|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST Ngày: 28 - 3 - 2025 V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập-Tự do-Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ - TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Thái Quang Thọ
2. Ông Vi Văn Hải
Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thu Hậu – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 134/2024/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2024 về: “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1991
Địa chỉ: Khu E, xã V (nay là xã H), huyện Đ, tỉnh Phú Thọ .
Bị đơn: Anh Trần Văn H, sinh năm 1988
ĐKHKTT: Khu A, xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ
Hiện đang chấp hành án tại: Đ, phân trại số B, trại giam P – Cục C, Bộ C1. (Chị N, anh H đều xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các tài liệu bổ sung, trong quá trình giải quyết vụ án chị Nguyễn Thị N trình bày:
Chị và anh Trần Văn H tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 20/3/2018 tại UBND xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Sau khi cưới, vợ chồng anh chị về chung sống tại khu A, xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Vợ chồng sống hòa thuận hạnh phúc, đến năm 2019 thì anh H đi chấp hành án phạt tù tại Trại giam. Sau khi ra tù, anh H chơi bời cờ bạc, không tu chí làm ăn, chăm lo con cái. Sau đó, anh H lại tiếp tục phạm tội, hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam P, Cục C Bộ C1. Kể từ thời điểm đó, hai vợ chồng chị sống ly thân. Đến nay, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không thể kéo dài thêm. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị N xin được ly hôn với anh H.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là cháu Trần Hoài A, sinh ngày 31/10/2018. Hiện nay cháu A đang ở cùng chị N. Khi ly hôn, chị N xin được nuôi cháu A và không đề nghị anh H cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung, nợ chung, công sức đóng góp: Chị xác định không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Phía bị đơn anh H hiện đang chấp hành án tại trại giam P – Cục C – Bộ C1 nên Tòa án nhân dân thị xã Phú thọ đã ra quyết định ủy thác và đã được Toà án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang tiến hành lấy lời khai và tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng quy định của pháp luật. Anh H xin giải quyết và xét xử vắng mặt, đồng thời, trong biên bản lấy lời khai của Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang anh H trình bày: Anh và chị Nguyễn Thị N tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 20/3/2018 tại UBND xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống, vợ chồng vẫn hạnh phúc dù vợ chồng không sống chung cùng nhau, lâu lâu mới gặp nhau một lần (khoảng 01 năm), do chị N làm việc ở Phú Thọ còn anh làm việc ở thành phố Hồ Chí Minh. Anh không đồng ý ly hôn do anh còn thương vợ, thương con, vợ chồng không có mâu thuẫn gì lớn. Anh mong vợ chồng về đoàn tụ để nuôi con.
Về con chung: Vợ chồng anh có 01 con chung là cháu Trần Hoài A, sinh ngày 31/10/2018. Trường hợp Tòa án xét xử cho ly hôn thì anh đồng ý để chị N tiếp tục nuôi con và anh không cấp dưỡng tiền nuôi con chung do anh còn phải chấp hành án.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh xác định không có, không đề nghị Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ phát biểu quan điểm:
- - Về việc tuân theo pháp luật: Vụ án được thụ lý đúng quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng. Các đương sự chấp hành đúng các quy định của pháp luật.
- - Về nội dung vụ án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điều 51, điều 56, điều 81, điều 82 và điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, đề nghị Hội đồng xét xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- - Về quan hệ hôn nhân: Xử chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Trần Văn H.
- - Về con chung: Chị Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng con chung là cháu Trần Hoài A, sinh ngày 31/10/2018, cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động. Anh Trần Văn H không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở quyền này.
- - Về tài sản chung, công nợ, công sức: Không xem xét giải quyết do các đương sự không yêu cầu.
- - Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí HNGĐ sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tranh chấp ly hôn, con chung giữa chị Nguyễn Thị N và anh Trần Văn H là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Bị đơn anh Trần Văn H có nơi cư trú tại khu A, xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ theo quy định tại khoản 1 điều 28, khoản 1 điều 35 và điểm a khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, chị N đã có bản tự khai trình bày tại Tòa án, anh H vì phải đang chấp hành án tại Trại giam P - Cục C - Bộ C1 nên không đến Tòa án làm việc được nhưng đã có lời khai trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án tại biên bản lấy lời khai của Tòa án huyện T, tỉnh Tiền Giang. Sau đó, Tòa án đã tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, anh H không đến Tòa án để làm việc nhưng anh đã có lời khai và trình bày quan điểm của mình nên Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Chị N, anh H đều xin giải quyết, xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ khoản 1 điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt cả nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
* Về quan hệ hôn nhân, Hội đồng xét xử nhận thấy: Chị N và anh H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn năm 2018 tại UBND xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Quá trình chung sống, anh H chơi bời cờ bạc, không tu chí làm ăn, chăm lo con cái, vợ chồng không ở gần nhau, 01 năm chỉ gặp nhau khoảng 01 lần, do chị N làm việc ở Phú Thọ còn anh H làm việc ở thành phố Hồ Chí Minh, anh H nhiều lần phạm tội, phải đi chấp hành án phạt tù, hiện đang chấp hành án phạt tù tại Trại giam P, Cục C Bộ C1. Anh H không đồng ý ly hôn nhưng cũng không đưa ra được giải pháp để hàn gắn tình cảm của hai vợ chồng do hiện nay anh H đang chấp hành án tại Trại giam P – Cục C, Bộ C1.
Qua xác minh UBND xã V cung cấp: Chị Nguyễn Thị N và anh Trần Văn H có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Chị N và anh H có 01 con chung là cháu Trần Hoài A. Hiện nay chị N và cháu A không còn sống ở xã V, được biết hai mẹ con đã về sống tại nhà bố mẹ đẻ của chị N còn anh H đang chấp hành án tại Trại giam P – Cục C, Bộ C1. Nay chị N xin ly hôn, UBND xã V đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ giải quyết theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.
Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh H mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên việc chị N khởi kiện yêu cầu xin ly hôn anh H là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, cần được chấp nhận.
- Về con chung: Vợ chồng chị N, anh H có 01 con chung là cháu Trần Hoài A, sinh ngày 31/10/2018. Cả chị N và anh H đều nhất trí nếu tòa án xử ly hôn, chị N là người trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung và anh H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Xét thấy, sự thỏa thuận của chị N và anh H phù hợp với quy định của pháp luật cũng như đảm bảo sự phát triển của con, nên cần chấp nhận.
- Về tài sản chung, công nợ, công sức: Chị N và anh H đều xác định không có nên không đề nghị giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[4] Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điều 51, điều 56, điều 81, điều 82 và điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- - Về quan hệ hôn nhân: Xử chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Trần Văn H.
- - Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của chị Nguyễn Thị N và anh Trần Văn H: Chị Nguyễn Thị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con chung là Trần Hoài A, sinh ngày 31/10/2018 cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động. Anh H không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở quyền này.
- - Về tài sản chung, công nợ, công sức: Các đương sự không đề nghị Toà án giải quyết.
- [3] Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng chẵn) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005383 ngày 03/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.
Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7, 7a Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Thị Ngọc Hà |
Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST ngày 28/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ - TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân gia đình
- Số bản án: 04/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/03/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ - TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn