|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH Bản án số: 04/2025/HNGĐ - ST Ngày: 25/11/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoài Phương.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Thị Nhụ và bà Nguyễn Thị Chung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đỗ Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 11 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 62/2025/TLST-HNGĐ ngày 08/10/2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2025/QĐXXST - HNGĐ, ngày 07/11/2025 và Quyết định hoãn phiên toà số: 21/2025/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Lê Thị H, sinh năm 2000 – vắng mặt;
- Căn cước công dân số: [...]
- HKTT: Số nhà G, Tổ D, khu phố V, phường M, tỉnh Bắc Ninh.
- - Bị đơn: Anh Trần Trọng Đ, sinh năm 1996 – vắng mặt;
- Căn cước công dân số: [...]
- HKTT: Khu phố C, phường Q, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và quá trình làm việc tại Tòa án nguyên đơn trình bày như sau:
Tôi và anh Trần Trọng Đ kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (nay là UBND phường Q, tỉnh Bắc Ninh) ngày 08/07/2024. Sau khi kết hôn, đời sống của tôi rất cô đơn và nhiều nỗi buồn. Mẹ chồng của tôi vào miền N làm ăn, anh Đ thì làm xa, thỉnh thoảng về nhà, tôi thường xuyên phải ở nhà một mình tại khu phố C phường Q. Từ lúc kết hôn đến hiện tại, anh Đ chưa bao giờ đóng góp tiền lương với tôi để lo toan xây dựng gia đình nhưng tôi vẫn làm tròn trách nhiệm làm dâu, mỗi dịp lễ Tết, giỗ chạp đều lo toan đầy đủ hai bên nội ngoại mà không than phiền điều gì. Ngoài ra, anh Đ còn hay so sánh tôi với người khác. Anh Đ còn ăn chơi gây nên nợ nần, tôi cũng không biết rõ hiện tại anh Đ còn nợ bao nhiêu tiền nhưng chính bản thân tôi và mẹ đẻ của tôi đã phải thường xuyên nghe những cuộc điện thoại của chủ nợ gọi thông báo và giục tôi nhắc nhở anh Đ trả nợ, mỗi khi vậy anh Đ đều xin tiền tôi để trả nợ và hứa không tái phạm nhưng sau đâu vẫn vào đấy, không có sự thay đổi. Dịp Tết âm lịch năm 2025, anh Đ có hứa mang tiền về cho tôi để lo toan lễ Tết cho gia đình hai bên nội ngoài nhưng sau đó tôi vẫn một mình tôi cáng đáng. Lúc đó tôi uất ức đã dồn nén lâu nên hai vợ chồng có xảy ra cãi nhau nhưng anh Đ vẫn tỏ ra vô trách nhiệm. Thậm chí để có tiền trả nợ, anh Đ đã về nhà mở két lấy vàng cưới, tiền, trang sức của tôi mà không được sự cho phép của tôi. Lần thứ nhất là vào tháng 3, sau khi phát hiện ra mất vàng trong két mà không có dấu hiệu đột nhập của người lạ, tôi có gặng hỏi anh Đ nhiều lần thì anh Đ thừa nhận đã lấy mang đi bán để có tiền trả nợ, sự việc này làm cho tôi rất thất vọng về nhân cách, đạo đức của chồng và đã khóc rất nhiều. Tôi đã nói rõ sự việc với mẹ chồng, bà cũng chỉ khuyên tôi là cho chồng một cơ hội. Lúc đó anh Đ cũng chỉ xin lỗi và hứa tích cóp lại để sau mua bù cho tôi. Vì là lần đầu và mẹ chồng cũng xin thêm cơ hội nên tôi đã tha thứ cho chồng. Nhưng sau đó anh Đ vẫn không thay đổi mà chỉ đưa ra những lý do quanh co, không đóng góp vào việc xây dựng gia đinh nhà cửa. Đến cuối tháng 5 năm 2025 tôi lại phát hiện mất vàng và tiền trong két lần thứ hai. Tôi có hỏi anh Đ thì anh Đ chỉ trả lời một câu rất lạnh lùng là “Anh lấy!” và không có động thái gì thêm. Lúc đó nhà tôi đang có tang, bà ngoại của tôi mới mất, mẹ đẻ tôi đang rất đau buồn nên tôi nín nhịn chuyện tiền bạc kia để về chăm sóc mẹ. Đến đầu tháng 6 phát hiện mẹ tôi bị ung thư đại tràng, cần phẫu thuật gấp. Tôi ngày đêm túc trực ở bệnh viện để chăm sóc mẹ, anh Đ có về thăm mẹ tôi mấy ngày nhưng cũng chỉ nói chuyện qua loa, thậm chí tôi còn phải bỏ tiền ra lo ăn uống nghỉ ngơi cho anh Đ. Mấy ngày sau thì anh Đ lại viện lý do để mượn tiền tôi, tôi có nói rõ là tiền để dành chi trả viện phí cho mẹ thì anh Đ gắt gỏng nói đang cần gấp, mai sẽ trả lại ngay. Dưới áp lực đấy và vì còn tình yêu, niềm tin với chồng nên tôi đã gửi tiền cho anh Đ. Nhưng đến hẹn trả thì anh Đ chỉ nói rằng không có tiền, thừa nhận lý do lúc đầu là nói dối để tôi nhanh chóng chuyển tiền. Tôi thất vọng tột cùng và khóc rất nhiều nhưng vẫn phải gắng gượng để chăm sóc mẹ tôi đang cơn nguy kịch. Tôi có trình bày mọi việc với mẹ chồng nhưng mẹ chồng chỉ khuyên rằng cho con trai bà ấy một cơ hội nữa. Tôi không đồng ý và đưa ra quyết định ly hôn. Tôi đã thông báo quyết định việc ly hôn này cho anh Đ và hai bên gia đình. Lúc đó anh Đ vẫn chỉ đổ lỗi cho tôi mà không có bất cứ hành động gì để níu giữ mối quan hệ này. Sau đó khoảng đầu tháng 7 năm 2025, tôi có trở lại nhà chồng để thu dọn quần áo, đồ dùng cá nhân để chuyển về quê chăm sóc mẹ đẻ, từ đó đến nay vợ chồng tôi chính thức sống ly thân. Sau khi biết chuyện này thì anh Đ tức giận và đã đe doạ hành hung tôi. Mẹ tôi có bảo anh Đ về nhà tôi nói chuyện, anh vẫn cho rằng lỗi tất cả là do tôi, lúc đó tôi khóc rất nhiều vì thất vọng về chồng mình. Khi tôi báo hẹn ngày lên Toà án để cùng giải quyết việc ly hôn này thì anh Đ không hợp tác, còn tống tiền tôi, muốn tôi đưa tiền thì mới lên Tòa làm việc. Nay tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể hòa hợp về chung sống với nhau, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án cho tôi được ly hôn với anh Trần Trọng Đ.
Về con chung: Chúng tôi không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ, đất ruộng: Vợ chồng tôi không có. Tôi không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về án phí: Tôi tự nguyện chịu toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm.
Bị đơn: Trong quá trình chuẩn bị xét xử, Toà án đã tiến hành liên lạc bằng nhiều phương thức và gửi các văn bản tố tụng như: Thông báo thụ lý vụ án, các Giấy triệu tập, Thông báo về phiên họp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập phiên toà nhiều lần cho anh Trần Trọng Đ tại nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi làm việc của anh Đ và tống đạt các văn bản tố tụng qua người thân của anh Đ cũng như bằng phương tiện điện thoại, anh Đ có nghe điện thoại nhưng từ chối không lên làm việc tại Tòa án, và không có bất cứ văn bản trình bày ý kiến nào gửi về Tòa án về việc xin ly hôn của chị Lê Thị H.
Quá trình giải quyết, Toà án tiến hành xác minh như sau:
- - Bà Nguyễn Thị H1 là mẹ đẻ của chị Lê Thị H trình bày: Tôi tổ chức xây dựng gia đình cho con gái tôi là Lê Thị H và anh Trần Trọng Đ vào tháng 7 năm 2024 theo đúng phong tục địa phương. Sau khi kết hôn, tôi thấy H rất buồn. Hoa hay tâm sự với tôi về việc thường xuyên ở nhà chồng một mình, mẹ chồng và chồng đi làm xa lâu ngày không về thăm nom. Tôi cảm thấy rất thương xót con gái mình nhưng vẫn động viên con làm tròn nghĩa vụ làm vợ, làm dâu để chồng yên tâm công tác. Từ lúc kết hôn đến hiện tại, anh Đ chưa bao giờ đóng góp tiền lương với H để lo toan xây dựng gia đình nhưng H vẫn làm tròn trách nhiệm làm dâu, mỗi dịp lễ Tết, giỗ chạp cháu đều lo toan đầy đủ hai bên nội ngoại mà không than phiền điều gì. Dịp Tết âm lịch năm 2025, một mình H lo toan lễ tết hai bên nội ngoại mà không có sự chia sẻ của chồng. H có kể với tôi về việc Đ về nhà và nhân lúc H vắng nhà mà mở két 2 lần lấy vàng cưới, tiền, trang sức mà không được sự cho phép của vợ. Do gần đây sức khỏe của tôi không tốt, đau ốm thường xuyên, H phải đứng ra lo liệu cho tôi để chữa bệnh đồng thời chuyện vợ chồng không suôn sẻ làm H thất vọng và khóc rất nhiều nhưng vẫn phải gắng gượng để chăm sóc mẹ làm bản thân tôi rất xót xa. Tôi thấy con gái có dấu hiệu tổn thương tâm lý, suy nghĩ tiêu cực nhiều nhưng tôi động viên con cố gắng vượt qua. Sau tất cả sự việc xảy ra, H có trình bày mọi việc với hai bên gia đình và đưa ra quyết định ly hôn. Đối với đơn xin ly hôn của H thì tôi đồng ý vì nhận thấy hai vợ chồng không còn tình cảm với nhau, mâu thuẫn đã kéo dài và không thể sống chung được nữa. Tôi đề nghị Toà án giải quyết chấp yêu cầu khởi kiện ly hôn của Lê Thị H.
- - Bà Nguyễn Thị H2 là bà ngoại của anh Trần Trọng Đ, cùng sinh sống tại khu phố C, phường Q, tỉnh Bắc Ninh cạnh nhà anh Đ và chị H sinh sống trình bày: Tôi là bà ngoại của anh Trần Trọng Đ ở cạnh nhà anh Trần Trọng Đ và chị Lê Thị H. Gia đình tổ chức đám cưới cho chị H và anh Đ từ tháng 7 năm 2024 theo đúng phong tục địa phương, tuy nhiên, trong thời gian sinh sống, tôi có nghe thấy việc cháu Đ ham chơi cờ bạc, diện tử qua mạng và nợ nần nhưng thực chất như thế nào thì tôi không rõ. Hai vợ chồng trẻ không tránh khỏi những mâu thuẫn nhỏ, giận dỗi nhau nhưng tôi chưa thấy vợ chồng đánh cãi chửi nhau bao giờ. Thời gian gần đây, chị H và anh Đ thường xuyên xảy ra những xích mích, anh Đ đi làm xa nhà ít khi về thăm vợ, vì thế nên chị H cũng chuyển về nhà mẹ đẻ ở Quảng Ninh sống mấy tháng nay. Là bà ngoại của anh Đ, tôi biết Đ có những hành vi nông nổi là do tuổi trẻ chưa hiểu biết nhiều nên tôi mong hai vợ chồng tha thứ và quay về bên nhau. Đối với đơn xin ly hôn của chị Lê Thị H, tôi đề nghị Tòa án tiến hành hòa giải để hai cháu quay về ở với nhau, cùng chăm sóc gia đình hai bên, xây dựng tổ ấm, tôi và gia đình không mong muốn việc anh Đ chị H chia tay. Trường hợp hòa giải không thành, tôi đề nghị Tòa án giải quyết đơn xin ly hôn của chị Lê Thị H theo đúng quy định pháp luật.
- - Ông Viêm Trọng T – Trưởng khu phố C, phường Q, tỉnh Bắc Ninh trình bày: Trên cương vị là cán bộ khu phố, ông T chưa nghe thấy hay chứng kiến việc hai vợ chồng chị Lê Thị H và anh Trần Trọng Đ đánh cãi chửi nhau hay xích mích to tiếng cần sự can thiệp của khu phố hay an ninh cơ sở bao giờ. Tuy nhiên, vợ chồng trẻ có những mâu thuẫn nhỏ ấm ỉ trong nội bộ gia đình thì ông không nắm được. Anh Đ và chị H sinh sống tại khu phố C, phường Q, tỉnh Bắc Ninh khoảng một năm nay, thời gian gần đây ông T không thấy chị H nhiều như trước, anh Đ thì thường xuyên đi làm xa không có mặt ở nhà. Đối với đơn yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị H, ông T đề nghị Tòa án tiến hành hòa giải để vợ chồng trẻ suy nghĩ lại quay về sống với nhau, cùng nhau xây dựng gia đình và kinh tế, trường hợp không hòa giải được thì đề nghị Tòa án giải quyết đơn xin ly hôn của chị H theo đúng quy định pháp luật.
Tiến hành xác minh với Công an phường Q, tỉnh Bắc Ninh: Sau khi tra cứu dữ liệu dân cư về cư trú, Công an phường Q xác nhận anh Trần Trọng Đ sinh năm 1996 có hộ khẩu thường trú và cư trú tại khu phố C, phường Q, tỉnh Bắc Ninh.
Đại diện VKSND khu vực 8 – Bắc Ninh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, xác định tư cách pháp lý người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, tư cách pháp lý và thẩm quyền theo quy định của BLTTDS năm 2025; Hội đồng xét xử và Thư ký thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa sơ thẩm dân sự. Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm trước khi mở phiên tòa Nguyên đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại các Điều 70, 71 BLTTDS năm 2025. Bị đơn chưa thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ của bản thân theo quy định tại Điều 70 và 72 BLTTDS năm 2025.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 28, 35, 39, 146, 147, 227, 228, 271, 273, 278 và 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2025; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
- - Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Lê Thị H. Chị Lê Thị H được ly hôn anh Trần Trọng Đ.
- - Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên không giả quyết.
- - Về tài sản chung, công nợ, đất ruộng: Không xem xét giải quyết;
- - Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về tố tụng: Chị Lê Thị H khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn là anh Trần Trọng Đ có hộ khẩu thường trú tại khu phố C, phường Q, tỉnh Bắc Ninh nên quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án này là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 BLTTDS năm 2025.
- [2] Về sự vắng mặt của đương sự: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý, Giấy triệu tập, Thông báo phiên họp tiếp cận – công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập tham gia phiên tòa nhiều lần cho anh Đ. Tuy nhiên anh Đ đều vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản trình bày ý kiến. Chị H có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227 và 228 BLTTDS năm 2025.
- [3] Về nội dung: Chị Lê Thị H và anh Trần Trọng Đ đăng ký kết hôn ngày 08/07/2024 tại UBND phường P, thị xã Q, tỉnh Bắc Ninh (nay là UBND phường Q, tỉnh Bắc Ninh). Trước khi kết hôn chị H và anh Đ được tự do tìm hiểu và kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc, lừa dối nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Về quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh Đ thì thấy: Thời gian đầu khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc. Tuy nhiên, sau một thời gian thì phát sinh những mâu thuẫn nhỏ. Chị H cho rằng những xích mích chủ yếu đến từ việc anh Đ đi công tác không thường xuyên về nhà chăm sóc vợ, bỏ mặc vợ ở nhà một mình thiếu thốn về đời sống tình cảm, cũng như kinh tế gia đình, anh Đ nhiều lần còn lấy đi tài sản tư trang cưới của hai vợ chồng dành dụm mà không có sự đồng ý của chị H. Xác minh từ phía gia đình anh Đ được biết có việc anh Đ tham gia chơi cờ bạc, điện tử qua mạng và nợ nần. Vợ chồng trẻ thường xuyên có những xích mích nhỏ nhặt trong đời sống hàng ngày. Bên cạnh đó, phía nguyên đơn, người nhà bị đơn và địa phương cũng xác nhận chị H và anh Đ hiện đang sống ly thân từ khoảng 3 đến 4 tháng nay, không thấy chị H thường xuyên về nhà như trước, anh Đ cũng đi làm không về nhà. Bên cạnh đó, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành liên lạc với anh Trần Trọng Đ bằng nhiều hình thức và tống đạt các văn bản tố tụng nhưng anh Đ vẫn cố tình không lên làm việc theo giấy triệu tập và đưa ra ý kiến về việc yêu cầu xin ly hôn của chị Lê Thị H, càng cho thấy ý thức bỏ mặc việc giải quyết, không muốn níu giữ và vun đắp cho mối quan hệ hôn nhân này. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng chị H và anh Đ đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân “xây dựng gia đình hòa thuận, tiến bộ, hạnh phúc” không đạt được, cuộc sống chung không thể kéo dài, yêu cầu xin ly hôn của chị H là hoàn toàn phù hợp với thực tế cuộc sống vợ chồng, phù hợp với các quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
- - Về con chung: Vợ chồng chị Lê Thị H và anh Trần Trọng Đ không có con chung nên không yêu cầu giải quyết.
- - Về tài sản và công nợ, đất ruộng: Không yêu cầu giải quyết.
- - Án phí: Chị H phải chịu án phí theo quy định. Xác nhận việc chị H tự nguyện chịu án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 28, 35, 39, 147, 186, 227, 228, 271, 273, 278 và 280 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
- Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị H.
- - Về quan hệ vợ chồng: Chị Lê Thị H được ly hôn anh Trần Trọng Đ.
- - Về con chung: Không đặt ra giải quyết.
- - Về tài sản chung, công nợ, ruộng đất: Không đặt ra giải quyết.
- Án phí: Chị Lê Thị H phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị H đã nộp 300.000đ tạm ứng án phí tại biên lai số BLTU/25E/0001347 ngày 08/10/2025 của THA dân sự tỉnh Bắc Ninh.
- Các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Thị Hoài Phương |
Bản án số 04/2025/HNGĐ - ST ngày 25/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình (ly hôn)
- Số bản án: 04/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình (Ly hôn)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
