.
Đại diện gia đình anh Hà Văn C công nhận chị Lù Thị L và anh Hà Văn C có mâu thuẫn từ đầu năm 2024, nguyên nhân do chị L đi làm xa, hai vợ chồng không còn tin tưởng nhau. Chị L đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống từ tháng 02/2025 đến nay. Mâu thuẫn vợ chồng xảy ra hai bên gia đình chưa gặp mặt nhau, động viên hòa giải, chưa thỏa thuận được về sính lễ cưới hỏi. Chị L và anh C có nhà riêng, thời gian ly thân các con chung ở cùng với anh C mọi điều kiện sinh hoạt, học tập được bảo đảm.
Đại diện thôn bản, chính quyền địa phương xác định vợ chồng chị Lù Thị L và anh Hà Văn C có hộ khẩu thường trú tại bản Mỳ, xã K, tỉnh Lai Châu, đều chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, quy định của địa phương. Mâu thuẫn vợ chồng anh chị thôn bản có biết và nhắc nhở, nhưng chưa có ai đề nghị hoà giải, tuy nhiên hiện nay anh chị đã không còn sống chung. Nay chị Lù Thị L có đơn khởi kiện ly hôn đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử nhận định, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Lù Thị L và anh Hà Văn C đã trầm trọng, tình cảm vợ chồng đã rạn nứt không thể hàn gắn, các đương sự đều công nhận có việc cãi vã, xúc phạm nhau, anh C cho rằng chị L ngoại tình nhưng ngoài lời khai không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Các bên đã vi phạm nghĩa vụ vợ chồng như không còn yêu thương nhau, không còn sự tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau cùng chia sẻ, thực hiện các công việc của gia đình và hiện nay anh chị đã ly thân làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Yêu cầu ly hôn của chị Lù Thị L là có căn cứ phù hợp với các quy định tại Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên cần chấp nhận, xử cho chị Lù Thị L được ly hôn với anh Hà Văn C.
[3.2] Về nuôi con chung: Căn cứ các giấy khai sinh số 32 ngày 30/3/2016, số 131/2017 ngày 20/10/2017, của Ủy ban nhân dân xã T, huyện T (nay là xã K, tỉnh Lai Châu) cấp xác định, trong thời kỳ hôn nhân, chị Lù Thị L và anh Hà Văn C có hai con chung chưa thành niên là Hà Thị K, sinh ngày 09/11/2015; Hà Anh D, sinh ngày 24/8/2017.
Xét về điều kiện nuôi con, anh Hà Văn C và chị Lù Thị L đều có nơi cư trú ổn định, có nhà riêng tại bản Mỳ, xã K, tỉnh Lai Châu. Chị Lù Thị L khai là lao động tự do, đi làm thuê có mức thu nhập là 8.500.000 đồng/tháng nhưng không có tài liệu, chứng cứ chứng minh. Do đó, Toà án xác định anh chị có nghề nghiệp là lao động tự do với mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương là 45.000.000 đồng/năm (khoảng 3.750.000 đồng/người/tháng). Qua xác minh, từ khi ly thân đến nay cả hai con chung đang sống cùng anh Hà Văn C, chị Lù Thị L thường xuyên đi làm xa, các con chung sống cùng anh C được đảm bảo các điều kiện mọi mặt về sinh hoạt, học tập.
Tại thời điểm giải quyết vụ án xác định các con chung đã trên 07 tuổi, căn cứ khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, khoản 3 Điều 208 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án nhân dân tiến hành hỏi ý kiến con chung chưa thành niên, kết quả: Cháu Hà Thị K và cháu Hà Anh D muốn sống cùng với bố là anh Hà Văn C.
Do đó, căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con, ý kiến của con chung chưa thành niên và căn cứ vào điều kiện của chị Lù Thị L và anh Hà Văn C trong việc nuôi con sau ly hôn. Hội đồng xét xử nhận định việc chị Lù Thị L thay đổi yêu cầu giải quyết việc nuôi con sau khi ly hôn là có căn cứ phù hợp với nguyện vọng của con chung và ý kiến của anh Hà Văn C nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Giao cho anh Hà Văn C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung chưa thành niên là Hà Thị K, Hà Anh D.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Hà Văn C yêu cầu chị Lù Thị L có trách nhiệm cấp dưỡng cho cháu Hà Thị K mỗi tháng 1.500.000 đồng/tháng cho đến khi cháu K thành niên (đủ 18 tuổi) không mất năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động, phương thức cấp dưỡng hàng tháng. Anh C không yêu cầu chị L cấp dưỡng nuôi cháu Hà Anh D. Tại đơn xin xét xử vắng mặt chị L có ý kiến nhất trí với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của anh Hà Văn C nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.3] Về tài chung và nợ chung, cho vay chung: Do các đương sự không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn là chị Lù Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn và án phí cấp dưỡng theo quy định của pháp luật.
[5] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 – Lai Châu về giải quyết nội dung vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điều 5; Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điều 39; Các Điều 143, 147, Điều 244, 227, 228,238, 266, 267, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Khoản 2, Điều 1 Luật số 85/2025/QH15 ngày 25/6/2025 sửa đổi bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật Hoà giải đối thoại tại Toà án.
- - Điều 39 Bộ luật dân sự năm 2015;
- - Các Điều 51, 53, 56, 57, 58, 81 82, 83, 107, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và đình năm 2014;
- - Điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5, điểm b khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lù Thị L.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lù Thị L ly hôn với anh Hà Văn C.
2. Về nuôi con chung: Giao cho anh Hà Văn C trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung chưa thành niên là Hà Thị K, sinh ngày 09/11/2015 và Hà Anh D, sinh ngày 24/8/2017 cho đến khi cháu K, cháu D thành niên (đủ 18 tuổi) không mất năng lực hành vi dân sự, có khả năng lao động.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Lù Thị L có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung chưa thành niên là cháu Hà Thị K với mức cấp dưỡng là 1.500.000 đồng (Một triệu, năm trăm nghìn đồng)/01 tháng cho đến khi cháu K thành niên (đủ 18 tuổi), không mất năng lực hành vi dân sự và có khả năng lao động.
Phương thức cấp dưỡng: Hàng tháng.
Thời điểm cấp dưỡng: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi cháu Hà Thị K thành niên (đủ 18 tuổi) không mất năng lực hành vi dân sự, có khả năng lao động.
Anh Hà Văn C không yêu cầu chị Lù Thị L cấp dưỡng nuôi cháu Hà Anh D.
Kể từ ngày Quyết định có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án mà người phải thi hành án không thi hành hoặc thi hành không đầy đủ, thì người phải thi hành án còn phải chịu thêm phần lãi suất đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian và số tiền chậm trả theo lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Chị Lù Thị L có nghĩa vụ tôn trọng quyền của các con được sống chung với anh Hà Văn C. Anh Hà Văn C có quyền yêu cầu chị Lù Thị L cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
Chị Lù Thị L có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở, nhưng không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con của người trực tiếp nuôi con.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Lù Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí có giá ngạch về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung. Xác nhận chị Lù Thị L đã nộp tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0000016 ngày 01/8/2025 tại Thi hàn án dân sự tỉnh Lai Châu nay chuyển thành án phí. Chị Lù Thị L còn phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
4. Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thi hành theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Quàng Thị Phương |
Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 04/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - LAI CHÂU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử cho chị Lù Thị L ly hôn với anh Hà Văn C
