TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc *** |
Bản án số: 04/2025/HNGĐ-ST. Ngày: 27 - 11 - 2025. V/v: Ly hôn, nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Lường Thị Hương; |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Thanh Mai; |
| Bà Lý Thị Vinh. | |
- Thư ký phiên toà: Ông Ngô Trí Danh - Thư ký Toà án khu vực 2 - Sơn La. | |
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Bạc Cầm Hưng - Kiểm sát viên. | |
Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 59/2025/TLST- HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2025/QÐST- HNGĐ, ngày 10 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Anh P; Nơi cư trú: Số nhà X, đường N, tổ A, phường TH, tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
Bị đơn: Anh Nguyễn Anh T; Nơi cư trú: Thôn S, xã TC, tỉnh Sơn La.
Hiện đang bị tạm giam tại: Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 03/10/2025, Bản tự khai, Biên bản ghi lời khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị Anh P trình bày:
Về tình cảm: Chị Nguyễn Thị Anh P và anh Nguyễn Anh T kết hôn với nhau từ ngày 08/6/2016 có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường QT, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La (nay là phường TH, tỉnh Sơn La). Kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hoà hợp, bất đồng trong quan điểm sống. Chị Nguyễn Thị Anh P và anh Nguyễn Anh T đã được hai bên gia đình hoà giải nhưng không thành, hiện nay đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2020 cho đến nay, không ai còn quan tâm đến cuộc sống của ai. Chị Nguyễn Thị Anh P xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị Nguyễn Thị Anh P yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Anh T.
Về con chung: Chị Nguyễn Thị Anh P và anh Nguyễn Anh T có 02 con chung: Cháu Nguyễn Thanh T, sinh ngày: 08/12/2016 và cháu: Nguyễn Cẩm A, sinh ngày 08/01/2021. Nay ly hôn chị Nguyễn Thị Anh P yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu Nguyễn Thanh T, Nguyễn Cẩm A đến khi các cháu trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Nguyễn Thị Anh P không yêu cầu anh Nguyễn Anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung vợ chồng: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về nợ chung: Cam đoan không có.
Tại Bản tự khai bị đơn anh Nguyễn Anh T trình bày:
Về tình cảm: Anh Nguyễn Anh T thừa nhận: Anh Nguyễn Anh T và chị Nguyễn Thị Anh P kết hôn với nhau từ ngày 08/6/2016 có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường QT, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La (nay là phường TH, tỉnh Sơn La). Kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 04 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do không còn tình cảm. Nay chị Nguyễn Thị Anh P yêu cầu ly hôn, anh Nguyễn Anh T nhất trí.
Về con chung: Anh Nguyễn Anh T thừa nhận: Anh Nguyễn Anh T và chị Nguyễn Thị Anh P có 02 con chung: Cháu Nguyễn Thanh T, sinh ngày: 08/12/2016 và cháu: Nguyễn Cẩm A, sinh ngày 08/01/2021. Nay ly hôn anh Nguyễn Anh T nhất trí để chị Nguyễn Thị Anh P được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu Nguyễn Thanh T, Nguyễn Cẩm A đến khi các cháu trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Nguyễn Anh T không có ý kiến gì.
Về tài sản chung vợ chồng: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Biên bản xác minh ngày 03/11/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La về tình trạng hôn nhân của chị Nguyễn Thị Anh P và anh Nguyễn Anh T: Chị Nguyễn Thị Anh P và anh Nguyễn Anh T có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường QT, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La (nay là phường TH, tỉnh Sơn La) từ năm 2016. Kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc. Chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn chính quyền địa phương không rõ. Chị Nguyễn Thi Anh Phương và anh Nguyễn Anh T có hai con, hiện nay các cháu đang sống cùng chị Nguyễn Thị Anh P.
Ý kiến của cháu Nguyễn Thanh T, con chung của chị Nguyễn Thi Anh Phương và anh Nguyễn Anh T: Nguyện vọng của cháu muốn được ở cùng với chị Nguyễn Thị Anh P (mẹ đẻ).
Đơn xin giải quyết của bị đơn anh Nguyễn Anh T trình bày: Hiện nay anh Nguyễn Anh T đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Sơn La, nên không thể trực tiếp tham gia quá trình tố tụng, nên đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt anh Nguyễn Anh T. Ý kiến của anh Nguyễn Anh T về việc giải quyết vụ án như sau: Về tỉnh cảm: Nhất trí, ly hôn với chị Nguyễn Thị Anh P; về con chung: Nhất trí để cả hai cháu Nguyễn Thanh T, Nguyễn Cẩm A cho chị Nguyễn Thị Anh P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành; tài sản chung: Không có; nợ chung: Không có.
Tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Anh P nhất trí không cung cấp tài liệu, chứng cứ gì thêm, không yêu cầu Toà án triệu tập đương sự khác và người tham gia tố tụng khác.
Đơn xin giải quyết vắng mặt ngày 20/11/2025 của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Anh P trình bày do bận công việc, nên không thể có mặt để tham dự phiên toà, chị Nguyễn Thị Anh P đề nghị xét xử vắng mặt. Ý kiến của chị Nguyễn Thị Anh P về việc giải quyết vụ án: Vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Về tình cảm: Yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Anh T; về con chung yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu Nguyễn Thanh T, Nguyễn Cẩm A đến khi các cháu trưởng thành. Không yêu cầu anh Nguyễn Anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung. Tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết. Nợ chung: Cam đoan không có.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Sơn La phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký: Đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Anh P, bị đơn anh Nguyễn Anh T đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70, Điều 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Anh P, anh Nguyễn Anh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án văng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự là có căn cứ.
Về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4, điều 147; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24; khoản 7 Điều 26; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:
Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Anh P được ly hôn với anh Nguyễn Anh T.
Về con chung: Giao Cháu Nguyễn Thanh T, sinh ngày: 08/12/2016 và cháu: Nguyễn Cẩm A, sinh ngày 08/01/2021 cho chị Nguyễn Thị Anh P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Nguyễn Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Nợ chung: Không có, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Anh P khởi kiện ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Anh T có địa chỉ tại xã TC, tỉnh Sơn La. Tòa án nhân dân khu vực 2 - Sơn La thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền, theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Anh P, bị đơn anh Nguyễn Anh T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn chị Nguyễn Thị Anh P, bị đơn anh Nguyễn Anh T.
[2]. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị Anh P và anh Nguyễn Anh T đều thừa nhận: Chị Nguyễn Thị Anh P và anh Nguyễn Anh T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường QT, thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La (nay là phường TH, tỉnh Sơn La) vào ngày 08/6/2016, đúng theo quy định của pháp luật, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống anh, chị phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cãi vã lẫn nhau, đã được hai bên gia đình hoà giải nhiều lần nhưng không thành. Hiện nay chị Nguyễn Thị Anh P và anh Nguyễn Anh T đã sống ly thân từ tháng 4 năm 2020. Biên bản xác minh tình trạng hôn nhân tại chính quyền địa phương xác nhận chị Nguyễn Thị Anh P và anh Nguyễn Anh T có phát sinh mâu thuẫn và hiện nay chị Nguyễn Thị Anh P và anh Nguyễn Anh T đã sống ly thân. Chị Nguyễn Thị Anh P yêu cầu ly hôn anh Nguyễn Anh T nhất trí. Nay xét thấy cuộc sống vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Anh P và anh Nguyễn Anh T tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xử cho chị Nguyễn Thị Anh P được ly hôn với anh Nguyễn Anh T. Căn cứ vào Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[3]. Về con chung:
Chị Nguyễn Thị Anh P và anh Nguyễn Anh T đều thừa nhận có 02 con chung: Cháu Nguyễn Thanh T, sinh ngày: 08/12/2016 và cháu Nguyễn Cẩm A, sinh ngày 08/01/2021. Chị Nguyễn Thị Anh P yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu Nguyễn Thanh T, Nguyễn Cẩm A đến khi các cháu trưởng thành. Anh Nguyễn Anh T nhất trí. HĐXX xét thấy: Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên và cũng phù hợp với ý kiến của cháu Nguyễn Thanh T (con trên 7 tuổi). Do vậy cần chấp nhận. Giao cháu Nguyễn Thanh T, sinh ngày: 08/12/2016 và cháu Nguyễn Cẩm A, sinh ngày 08/01/2021 cho chị Nguyễn Thị Anh P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành. Chị Nguyễn Thị Anh P không yêu cầu anh Nguyễn Anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung, cần được chấp nhận. Sau khi ly hôn anh Nguyễn Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
[4]. Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
[5]. Về nợ chung: Cam đoan không có.
[6]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Anh P phải chịu toàn bộ án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định. Căn cứ khoản 4, điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 1 Điều 24; khoản 7 Điều 26; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4, điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 1 Điều 24; khoản 7 Điều 26; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Anh P được ly hôn với anh Nguyễn Anh T.
2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Anh P và anh Nguyễn Anh T có 02 con chung: Cháu Nguyễn Thanh T, sinh ngày: 08/12/2016 và cháu Nguyễn Cẩm A, sinh ngày 08/01/2021.
Giao Cháu Nguyễn Thanh T, sinh ngày: 08/12/2016 và cháu Nguyễn Cẩm A, sinh ngày 08/01/2021cho chị Nguyễn Thị Anh P được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục đến khi các cháu trưởng thành hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom con không ai được cản trở người đó thực hiện quyền này, không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con.
3. Về cấp dưỡng: Anh Nguyễn Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
4. Về tài sản chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
5. Về nợ chung: Không có.
6. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Anh P phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm là: 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Phòng thi hành án dân sự khu vực 2 - Sơn La theo biên lai thu số: 0000537, ngày 23/10/2025.
7. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Anh P; bị đơn anh Nguyễn Anh T được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết./.
Nơi nhận :
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lường Thị Hương |
Bản án số 04/2025/HNGĐ-ST. ngày 27/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA về ly hôn, nuôi con chung.
- Số bản án: 04/2025/HNGĐ-ST.
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung.
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án hôn nhân gia đình về việc ly hôn, nuôi con chung giữa chị Nguyễn Thị Anh P và anh Nguyễn Anh T
